Vật liệu
Chiếu cói (chiếu lác)
Chiếu dệt từ thân cói chẻ phơi khô (Cyperus malaccensis, họ Cói Cyperaceae)
Cấu tạo
Chiếu cói dệt từ thân cây cói. Ở Việt Nam, thân cói được chẻ và phơi nắng; chiếu và các sản phẩm khác từ cói Cyperus malaccensis được làm để xuất khẩu [1]. Thân cói cũng dùng làm dây thừng, giỏ, chiếu, mũ và dép [2]. Cói khô hẳn dưới nắng sẽ giòn; PROSEA xếp chiếu Cyperus malaccensis kém bền hơn chiếu từ Fimbristylis umbellaris và giòn hơn nhiều so với chiếu từ Lepironia articulata [1]. Xơ cói là xơ thực vật có lignin và hemicellulose; một nghiên cứu ở Brazil đo khối lượng riêng trung bình của xơ là 0,46 g/cm³ [3].
Trong khí hậu nóng ẩm
Hút ẩm: nghiên cứu xơ cói ở Brazil đo được độ ẩm (moisture content) của xơ là 15,2%, cao hơn xơ dừa, lanh, gai dầu và sisal [3]. Đây là độ ẩm của mẫu xơ chuẩn bị cho vật liệu composite, không phải độ hồi ẩm ở điều kiện chuẩn, nên không so trực tiếp với số của vải. Mốc: chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu đo mốc trên chiếu cói Việt Nam. Nghiên cứu gần nhất là trên mặt chiếu tatami làm từ cây igusa (một loài cây khác) ở Kumamoto, Nhật Bản: nấm mốc không phát triển được khi hoạt độ nước từ 0,6 trở xuống; mốc Aspergillus và Penicillium cần từ 0,8, Mucor và Rhizopus cần từ 0,9; độ ẩm không khí càng cao thì hoạt độ nước của mặt chiếu càng cao [4]. Thử nghiệm ở 25 °C, 90% RH cho thấy mức dễ mốc khác nhau giữa các giống igusa [4]. Mùa nồm ở Hà Nội, độ ẩm không khí có thể lên rất cao nhiều ngày liền, nên chiếu xơ thực vật để lâu dưới nệm hoặc cuộn kín có nguy cơ mốc; đây là suy luận biên tập từ [4].
Thử tại nhà
1) Kiểm tra mốc: lật chiếu, soi mặt dưới và các mép gập dưới ánh sáng mạnh; đốm trắng, xanh, đen hoặc mùi ẩm mốc là dấu hiệu cần phơi hoặc thay. 2) Phơi và cất: phơi chỗ thoáng, tránh để ướt lâu; cất khi đã khô, không cuộn kín trong túi nilon mùa nồm. Nguồn PROSEA cho biết cói phơi khô hẳn dưới nắng sẽ giòn [1], nên phơi nắng gắt nhiều giờ có thể làm chiếu nhanh gãy sợi. 3) Ẩm kế: đặt một ẩm kế điện tử trong tủ cất chiếu để biết lúc nào độ ẩm vượt 80–90%. Giới hạn: ẩm kế đo không khí, không đo hoạt độ nước của chiếu.
Giới hạn
'Chiếu cói hút ẩm, thoáng mát tự nhiên': chúng tôi chưa tìm được số đo nhiệt trở, Ret hay cảm giác mát khi chạm cho chiếu cói trong nguồn mở đã đọc. Độ ẩm 15,2% [3] là của xơ cói trồng ở Brazil, đo cho mục đích composite. Dữ liệu về mốc [4] là của igusa Nhật Bản, một loài khác với cói Việt Nam; chỉ dùng để hiểu cơ chế (mốc phụ thuộc hoạt độ nước). Chiếu 'cói xử lý chống mốc' cần hỏi rõ hóa chất và phép thử; chúng tôi chưa tìm được nguồn mô tả quy trình xử lý chiếu cói Việt Nam.
Nguồn
- PROSEA / Pl@ntUse. Cyperus (PROSEA) — Jansen P.C.M., Aguilar N.O., Nguyen Khac Khoi, Dasuki U.A. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- PROSEA / Pl@ntUse. Cyperus malaccensis (PROSEA) — Nguyen Khac Khoi. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Neuba L.M., Pereira Junio R.F., Souza A.T. và cs. Evaluation of the Change in Density with the Diameter and Thermal Analysis of the Seven-Islands-Sedge Fiber. Polymers 2022;14(17):3687. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Sở Nông lâm thủy sản tỉnh Kumamoto (Nhật Bản), Phòng nghiên cứu igusa. 畳表のカビの発生しやすさはいぐさ品種間で異なる (Mức dễ mốc của mặt chiếu tatami khác nhau giữa các giống igusa). Kết quả nghiên cứu số 831, 5/2018. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30