giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Vật liệu

Rèm vải dệt dày, không phủ

Vải rèm dệt dày không tráng phủ, gồm vải dệt nhiều lớp có sợi đen ở giữa (woven blackout/dimout fabric)

Cấu tạo

Vải dệt dày, không có lớp phủ; độ tối đến từ cấu trúc dệt. Szkudlarek và Snycerski (2016) khảo sát 6 vải cản sáng dệt dùng làm rèm khách sạn: sợi filament polyester dún, mật độ sợi cao, hệ sợi dọc hoặc ngang chồng lớp, một mẫu dệt nhiều lớp, và có cách bố trí sợi đen bên trong [2]. Khối lượng 206–315 g/m², dày 0,50–1,60 mm [2]. Một nhà sản xuất vải mô tả cấu trúc dệt ba lớp với mật độ sợi đen tăng ở lớp giữa [3]. Vải rèm dày thông thường không có lớp sợi đen cũng thuộc nhóm dệt không phủ, nhưng cản sáng kém hơn; theo nhà sản xuất này, vải dệt loại dimout thường chặn 98–99,9 % ánh sáng [3].

Trong khí hậu nóng ẩm

Ánh sáng: trong nghiên cứu [2], độ truyền sáng dải 400–700 nm của các vải dệt cản sáng ở mức 0–1 %; một mẫu có đỉnh trên 2 % ở dải đỏ. Diện tích khe hở đếm trên ảnh từ 0 % đến 8,437 % tuỳ mẫu, và phương pháp đo chuẩn không đủ nhạy với chỗ hở cục bộ [2]. Nhiệt: như mọi rèm trong nhà, mức chặn nhiệt phụ thuộc vật liệu và màu (20–60 % theo một bài tổng hợp) [5]; mặt hướng ra kính màu sáng có lợi hơn [6]. Chúng tôi chưa tìm được SHGC đo cho vải dệt dày không phủ. Ẩm và mốc: thành phần sợi quyết định mức hút ẩm của vải: độ hồi ẩm quy ước của polyester 0,4 %, của bông 8,5 % [1]. Rèm bông dày vì vậy giữ ẩm nhiều hơn rèm polyester trong mùa nồm (suy luận biên tập từ [1]). Vải không có màng phủ nên hơi ẩm đi qua được và giặt được cả tấm (suy luận biên tập). EPA khuyến nghị độ ẩm trong nhà dưới 60 % và làm khô đồ bị ướt trong 24–48 giờ [7]; chúng tôi chưa tìm được số đo mốc trên rèm vải.

Thử tại nhà

1) Soi nắng: kéo rèm lúc trời nắng, nhìn mặt vải từ trong phòng. Hạt sáng rải đều là khe giữa các sợi; cụm hở sáng rõ là chỗ dệt thưa [2]. 2) Đọc nhãn thành phần sợi (polyester, bông hay pha). 3) Ban đêm đo độ rọi tại gối như với rèm phủ, so với khuyến nghị melanopic EDI tối đa 1 lux tại mắt [4]; cùng giới hạn về ứng dụng điện thoại. 4) Giặt theo nhãn và phơi khô hẳn trước khi treo lại trong mùa ẩm [7].

Giới hạn

"Vải dệt cản sáng 100 %, không cần phủ": theo nhà sản xuất [3], vải dệt dimout thường chặn 98–99,9 %; mức truyền sáng 0–1 % trong [2] là của 6 vải khách sạn được chọn, không đại diện cho mọi vải rèm dày. Độ dày không đủ để suy ra độ tối: khe hở do cấu trúc dệt quyết định [2]. Các con số về cấu trúc dệt ba lớp [3] là tài liệu nhà sản xuất. Chưa có số đo độ rọi hay melanopic EDI sau rèm thực, nên hồ sơ không ghi chỉ số ánh sáng.

Nguồn

  1. NPTEL (Chương trình học liệu các IIT, Ấn Độ). FAQ Module 14: Moisture in textiles. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  2. Snycerski, M., Szkudlarek, J. (2016). Subjective Interpretation and Objective Evaluation of Blackout Fabric's Barrier Properties. Fibres & Textiles in Eastern Europe, 24, 5(119), 44–49. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  3. Blog kỹ thuật của một nhà sản xuất vải cản sáng (2025). JIS L 1055 vs. AATCC TM203: Light Blocking Test Methods for Blackout Fabrics. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  4. Brown TM và cộng sự (2022), PLOS Biology — khuyến nghị về ánh sáng trong nhà
  5. Roberts T. Window Shades, Blinds, and Awnings. GreenBuildingAdvisor, 27/07/2011. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  6. Arizona Public Service Company. Conserve Energy and Save Money With Shade Screens and Window Coverings (Energy Answers), 1999. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  7. US Environmental Protection Agency (cập nhật 2026). A Brief Guide to Mold, Moisture and Your Home. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30