Vật liệu
Tấm bảo vệ nệm chống thấm
Tấm bọc/lót nệm gồm lớp vải mặt và màng chống thấm polyurethane (PU/TPU) không lỗ hoặc màng vi xốp
Cấu tạo
Tấm bảo vệ nệm chống thấm thường gồm lớp vải mặt (dệt kim, cotton, polyester…) dán với một lớp màng ngăn nước. Màng chống thấm–thoát hơi chia hai loại: màng ưa nước không lỗ, điển hình là PU, và màng kỵ nước vi xốp như PTFE, PVDF, PP [1]. Màng ưa nước không lỗ chuyển hơi nước bằng khuếch tán: phân tử nước hấp phụ ở mặt ẩm rồi đi qua các nhóm ưa nước trong màng [1]. Bài tổng quan không xét riêng TPU như một loại màng khác PU [1]. Bọc nệm dùng cho người dị ứng mạt bụi được thử độ cản phân mạt qua vải, đường may và khóa kéo; trở hơi nước theo ISO 11092 và độ thoáng khí theo ISO 9237 chỉ là phép thử tùy chọn [3].
Tấm bảo vệ nệm: chặn nước lỏng, còn hơi ẩm thì sao
- Nước lỏng (đổ tràn, mồ hôi đọng) bị màng giữ lại trên mặt.
- Màng chống thấm là lớp quyết định; vải mặt chỉ là lớp tiếp xúc.
- Hơi mồ hôi đi qua được đến đâu phụ thuộc trở hơi nước (Ret) của màng; chúng tôi chưa tìm được số đo cho màng dùng trong đồ giường.
Sơ đồ, không theo tỉ lệ.
Trong khí hậu nóng ẩm
Chống thấm và thoát hơi là hai yêu cầu ngược nhau ở mức độ nhất định. Với màng ưa nước, vải cần sát da và tiếp xúc trực tiếp với mồ hôi mới thoát hơi tốt, điều này làm giảm tiện nghi [1]. Với màng vi xốp, lỗ màng dễ bị bẩn và tắc, làm giảm mạnh khả năng thấm hơi [1]. Mức chịu áp lực nước tối thiểu được nêu cho đồ thể thao và áo mưa là 9,8 kPa, kèm tốc độ truyền hơi 5 kg/m²/ngày [1]. Trên tấm lót nệm, màng nằm dưới ga và người nằm đè lên, nên hơi mồ hôi phải qua ga, vải mặt rồi màng; nếu màng cản hơi, hơi ẩm dồn lại giữa lưng và nệm. Đây là suy luận biên tập. Ret: thang Ret phổ biến của ngành quần áo xếp 0–6 là rất thoáng, 6–13 thoáng tốt, 13–20 khá, 20–30 hạn chế và trên 30 là không thoáng [2]; một bài báo nêu Ret ≤ 10 là thấm hơi tốt, dẫn nguồn khác [4]. Chúng tôi chưa tìm được số đo Ret công bố mở cho tấm bảo vệ nệm hoặc màng TPU dùng cho đồ giường.
Thử tại nhà
1) Thử chống thấm: trải tấm lót trên một khăn giấy khô, nhỏ khoảng một thìa nước lên mặt, để 10 phút rồi xem khăn giấy có ướt không. 2) Thử thoát hơi thô: úp tấm lót (mặt màng xuống) lên miệng một cốc nước nóng, chặn kín mép bằng dây chun; sau 15 phút, sờ mặt vải phía trên xem ấm ẩm hay khô, và so với một tấm lót khác cùng điều kiện. Phép này chỉ so sánh tương đối, không đo được Ret. 3) Thử thổi: áp tấm lót lên miệng và thổi; màng không lỗ hầu như không cho khí đi qua. Không thổi được không có nghĩa là không thoát hơi, vì màng ưa nước chuyển hơi bằng khuếch tán [1]. 4) Sau một đêm, sờ ga chỗ lưng: nếu ẩm hơn hẳn so với khi không dùng tấm lót, đó là dấu hiệu tấm lót cản hơi.
Giới hạn
'Chống thấm 100% mà vẫn thoáng khí như vải thường': màng chống thấm không lỗ hầu như không cho không khí đi qua; nó chỉ có thể cho hơi nước khuếch tán [1], và mức thoát hơi phụ thuộc màng, độ dày, độ ẩm hai phía. Thang Ret 0–6/6–13/… [2] là của ngành quần áo, không phải thang riêng cho đồ giường, và các ngưỡng không hoàn toàn thống nhất giữa nguồn [4]. Nhãn hay ghi 'thoáng khí' mà không kèm số Ret hay phép thử. Hohenstein có kiểm tra bọc nệm nhưng phép đo trở hơi nước là tùy chọn và trang tài liệu không nêu ngưỡng [3]. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu mở đo nhiệt độ hay độ ẩm da khi nằm trên nệm có và không có tấm chống thấm.
Nguồn
- Chang Y., Liu F. Review of Waterproof Breathable Membranes: Preparation, Performance and Applications in the Textile Field. Materials 2023;16(15):5339. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Fristads (nhà sản xuất đồ bảo hộ lao động). Standard facts: EN 343 — bảng thang RET về độ thoáng hơi. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Hohenstein. Factsheet: Hypoallergenic Testing of Encasings. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Adámek K, Havelka A, Kůs Z, Mazari A. Correlation of air permeability to other breathability parameters of textiles. Polymers 2022;14(1):140. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30