Chương này hỏi: những nhóm neuron nào ở thân não và hạ đồi giữ cho vỏ não người ở trạng thái thức, mỗi nhóm có bao nhiêu tế bào, và con số đó thay đổi ra sao khi già đi hay khi mắc bệnh thoái hoá thần kinh. Câu trả lời ngắn là: các nhân thức tỉnh đã được đếm trực tiếp trên não người sau tử vong, nhưng các nhóm nghiên cứu cho những con số chênh nhau tới gấp đôi, thậm chí nhiều hơn, chủ yếu vì họ vẽ ranh giới nhân khác nhau, nhuộm những dấu ấn khác nhau và đếm một bên hay hai bên. Điểm vững hơn cả là hướng thay đổi: trong bệnh Alzheimer, nhân lục và nhân củ–núm vú mất phần lớn neuron, còn trong liệt trên nhân tiến triển và thoái hoá vỏ–nền, nhân lục mất khoảng một nửa. Ngược lại, câu hỏi nhân lục có mất neuron chỉ vì tuổi hay không vẫn còn tranh cãi.
Một mạng lưới, nhiều cách đếm#
Hệ thức tỉnh đi lên ở người#
"Hệ thức tỉnh đi lên" (ascending arousal system) là tên chung cho các nhóm neuron nằm rải từ cầu não lên hạ đồi và não trước nền, phóng chiếu lên đồi thị và vỏ não để duy trì trạng thái thức. Mỗi nhóm dùng một chất dẫn truyền chính: noradrenaline ở nhân lục (locus coeruleus, LC), serotonin ở các nhân raphe, histamine ở nhân củ–núm vú (tuberomammillary nucleus, TMN), acetylcholine ở não trước nền và hai nhân thân não là nhân cầu não–cuống não (pedunculopontine nucleus, PPN) và nhân lưng bên trần não (laterodorsal tegmental nucleus, LDT), dopamine ở vùng trần bụng (ventral tegmental area, VTA), cùng nhân cạnh cánh tay (parabrachial nucleus, PB) dùng glutamate. Phần lớn hiểu biết về chức năng của từng nhóm đến từ thí nghiệm trên gặm nhấm; chương này cố tách rõ phần nào đã được đo ở người.
Ở người, có hai dòng bằng chứng cho thấy mạng lưới này tồn tại như một hệ thống chứ không chỉ là tập hợp nhân rời rạc. Thứ nhất, chụp khuếch tán độ phân giải góc cao (high angular resolution diffusion imaging, HARDI) có đối chiếu mô học trên 3 não người trưởng thành (2 trong số đó chụp sau tử vong) đã tái hiện các đường kết nối giống như mô tả ở động vật, và phát hiện các bó nối thân não với đồi thị, hạ đồi và não trước nền (Edlow và cs., 2012). Đây là cỡ mẫu rất nhỏ, nên nó cho thấy giải phẫu có thể quan sát được ở người, chứ chưa cho biết mức độ khác nhau giữa các cá nhân.
Thứ hai, bằng chứng từ tổn thương. Một tổng quan trên tạp chí Neuron ghi nhận rằng tổn thương vùng nhân cạnh cánh tay gây hôn mê hoặc trạng thái thực vật kéo dài ở cả động vật và người (Scammell và cs., 2017). Ở người, một nghiên cứu lập bản đồ tổn thương–triệu chứng theo voxel đã so 12 tổn thương thân não gây hôn mê với 24 tổn thương không gây hôn mê, và xác định một vùng nhỏ ở phần lưng bên, phía đầu của trần cầu não liên quan đặc hiệu với hôn mê; luận văn của cùng tác giả mô tả vùng này ở trần cầu não trái, gần nhân cạnh cánh tay trong (Fischer và cs., 2016). Dùng dữ liệu MRI trạng thái nghỉ của 98 người khoẻ, nhóm này thấy vùng gây hôn mê và từng tổn thương gây hôn mê đều kết nối chức năng với thuỳ đảo trước và vỏ đai trước gối (pregenual anterior cingulate cortex); kết nối này bị gián đoạn ở 51 bệnh nhân rối loạn ý thức so với 21 người đối chứng (Fischer, 2016). Cần nhớ đây là bằng chứng tương quan về vị trí tổn thương và kết nối, không phải kích thích hay ghi điện trực tiếp từ nhân cạnh cánh tay ở người.
Hình 1. Các nhân thức tỉnh và nhân thúc đẩy ngủ ở người, kèm số neuron đếm được
- Orexin: 36.842 (trung vị, nhóm Hà Lan, b1-004) đến 88.582 (nhóm UCLA, b1-001). Nhân củ–núm vú: 75.469 (b1-037); một nghiên cứu khác cho 120.455 (b1-038).
- VLPO/nhân trung gian: 4.454 một bên ở người cao tuổi (b1-072) và 13.526 ở đối chứng của nghiên cứu khác (b1-078).
- Nhân lục: 21.084 neuron TH một bên ở người trẻ (b1-044); ước lượng lập thể khác trung bình 48.907 (b1-046). PPN: 72.458 hay 35.842 mỗi nhân tuỳ ranh giới (b1-059, b1-060).
- Kết nối thân não → đồi thị, hạ đồi, não trước nền được tái hiện bằng chụp khuếch tán trên 3 não người (b1-071). Quan hệ ức chế qua lại giữa VLPO và các nhân thức tỉnh ("công tắc lật") là mô hình. Mọi số neuron là đếm trên não người sau tử vong; khoảng chênh phản ánh khác biệt phương pháp và ranh giới nhân.
Sơ đồ vùng, không theo tỉ lệ và không đúng vị trí giải phẫu chính xác.
Vì sao các nhóm cho số neuron khác nhau#
Trước khi đi vào từng nhân, nên hiểu vì sao "số neuron của một nhân" ở người lại là một con số khó thống nhất. Từ các nghiên cứu trong chương này, có thể tách ra bốn nguồn chênh lệch.
- Ranh giới nhân. Nghiên cứu lập thể năm 2025 về nhân cầu não–cuống não là ví dụ rõ nhất: trên cùng 4 não đối chứng, khi lấy ranh giới theo nhóm tế bào cholinergic Ch5, mỗi PPN có trung bình 72.458 ± 5.629 neuron cholinergic; khi lấy ranh giới chất trắng, con số chỉ còn 35.842 ± 769 (Sharma và cs., 2025). Cùng mẫu não, chênh gần gấp đôi chỉ vì cách vẽ đường viền.
- Dấu ấn nhuộm. Một nhân có thể được nhận diện bằng enzyme tổng hợp chất dẫn truyền (tyrosine hydroxylase cho noradrenaline, histidine decarboxylase cho histamine, choline acetyltransferase cho acetylcholine), bằng sắc tố neuromelanin, hay bằng thuốc nhuộm Nissl như gallocyanin vốn bắt mọi neuron. Neuron có thể còn sống nhưng ngừng biểu hiện enzyme, nên phép đếm theo enzyme có thể thấp hơn phép đếm theo hình thái.
- Một bên hay hai bên. Có nhóm báo cáo số cho một nhân bên trái, có nhóm cho mỗi bán cầu, có nhóm cho tổng hai bên. Nếu không đọc kỹ phần phương pháp, người đọc dễ so một con số một bên với một con số hai bên.
- Phương pháp ước lượng và mẫu. Đếm lập thể phân đoạn quang học (optical fractionator) trên chuỗi lát cắt lấy mẫu có hệ thống khác với đếm tế bào trên bản đồ lát cắt cách quãng. Tuổi người hiến não và mức bệnh lý tiềm ẩn (chẳng hạn giai đoạn Braak của bệnh Alzheimer) cũng làm thay đổi giá trị "đối chứng".
Bốn nguồn này giải thích hầu hết các mâu thuẫn trình bày dưới đây. Suy luận của chúng tôi SL: khi so hai con số từ hai phòng thí nghiệm, tỉ lệ thay đổi trong cùng một nghiên cứu (bệnh so với đối chứng) thường đáng tin hơn số tuyệt đối. Nghiên cứu PPN nói trên minh hoạ điều này: số tuyệt đối thay đổi gần gấp đôi theo ranh giới, nhưng mức mất trong bệnh Parkinson gần như không đổi (48% so với 50%).
Nhân lục: noradrenaline#
Bao nhiêu neuron#
Nhân lục là một cột tế bào nhỏ ở sàn não thất tư, phần lớn chứa sắc tố neuromelanin nên nhìn được bằng mắt thường. Hai nghiên cứu đếm ở người cho hai bậc giá trị khác nhau.
Nghiên cứu năm 1995 trên 17 ca từ 1 đến 104 tuổi báo cáo rằng ở người trẻ (1–28 tuổi), một bên nhân lục có 21.084 ± 653 neuron nhuộm tyrosine hydroxylase; ở người 60–82 tuổi còn 16.502 ± 921, và ở người 103–104 tuổi còn 9.493 ± 1.236 neuron chứa sắc tố (Manaye và cs., 1995). Phép đếm dựa trên bản đồ các lát cắt ngang cách quãng. Một chi tiết quan trọng: nhóm trẻ được đếm bằng tyrosine hydroxylase, còn nhóm già được đếm theo tế bào chứa sắc tố, tức hai phép đếm khác nhau được đặt cạnh nhau trên cùng một đường cong tuổi.
Nghiên cứu lập thể năm 2017 trên 63 thân não người (tuổi 62,8 ± 10,3, trải mọi giai đoạn Braak từ 0 đến VI) dùng phân đoạn quang học trên lát cắt nhuộm gallocyanin, đếm nhân lục trái, và cho tổng số tế bào từ 6.674 đến 137.910, trung bình 48.907; thể tích nhân từ 5,8 đến 21,7 mm³, trung bình 12,8 mm³ (Theofilas và cs., 2017). Trung bình này gộp cả người có và không có bệnh lý Alzheimer, và biên độ giữa các cá nhân rộng hơn gấp hai mươi lần [SL — tính từ hai cực của khoảng].
Như vậy, cả hai con số đều là số một bên, nhưng một bên đếm tế bào dương tính với enzyme trên bản đồ lát cắt ở người trẻ, một bên đếm mọi neuron cỡ trung bình–lớn bằng lập thể ở người trung niên và cao tuổi. Chúng không đo cùng một đại lượng, và không nên lấy trung bình của chúng.
Nhân lục có mất neuron chỉ vì tuổi?#
Nghiên cứu năm 1995 kết luận rằng từ thập niên đầu đến thập niên thứ mười của đời người, nhân lục mất hơn 50% neuron, và mất ưu thế ở phần đầu (phần chiếu lên não trước) hơn phần đuôi (Manaye và cs., 1995). Kết luận này thường được trích như một sự thật của lão hoá. Có ba lý do để thận trọng.
Thứ nhất, như đã nói, nhóm trẻ và nhóm già được đếm bằng hai dấu ấn khác nhau. Thứ hai, ở khỉ rhesus, tổng số neuron nhân lục không giảm theo tuổi: khoảng 47.700 ở khỉ non và 53.200 ở khỉ già (19 khỉ, đếm lập thể), trong khi số neuron chứa sắc tố tăng mạnh theo tuổi, từ khoảng 1.600 lên 10.600 (Pakkenberg và cs., 1999). Một nghiên cứu khỉ rhesus năm 2025 cũng thấy số tế bào chứa noradrenaline ở nhân lục ổn định theo tuổi dù thể tích phần giữa nhân nhỏ đi (McDermott và Barnes, 2025). Đây là dữ liệu khỉ, không phải người, nhưng nó cho thấy "nhiều sắc tố hơn" và "nhiều neuron hơn" là hai chuyện khác nhau. Thứ ba, nghiên cứu lập thể năm 2017 ở người thấy thể tích nhân lục giảm 8,4% (1,08 mm³) mỗi khi giai đoạn Braak tăng một bậc, nhưng số neuron chỉ giảm có ý nghĩa từ Braak III, tức mất neuron bắt đầu ở giữa tiến trình bệnh Alzheimer và muộn hơn sự tích tụ tau (Theofilas và cs., 2017). Suy luận của chúng tôi SL: nếu bệnh lý Alzheimer tiền lâm sàng phổ biến ở người cao tuổi, một phần mức mất "do tuổi" trong các mẫu cũ có thể là mất do bệnh chưa được nhận diện.
Hình ảnh học ở người sống bổ sung một góc khác. Trên MRI nhạy neuromelanin của 605 người khoẻ 18–88 tuổi (dữ liệu Cam-CAN), độ tương phản nhân lục có quan hệ bậc hai với tuổi, đạt đỉnh khoảng 60 tuổi, không khác giữa nam và nữ; sự suy giảm sau đỉnh chỉ có ý nghĩa ở phần đầu nhân, không có ý nghĩa khi tính toàn nhân (Liu và cs., 2019). Độ tương phản MRI phản ánh neuromelanin chứ không đếm neuron, nên dữ liệu này không trả lời trực tiếp câu hỏi mất tế bào, nhưng phù hợp với nhận định rằng phần đầu nhân lục dễ tổn thương hơn.
Tóm lại, bằng chứng ở người cho thấy nhân lục mất neuron rõ khi có bệnh lý Alzheimer; còn mức mất do tuổi đơn thuần chưa được đo bằng một phương pháp thống nhất trên toàn khoảng tuổi.
Nhân củ–núm vú: histamine#
Neuron histamine của não chỉ nằm ở nhân củ–núm vú, phần sau hạ đồi. Theo một chương sách dược lý thần kinh năm 1995, chúng phóng điện đều và chậm, hoạt động cao khi thức và chú ý, thấp hoặc ngưng khi ngủ; thụ thể H3 trên chính neuron này gây tự ức chế (Schwartz và cs., 1995). Dữ liệu phóng điện đó đến từ ghi đơn vị ở mèo và vi thẩm tách ở chuột cống, và neuron ghi ở mèo chỉ được nhận diện là "phù hợp" với neuron histamine. Cũng theo chương sách này, chặn thụ thể H3 làm tăng giải phóng histamine và tăng thức tỉnh, còn nhiều thuốc đối kháng H1 gây buồn ngủ vì thụ thể H1 phân bố rộng ở các vùng điều hoà thức tỉnh (Schwartz và cs., 1995).
Bằng chứng ở người cho vế sau đến từ PET. Ở nam giới khoẻ mạnh, dùng chất đánh dấu [11C]doxepin, một nhóm nghiên cứu Nhật Bản thấy thuốc kháng histamine thế hệ hai ebastine chiếm khoảng 10% thụ thể H1 ở vỏ não, trong khi chlorpheniramine (thế hệ một) chiếm từ 50% trở lên ở cả hai mức liều được thử (Tagawa và cs., 2001). Mức chiếm thụ thể H1 trong não liên quan với tác dụng gây buồn ngủ của nhóm thuốc này; đây là nghiên cứu châu Á gần nhất với chủ đề chương mà chúng tôi tìm được.
Bao nhiêu neuron histamine#
Ba nguồn cho ba giá trị ở người bình thường:
- Chương sách năm 1995 ghi khoảng 64.000 neuron histamine ở người, so với khoảng 2.000 ở chuột cống (Schwartz và cs., 1995). Đây là số trích lại; chúng tôi chưa đọc được bài gốc.
- Nhóm UCLA năm 2013 đếm lập thể phân đoạn quang học trên 7 não đối chứng, nhuộm histidine decarboxylase, cho trung bình 75.469 neuron (John và cs., 2013). Chính tác giả coi con số này "tương tự" các báo cáo trước.
- Nhóm Zürich–Stanford cùng năm báo cáo 120.455 ± 10.665 neuron ở 12 người đối chứng (Valko và cs., 2013).
Giá trị của Valko cao gần gấp 1,6 lần giá trị của John. Hai nghiên cứu có thể khác nhau về cách đếm, kháng thể, cách xác định ranh giới nhân củ–núm vú và đặc điểm mẫu (với nghiên cứu của Valko, chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt), và từ dữ liệu đã công bố không thể nói nhóm nào "đúng". Cả hai nghiên cứu được làm để so với người ngủ rũ, và cả hai đều thấy số neuron histamine tăng rõ ở ngủ rũ; phần này được trình bày ở chương 2.
Trong bệnh thoái hoá#
Trong một nghiên cứu lập thể năm 2019 so sánh bệnh Alzheimer, liệt trên nhân tiến triển (progressive supranuclear palsy, PSP) và thoái hoá vỏ–nền (corticobasal degeneration, CBD), tổng số neuron ở nhân củ–núm vú giảm trung bình 62,06% ở bệnh Alzheimer so với đối chứng (p = 0,004), với 5 đối chứng, 6 Alzheimer, 5 PSP và 5 CBD (Oh và cs., 2019). Tỉ lệ neuron còn tổng hợp histidine decarboxylase là 99% ở đối chứng và 79% ở Alzheimer (Oh và cs., 2019), nghĩa là ngoài số neuron mất đi, một phần neuron còn lại không còn biểu hiện enzyme đặc trưng. Đây là một ví dụ cụ thể vì sao phép đếm dựa trên enzyme và phép đếm dựa trên hình thái có thể cho kết quả khác nhau trên cùng một bộ não.
Acetylcholine, serotonin, dopamine và nhân cạnh cánh tay#
Não trước nền#
Theo tổng quan Neuron năm 2017, kích thích não trước nền thúc đẩy thức tỉnh, nên vùng này được cho là giữ vai trò thiết yếu tạo trạng thái thức (Scammell và cs., 2017); bằng chứng trực tiếp chủ yếu từ gặm nhấm. Ở người, phần được đếm nhiều nhất của não trước nền là nhân nền Meynert, nơi chứa neuron cholinergic lớn chiếu lên vỏ não.
Ở người cao tuổi không suy giảm nhận thức trong một đoàn hệ của Rush, nhân nền Meynert có khoảng 210.000 neuron dương tính với choline acetyltransferase (ChAT) và 174.000 neuron dương tính với chất vận chuyển acetylcholine vào túi (VAChT) mỗi bán cầu (Gilmor và cs., 1999). Hai dấu ấn của cùng một hệ cho hai con số khác nhau ngay trong một nghiên cứu.
Về lão hoá, một nghiên cứu năm 1991 thấy nhân nền mất khoảng 50% tổng số neuron đến 90 tuổi, nặng nhất ở phân vùng sau (64,5%), phân vùng trung gian mất 42%, còn phân vùng trước không giảm có ý nghĩa (de Lacalle và cs., 1991). Về bệnh Alzheimer, kết quả vênh nhau rõ. Ở Alzheimer giai đoạn sớm, số neuron cholinergic chỉ giảm khoảng 15%, không có ý nghĩa thống kê, và người suy giảm nhận thức nhẹ không giảm (Gilmor và cs., 1999). Một nghiên cứu cũ hơn trên 22 bệnh nhân Alzheimer lại thấy nhân nền Meynert mất 58% (và nhân lục mất 71%) (Mann và cs., 1984). Lý do khả dĩ SL: các nghiên cứu khác nhau về giai đoạn bệnh (Alzheimer sớm ở nghiên cứu năm 1999; tóm tắt năm 1984 không nêu giai đoạn), dấu ấn nhận diện (enzyme cholinergic so với hình thái) và phân vùng nhân được đếm. Suy luận của chúng tôi SL: mất neuron cholinergic nhân nền có lẽ là biến cố muộn hơn trong bệnh Alzheimer so với điều nhiều sách giáo khoa ngầm định, nhưng cần dữ liệu lập thể theo giai đoạn để khẳng định.
Nhân cầu não–cuống não và nhân lưng bên trần não#
Nghiên cứu năm 2025 nói ở trên là nghiên cứu lập thể duy nhất về neuron cholinergic PPN ở người mà chúng tôi đọc được, và có đếm riêng PPN trái và phải. Với ranh giới Ch5, PPN ở người đối chứng có 72.458 ± 5.629 neuron cholinergic mỗi nhân, và bệnh Parkinson làm giảm 48%, còn 37.383 ± 4.565; với ranh giới chất trắng, con số là 35.842 ± 769 ở đối chứng và 17.936 ± 1.905 ở Parkinson, giảm 50% (Sharma và cs., 2025). Cỡ mẫu là 4 não đối chứng và 4 não Parkinson. Bài báo tự mâu thuẫn về cách gọi (phần Kết quả nói trung bình 7 PPN, phần Bàn luận gọi là "một bên"), nhưng dù thế nào thì đây là số mỗi bên, không phải tổng hai bên.
Cũng nghiên cứu này kiểm tra bất đối xứng: ở người đối chứng, PPN trái và phải không khác biệt có ý nghĩa, 69.648 ± 11.715 so với 74.565 ± 6.230 neuron theo ranh giới Ch5 (chênh khoảng 6,6%, p > 0,05) và 35.567 ± 2.980 so với 36.049 ± 1.498 theo ranh giới chất trắng (chênh khoảng 1,3%) (Sharma và cs., 2025). PPN trái chỉ có từ 3 não và PPN phải từ 4 não, nên khả năng phát hiện khác biệt nhỏ là thấp.
Ở chuột cống, một mô hình tổn thương bán phần chất đen bằng lactacystin làm mất 48% neuron dopamine và 61% neuron cholinergic PPN sau 5 tuần (Pienaar và cs., 2015), gợi ý rằng mất neuron PPN có thể đi kèm tổn thương hệ dopamine; đây là dữ liệu động vật.
Với nhân lưng bên trần não, chúng tôi chưa tìm được số đếm neuron ở người trong các nguồn đã đọc. Dữ liệu về mất neuron PPN trong PSP cũng chưa có, vì bài gốc chúng tôi chưa mở được.
Nhân raphe và serotonin#
Serotonin là hệ có dữ liệu định lượng ở người mỏng nhất trong các nguồn chúng tôi có. Một nghiên cứu sau tử vong năm 2016 nhắc lại rằng neuron serotonin chiếm khoảng 70% neuron nhân raphe lưng (dorsal raphe nucleus, DRN), và gần như mọi tế bào lớn trong nhân này là serotonin (Krzyżanowska và cs., 2016); con số 70% bắt nguồn từ dữ liệu linh trưởng, không phải người. Ở người cao tuổi, bệnh Alzheimer có ít neuron serotonin ở nhân raphe lưng rõ rệt so với đối chứng, trong khi trầm cảm nguyên phát tuổi già không khác biệt về mật độ neuron (14 người trầm cảm, 8 và 7 người Alzheimer có và không có trầm cảm, 10 đối chứng) (Hendricksen và cs., 2004); phần tóm tắt không cho con số. Chúng tôi chưa đọc được nghiên cứu đếm tổng số neuron serotonin ở nhân raphe người, nên không đưa số tuyệt đối vào bảng.
Dopamine#
Vai trò thức tỉnh của neuron dopamine vùng trần bụng hiện chủ yếu dựa trên chuột: ở chuột nhắt, ức chế hoá di truyền neuron dopamine VTA làm giảm thức khi ở điều kiện nền (Scammell và cs., 2017). Chưa có bằng chứng tương đương ở người. Bằng chứng người gần nhất là PET: ở 20 người khoẻ, sau một đêm thức trắng, khả dụng thụ thể dopamine D2/D3 ở thể vân bụng giảm (PET [11C]raclopride), và mức giảm liên quan với giảm tỉnh táo, tăng buồn ngủ (Volkow và cs., 2012). Mức tăng dopamine do methylphenidate không khác giữa ngủ đủ và thức trắng, nên tác giả cho rằng thay đổi chủ yếu nằm ở thụ thể chứ không ở lượng dopamine giải phóng (Volkow và cs., 2012). Đây là bằng chứng về hệ dopamine phản ứng với thiếu ngủ, chưa phải bằng chứng rằng neuron dopamine tạo ra trạng thái thức ở người.
Nhân cạnh cánh tay#
Như đã nêu ở phần đầu, dữ liệu người về nhân cạnh cánh tay đến từ lập bản đồ tổn thương gây hôn mê (Fischer và cs., 2016) và từ tổng quan ghi nhận tổn thương vùng này gây hôn mê ở cả động vật và người (Scammell và cs., 2017). Chúng tôi chưa tìm được số đếm neuron nhân cạnh cánh tay ở người.
Bảng tổng hợp và tác động của tuổi, bệnh thoái hoá#
Số neuron từng nhân ở người#
Bảng dưới gom các số đếm ở người (và hai số so sánh ở động vật, ghi rõ loài) kèm phương pháp và cỡ mẫu. Đọc bảng theo hàng ngang: mỗi con số chỉ có nghĩa cùng với cột "một bên/hai bên" và cột phương pháp.
| Nhân (chất dẫn truyền) | Số neuron | Một bên/hai bên | Phương pháp | Cỡ mẫu, tuổi | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| Nhân lục (noradrenaline) | 21.084 ± 653 | Một bên | Tyrosine hydroxylase, bản đồ lát cắt cách quãng | 4 người 1–28 tuổi | (Manaye và cs., 1995) |
| Nhân lục | 16.502 ± 921; 9.493 ± 1.236 | Một bên | Tế bào chứa sắc tố | 7 người 60–82 tuổi; 3 người 103–104 tuổi | (Manaye và cs., 1995) |
| Nhân lục | 48.907 (6.674–137.910) | Một bên (trái) | Phân đoạn quang học, nhuộm gallocyanin | 63 thân não, 62,8 ± 10,3 tuổi, Braak 0–VI | (Theofilas và cs., 2017) |
| Nhân lục — khỉ rhesus | ~47.700 (non); ~53.200 (già) | Không nêu trong tóm tắt | Đếm lập thể | 19 khỉ | (Pakkenberg và cs., 1999) |
| Nhân củ–núm vú (histamine) | ~64.000 | Không nêu | Trích lại trong chương sách | Không nêu | (Schwartz và cs., 1995) |
| Nhân củ–núm vú | 75.469 | Không nêu trong dữ kiện | Histidine decarboxylase, phân đoạn quang học | 7 đối chứng | (John và cs., 2013) |
| Nhân củ–núm vú | 120.455 ± 10.665 | Không nêu trong dữ kiện | Hoá mô miễn dịch | 12 đối chứng | (Valko và cs., 2013) |
| Nhân củ–núm vú — chuột cống | ~2.000 | Không nêu | Trích lại, không kèm nguồn | Không nêu | (Schwartz và cs., 1995) |
| Nhân nền Meynert (acetylcholine) | ~210.000 (ChAT); ~174.000 (VAChT) | Mỗi bán cầu | Hoá mô miễn dịch | Người cao tuổi không suy giảm nhận thức | (Gilmor và cs., 1999) |
| PPN (acetylcholine), ranh giới Ch5 | 72.458 ± 5.629 | Mỗi nhân | Lập thể, ChAT | 4 đối chứng | (Sharma và cs., 2025) |
| PPN, ranh giới chất trắng | 35.842 ± 769 | Mỗi nhân | Lập thể, ChAT | 4 đối chứng | (Sharma và cs., 2025) |
| Nhân raphe lưng (serotonin) | Chưa có số tổng; ~70% neuron là serotonin (dữ liệu linh trưởng) | — | Trích lại | — | (Krzyżanowska và cs., 2016) |
| LDT, nhân cạnh cánh tay, VTA | Chúng tôi chưa tìm được số đếm ở người | — | — | — | — |
Ba điều rút ra từ bảng. Thứ nhất, không có hai nhóm nào đếm cùng một nhân bằng cùng một phương pháp trên mẫu tương đương, nên sự chênh lệch giữa hàng là chuyện phương pháp nhiều hơn là chuyện sinh học. Thứ hai, chỉ có PPN được đếm bằng hai ranh giới trên cùng một mẫu, và chênh lệch đó đã gần gấp đôi. Thứ ba, các con số đều đến từ những mẫu nhỏ, phần nhiều dưới 10 não cho mỗi nhóm.
Alzheimer, PSP và CBD#
Nghiên cứu năm 2019 của nhóm UCSF là dữ liệu so sánh trực tiếp nhất: cùng một quy trình lập thể áp dụng cho nhiều nhân thức tỉnh trên não người mắc Alzheimer và hai bệnh tau khác là PSP và CBD (Oh và cs., 2019).
- Nhân lục: ít hơn 74,84% neuron ở Alzheimer, 50,38% ở CBD và 53,35% ở PSP so với đối chứng (6 đối chứng, 8 Alzheimer, 5 PSP, 4 CBD); tỉ lệ neuron còn tổng hợp tyrosine hydroxylase giảm từ 96% ở đối chứng xuống 70% ở Alzheimer (Oh và cs., 2019).
- Nhân củ–núm vú: ít hơn 62,06% neuron ở Alzheimer; tỉ lệ neuron tổng hợp histidine decarboxylase từ 99% xuống 79% (Oh và cs., 2019).
- Vùng hạ đồi bên (nơi có neuron orexin): mất trung bình 71,86% neuron ở Alzheimer (Oh và cs., 2019); con số này tính tổng neuron trong vùng chứ không riêng neuron orexin, và được bàn thêm ở chương 2.
Mức mất nhân lục ở Alzheimer trong nghiên cứu này (74,84%) gần với con số 71% của nghiên cứu năm 1984 trên 22 bệnh nhân (Mann và cs., 1984), dù hai nghiên cứu cách nhau ba thập niên và khác phương pháp. Theo nghiên cứu lập thể năm 2017, mất neuron nhân lục bắt đầu từ Braak III (Theofilas và cs., 2017). Ghép các dữ kiện này lại, suy luận của chúng tôi SL là hệ thức tỉnh đi lên bị tổn thương nặng trong bệnh Alzheimer (riêng nhân lục, mất neuron rõ từ giai đoạn giữa của bệnh chứ không phải giai đoạn sớm nhất), và điều đó có thể góp phần vào rối loạn thức–ngủ ở bệnh nhân; nhưng các nghiên cứu mô bệnh học này không đo giấc ngủ của người hiến não, nên mối liên hệ nhân quả với triệu chứng giấc ngủ chưa được chứng minh.
Một chi tiết đáng chú ý khác: ở bệnh nhân ngủ rũ, sợi trục hypocretin đi tới nhân lục giảm 64% và tới nhân củ–núm vú giảm 71% (4 não ngủ rũ so với 4 đối chứng ở thân não; 5 so với 6 ở hạ đồi) (Thannickal và cs., 2003). Nghĩa là một nhân thức tỉnh có thể còn đủ neuron nhưng mất nguồn kích thích đi vào nó. Theo mô hình công tắc lật, các nhân thức tỉnh đi lên tạo thành "phía thức" đối lập với "phía ngủ" ở vùng trước thị bụng bên (Arrigoni và Fuller, 2022); phần này thuộc chương 2.
Điều chưa biết#
- Nghiên cứu đếm số neuron serotonin ở nhân raphe người mà các tài liệu khác hay dẫn, chúng tôi chưa đọc được; hiện chỉ có tỉ lệ khoảng 70% neuron raphe lưng là serotonin (trích lại, nguồn gốc linh trưởng) và dữ liệu định tính ở bệnh Alzheimer.
- Nghiên cứu kinh điển về mất neuron PPN trong Parkinson và PSP chúng tôi chưa đọc được, nên chưa có số PPN trong PSP.
- Với nhân cạnh cánh tay (và nhân trước thị giữa ở chương 2), chúng tôi chưa tìm được số đếm neuron ở người; chỉ có dữ liệu gặm nhấm và dữ liệu lập bản đồ tổn thương gây hôn mê ở người.
- Vai trò thức tỉnh của neuron dopamine VTA chỉ có dữ liệu chuột; ở người chỉ có PET thụ thể D2/D3 sau thức trắng.
- Chúng tôi không tìm được nghiên cứu ở Việt Nam hoặc Đông Nam Á về giải phẫu hay mô bệnh học mạch thức–ngủ; nghiên cứu châu Á gần nhất là PET thụ thể H1 ở Nhật Bản.
- Câu hỏi nhân lục mất neuron vì tuổi hay vì bệnh lý tiền lâm sàng chưa được trả lời bằng một nghiên cứu lập thể dùng cùng dấu ấn trên toàn khoảng tuổi, có loại trừ bệnh lý Alzheimer.
- Vì sao số neuron histamine ở người bình thường dao động từ khoảng 64.000 đến 120.455 giữa các nhóm chưa được giải quyết bằng một nghiên cứu đếm lại có chuẩn hoá ranh giới.
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Hệ thức tỉnh đi lên: các nhân giữ não người tỉnh thức. Trong: Tập 6 — Giải phẫu và sinh lý thần kinh của giấc ngủ ở người. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giai-phau-than-kinh-giac-ngu/he-thuc-tinh-di-len/