giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Vật liệu

Màn (mùng) chống muỗi

Màn lưới dệt kim sợi tổng hợp treo quanh giường; màn thường và màn tẩm hóa chất diệt côn trùng (ITN)

Cấu tạo

Màn chống muỗi là tấm lưới treo quanh giường để ngăn muỗi chạm tới người ngủ. Độ dày của lưới thường được nói bằng số lỗ trên một inch vuông (khoảng 6,45 cm²): một nghiên cứu ở châu Phi và châu Á dùng màn mua ở chợ Thái Lan có 220 lỗ/inch², và thử thêm hai màn tẩm hóa chất bền lâu 136 và 200 lỗ/inch² [1]. Màn có nhiều hình dạng và kích thước [3]. WHO gọi màn tẩm hóa chất diệt côn trùng (ITN) là một trong hai biện pháp cốt lõi kiểm soát muỗi truyền sốt rét, cùng với phun tồn lưu trong nhà [2]. WHO cũng nói các loại màn thế hệ mới bảo vệ tốt hơn màn chỉ tẩm pyrethroid [2], và việc muỗi Anopheles kháng hóa chất đang đe dọa hiệu quả của màn [4].

Trong khí hậu nóng ẩm

Gió trong màn: đo ở 20 ngôi nhà tại Thái Lan, Philippines, Gambia và Tanzania, từ 21 giờ đến 6 giờ, màn làm tốc độ gió giảm từ 9 xuống 4 cm/s, tức 52% [1]. Mức giảm theo từng nơi từ 27% (Philippines) đến 71% (Gambia) [1]. Trong hầm gió, 11 loại màn giảm gió trung bình 64% (55–71%); màn 136 lỗ giảm 55%, màn 200 lỗ giảm 59% [1]. Gió giảm nhiều hơn khi lưới dày hơn [1]. Nhiệt độ và độ ẩm: nghiên cứu không thấy khác biệt có ý nghĩa giữa trong và ngoài màn; trung vị cả đêm là 26,0 °C và 70% RH [1]. Như vậy màn làm giảm gió thổi qua da (giảm thải nhiệt bằng đối lưu và bay hơi), chứ không làm không khí trong màn nóng hơn đo được. Tác giả cho rằng khó chịu vì nóng có thể làm người dân ít dùng màn; một tổng quan 22 nghiên cứu ghi nhận khó chịu, chủ yếu vì nóng, là lý do hay gặp nhất để không dùng màn [1]. Tài liệu của WHO cũng liệt kê nhận thức tiêu cực 'nóng và không có không khí lưu thông' [3].

Thử tại nhà

1) Đếm lỗ lưới: đặt thước có vạch mm lên màn, chụp ảnh cận bằng điện thoại, đếm số lỗ trong 1 cm × 1 cm rồi nhân với 6,45 để ra số lỗ/inch². So với các màn trong nghiên cứu (136–220 lỗ/inch²) [1]. 2) Thử gió: bật quạt cách màn 1–2 m, treo một dải giấy ăn mỏng trong và ngoài màn ở cùng độ cao, so độ lay. Phép này cho biết màn cản gió nhiều hay ít, không đo được tốc độ gió. 3) Kiểm tra lỗ rách: soi màn trước đèn, khâu hoặc dán các lỗ lớn. 4) Với màn tẩm hóa chất: làm theo hướng dẫn trên bao bì. Tài liệu WHO năm 2003 khuyên giặt trong chậu, không giặt ở suối để hóa chất không vào nguồn nước, vắt nhẹ, và đeo găng tay khi giặt hoặc tẩm màn [3].

Giới hạn

'Màn thoáng mát', 'màn không cản gió': mọi màn đo được trong nghiên cứu đều giảm gió, từ 27% đến 71% tại nhà [1]. 'Màn làm phòng ngủ nóng hơn': nghiên cứu đo không thấy nhiệt độ hay độ ẩm trong màn khác ngoài màn [1]; cảm giác nóng nhiều khả năng do mất gió. Nghiên cứu chỉ đo ở số đêm hạn chế, nhà do nhóm nghiên cứu chọn, và không hỏi trực tiếp người dùng về cảm giác nóng [1]. Màn tẩm hóa chất: trang này chỉ mô tả cách WHO xếp loại; việc chọn dùng màn tẩm hóa chất ở Việt Nam nên theo hướng dẫn của cơ quan y tế địa phương. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu đo vi khí hậu trong màn ở Việt Nam, và chưa tìm được nguồn mở đã đọc ghi tiêu chuẩn số lỗ lưới của WHO.

Nguồn

  1. von Seidlein L., Ikonomidis K., Bruun R., Jawara M., Pinder M., Knols B.G.J., Knudsen J.B. Airflow attenuation and bed net utilization: observations from Africa and Asia. Malaria Journal 2012;11:200 (đọc toàn văn qua Europe PMC). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  2. WHO. Malaria — Fact sheet. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  3. WHO / Roll Back Malaria. Insecticide-treated mosquito net interventions: a manual for national control programme managers. WHO/CDS/RBM/2002.45 (2003). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  4. WHO Global Malaria Programme. Vector control (trang chương trình). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30