giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Tập 6 · Giải phẫu và sinh lý thần kinh của giấc ngủ

REM, cấu trúc một đêm ngủ và ngưỡng thức tỉnh

Chương 7 Ban biên tập giacngungon.vn Khoảng 18 phút đọc

Trong trang này

Chương này trả lời ba câu hỏi: giấc ngủ REM được tạo ra ở đâu trong não người và nó làm gì với cơ, nhịp thở, thân nhiệt; một đêm ngủ thật sự gồm bao nhiêu phần trăm mỗi giai đoạn và các chu kỳ dài bao lâu; và người đang ngủ còn nghe, ngửi được đến mức nào. Kết luận chính là nhiều con số quen thuộc cần được đọc lại. Bằng chứng người về "bộ tạo REM" ở cầu não vẫn là gián tiếp. Một nghiên cứu PSG ở 100 người khoẻ cho tỉ lệ REM thấp hơn rõ so với mức "20–25%" của sách giáo khoa, và chu kỳ ngủ dao động rộng quanh trung vị 96 phút chứ không cố định ở 90 phút. Cuối cùng, câu hỏi "N3 và REM có giảm theo tuổi không" có câu trả lời khác nhau tuỳ cách phân tích — đây là một mâu thuẫn thật trong y văn.

REM: bộ tạo, mất trương lực và sinh lý tự chủ#

Bộ tạo REM ở người: chỉ có bằng chứng gián tiếp#

Mô hình về một "bộ tạo REM" ở trần cầu não (pontine tegmentum) chủ yếu được xây dựng từ thí nghiệm trên động vật; chúng tôi không trình bày các dữ liệu động vật đó ở đây vì chưa kiểm được nguồn gốc. Ở người, không thể làm các thí nghiệm cắt bỏ hay kích thích chọn lọc như vậy. Bằng chứng đến từ những "thí nghiệm của tự nhiên": tổn thương thân não gây ra rối loạn hành vi giấc ngủ REM (REM sleep behaviour disorder, RBD) — tình trạng người bệnh mất trương lực cơ bình thường trong REM và "diễn" lại giấc mơ.

Nghiên cứu lớn nhất theo hướng này dùng bản đồ mạng tổn thương (lesion network mapping) từ 25 ca RBD thứ phát do tổn thương, loại trừ các vùng gặp ở 15 ca đột quỵ cầu não không có RBD. Các tổn thương quy về một vùng cầu não chồng lên nhân lục (locus coeruleus) (Odd và cs., 2025). Tuy vậy, chỉ một nửa (50%) số tổn thương chạm ít nhất một trong sáu nút giải phẫu RBD giả định; 72% cắt trực tiếp các bó chất trắng đi ra từ vùng cầu não chồng lấp tối đa, và 92% nằm ngang mức hoặc thấp hơn (về phía đuôi) so với vùng đó (Odd và cs., 2025). Kết quả gợi ý rằng ở người, điều quan trọng có thể là đường dẫn truyền đi xuống từ vùng cầu não này, hơn là một "nhân" đơn lẻ.

Ở mức loạt ca, Nepozitek và cộng sự mô tả hai bệnh nhân RBD sau thiếu máu thân não khu trú: một ca có tổn thương dạng chấm ở trần cầu não phải, một ca có tổn thương mạn ở hành não phải, liên quan chỗ nối cầu–hành (Nepozitek và cs., 2026). Vùng dưới lưng bên (sublaterodorsal) được bài nhắc tới theo y văn chứ không được đo trực tiếp.

Hướng thứ ba là hình ảnh học ở RBD vô căn (không có tổn thương nhìn thấy). MRI 3T nhạy neuromelanin cho thấy tín hiệu của phức hợp nhân lục/dưới lục (coeruleus/subcoeruleus) giảm ở bệnh nhân so với người khoẻ. Bài có bình duyệt (21 bệnh nhân so với 21 người khoẻ) xác nhận sự giảm tín hiệu này, với độ nhạy 82,5% và độ đặc hiệu 81% khi đọc bằng mắt (Ehrminger và cs., 2016). Một tóm tắt hội nghị sơ bộ trước đó (15 bệnh nhân, 16 đối chứng) báo cáo cường độ tín hiệu tương quan nghịch với tỉ lệ REM không mất trương lực, r = −0,47, tính gộp cả bệnh nhân và đối chứng (Ehrminger và cs., 2015); đây là số liệu chưa qua bình duyệt đầy đủ và không xuất hiện trong tóm tắt của bài in.

Ghép ba dòng bằng chứng lại, chúng tôi cho rằng SL vùng trần cầu não quanh nhân lục và các đường đi xuống từ đó có liên quan đến cơ chế mất trương lực REM ở người, nhưng chưa có bằng chứng người trực tiếp xác định một "bộ tạo REM" cụ thể tương ứng với nhân dưới lưng bên đã mô tả ở động vật.

Mất trương lực: đo bằng cơ cằm và cơ tay#

Trong REM bình thường, trương lực của phần lớn cơ vân gần như mất hẳn (cơ hoành và các cơ vận nhãn là ngoại lệ). Để chẩn đoán RBD cần biết "bao nhiêu hoạt động cơ là bất thường". Nhóm SINBAR đã đề xuất ngưỡng chuẩn dựa trên 30 bệnh nhân RBD (15 vô căn, 15 Parkinson) và 30 người đối chứng: với độ đặc hiệu 100%, ngưỡng chẩn đoán là 18% số vi-epoch 3 giây có hoạt động cơ cằm (mentalis), diện tích dưới đường cong (AUC) 0,990 (Frauscher và cs., 2012). Kết hợp cơ cằm (mọi hoạt động) với hai cơ gấp chung nông ngón tay (flexor digitorum superficialis, hoạt động pha) cho ngưỡng 32% với AUC 0,998; cơ chi dưới phân biệt kém hơn (AUC 0,813–0,852) (Frauscher và cs., 2012). Đây là đề xuất của một nghiên cứu gốc, không phải văn bản hướng dẫn của AASM hay ICSD.

Sóng răng cưa#

Sóng răng cưa (sawtooth waves) là những chuỗi sóng nhọn, đều, được dùng như một dấu hiệu nhận diện REM khi chấm điểm giấc ngủ. Ghi nội sọ ở 26 bệnh nhân (14 nữ) cho thấy sóng răng cưa đi kèm tăng công suất 2–4 Hz ở mọi vùng não trừ thuỳ chẩm, cùng với tăng lan toả hoạt động tần số cao, kể cả gợn sóng (Frauscher và cs., 2020). Như vậy, sóng răng cưa không phải chỉ là một dấu hiệu hình thái để chấm giai đoạn, mà đánh dấu một trạng thái hoạt hoá vỏ não lan rộng bên trong REM.

Hô hấp và điều nhiệt trong REM#

Ở 19 người lớn khoẻ mạnh, thông khí phút giảm dần theo giai đoạn: 7,66 L/phút khi thức, 7,18 L/phút trong NREM và 6,46 L/phút trong REM — tức REM thấp hơn thức khoảng 16% (mức giảm này do chúng tôi tính từ số liệu tóm tắt) (Douglas và cs., 1982). Thể tích khí lưu thông trong REM chỉ còn 73% mức khi thức, và trong mọi giai đoạn ngủ nhịp thở đều nhanh và nông hơn khi thức (Douglas và cs., 1982). Suy luận của chúng tôi SL: nếu thông khí trong REM vốn đã thấp nhất trong ba trạng thái được đo, thì REM là thời điểm hệ hô hấp có ít "dự trữ" nhất trước bất kỳ rối loạn nào chồng thêm lên.

Về điều nhiệt (xem thêm chương 5), bằng chứng người rất mỏng. Một nghiên cứu ở 5 nam giới khoả thân nâng nhiệt độ phòng từ 25 lên 41 °C khi họ ngủ: hoạt động tuyến mồ hôi trong REM vẫn còn nhưng thấp hơn trong ngủ sóng chậm (Libert và cs., 1982). Bài không báo số tuyệt đối trong phần chúng tôi đọc được. Ý tưởng phổ biến rằng "điều nhiệt gần như tắt trong REM" ở người vì vậy nên được hiểu là: điều nhiệt bị giảm, chưa có đủ dữ liệu người để nói nó tắt.

Tỉ lệ các giai đoạn theo tuổi và giới#

Sách giáo khoa so với số đo PSG#

Con số quen thuộc về cấu trúc một đêm ngủ ở người trẻ, theo sách tham khảo lâm sàng MSD, là N1 2–5%, N2 45–55%, N3 13–23% và REM 20–25% tổng thời gian ngủ (MSD Manual, không rõ năm). Một trang thông tin y khoa tại Việt Nam nêu phân bố ở người lớn: giai đoạn 1 5%, giai đoạn 2 45%, giai đoạn 3 12%, giai đoạn 4 13% (tức N3 theo cách gọi hiện nay là 25%) và REM 25%; cùng bài có chỗ khác lại ghi giai đoạn 1 chiếm 50% — một mâu thuẫn nội tại (Vinmec, không rõ năm).

Đặt cạnh đó là số đo PSG theo chuẩn AASM ở 100 người khoẻ mạnh 19–77 tuổi (người da trắng ở Áo). N3 chiếm 20,7% (khoảng 15,2–37,5) ở nhóm từ 30 tuổi trở xuống, so với 14,9% (2,4–35,6) ở nhóm trên 60 tuổi; REM chiếm 15,5% (7,5–23,6) ở nhóm trẻ và 10,3% (1,9–21,9) ở nhóm trên 60 tuổi (Mitterling và cs., 2015). Bản tóm tắt không nói rõ đây là trung bình hay trung vị.

NguồnN3REMGhi chú
MSD, người trẻ13–23%20–25%Không nêu nguồn đo
Vinmec, người lớn25% (12% + 13%)25%Trang phổ biến kiến thức; có mâu thuẫn nội tại
PSG, ≤30 tuổi (Mitterling)20,7%15,5%n = 100 toàn mẫu; một đêm
PSG, >60 tuổi (Mitterling)14,9%10,3%Cùng mẫu

Hình 1. Tỉ lệ N3 và REM đo bằng PSG ở người khoẻ, theo nhóm tuổi

  1. Đo PSG theo chuẩn AASM ở 100 người khoẻ 19–77 tuổi; ngoặc trong nguồn là khoảng giá trị (Mitterling và cs., 2015; dữ kiện b3-060, b3-061).
  2. REM ở người trẻ đo được 15,5%, thấp hơn dải 20–25% thường ghi trong tài liệu phổ thông.
  3. Khác biệt cá nhân rất lớn: REM ở nhóm trên 60 tuổi dao động 1,9–21,9%.

Biểu đồ số liệu; chiều dài thanh theo tỉ lệ.

Chỗ lệch chính là REM. N3 đo được ở người trẻ (20,7%) nằm trong khoảng của MSD; nhưng REM 15,5% ở người từ 30 tuổi trở xuống thấp hơn rõ mức 20–25% trong sách. Có vài lý do khả dĩ SL. Mitterling và cộng sự chỉ ghi một đêm trong phòng thí nghiệm, và bài không nêu có đêm làm quen hay không; ngủ đêm đầu ở môi trường lạ có thể làm giảm REM. Con số sách giáo khoa không nêu nguồn đo, có thể lấy từ người rất trẻ và chấm theo hệ Rechtschaffen–Kales cũ; tiêu chí chấm N3 cũng khác giữa hệ cũ và chuẩn AASM (giả thuyết, chưa kiểm được trong nguồn của chương). Kết luận thận trọng SL: với người trưởng thành đo PSG theo chuẩn hiện nay, một tỉ lệ REM dưới 20% không tự động là bất thường.

Cùng mẫu này cho thấy những khác biệt tuổi khác. Hiệu suất giấc ngủ là 87,0% ở nhóm trẻ so với 79,7% ở nhóm trên 60 tuổi; thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) chiếm 6,0% so với 15,2%; tổng thời gian ngủ 413,5 so với 378,3 phút (Mitterling và cs., 2015). Một phát hiện phụ đáng chú ý: ngay ở những người được tuyển chọn là "khoẻ mạnh", 8% có chỉ số ngưng–giảm thở (apnoea–hypopnoea index, AHI) trên 15 lần/giờ, và AHI tăng từ 0,7 lên 1,7 lần/giờ (giá trị trung tâm) chỉ vì chuyển từ quy tắc chấm AASM 2007 sang 2012 (Mitterling và cs., 2015). Con số "bình thường" phụ thuộc vào quy tắc chấm không kém gì vào sinh lý.

Tuổi: phân tích gộp lớn nhất và các nghiên cứu còn lại#

Câu hỏi "ngủ sâu có giảm theo tuổi không" tưởng như đã có câu trả lời. Phân tích gộp của Ohayon và cộng sự gồm 65 nghiên cứu với 3.577 người khoẻ mạnh 5–102 tuổi (Ohayon và cs., 2004). Ở người lớn, tỉ lệ ngủ sóng chậm tương quan nghịch có ý nghĩa với tuổi; tỉ lệ REM và độ trễ REM cũng giảm theo tuổi; sau 60 tuổi, chỉ còn hiệu suất giấc ngủ tiếp tục giảm có ý nghĩa (Ohayon và cs., 2004). Phân tích gộp của Campos-Beltrán và cộng sự (10 nghiên cứu, 439 người) cho thấy người lớn tuổi có thời lượng ngủ sóng chậm thấp hơn rất rõ (g = −1,70) và REM thấp hơn mức vừa (g = −0,80) so với người trẻ (Campos-Beltrán và cs., 2026). Tổng quan của Mander và cộng sự dẫn lại các nghiên cứu gốc: nam trên 70 tuổi có lượng ngủ sóng chậm thấp hơn 50% so với nam dưới 55 tuổi; hoạt động sóng chậm vùng trước trán ở người cao tuổi giảm 75–80% so với người trẻ; và hoạt động sóng chậm ở nam tuổi 30 đã thấp hơn 50% so với tuổi 20 (Mander và cs., 2017).

Nhưng phân tích gộp lớn nhất — Boulos và cộng sự, 169 nghiên cứu với 5.273 người lớn khoẻ mạnh — cho bức tranh khác. Mỗi thập kỷ tuổi, tổng thời gian ngủ giảm 10,1 phút (7,5–12,8) và hiệu suất giấc ngủ giảm 2,1% (1,5–2,6); WASO tăng 9,7 phút (6,9–12,4) và chỉ số vi thức tỉnh (arousal index) tăng 2,1 lần/giờ (Boulos và cs., 2019). Tỉ lệ N1 tăng 0,5% theo tuổi, còn tỉ lệ N2, N3 và REM không thay đổi có ý nghĩa: N3 −0,1% (−0,1 đến 0,0), REM 0,0% (Boulos và cs., 2019). Chúng tôi chỉ đọc được bản tóm tắt, trong đó cột N2/N3/REM chỉ ghi "thay đổi theo tuổi" nên chưa xác nhận được đơn vị là mỗi thập kỷ hay mỗi năm.

NguồnThiết kếN3 / ngủ sóng chậm theo tuổiREM theo tuổi
Ohayon và cs.Phân tích gộp, 65 nghiên cứu, 3.577 ngườiGiảm có ý nghĩa ở người lớnGiảm có ý nghĩa
Mitterling và cs.PSG, 100 người20,7% → 14,9%15,5% → 10,3%
Campos-Beltrán và cs.Phân tích gộp, so sánh nhóm già–trẻg = −1,70g = −0,80
Mander và cs.Tổng quan, dẫn lạiThấp hơn 50% (nam trên 70 so với dưới 55)Chỉ giảm từ tuổi 80
Boulos và cs.Phân tích gộp, 169 nghiên cứu, 5.273 người−0,1% (không có ý nghĩa)0,0% (không có ý nghĩa)

Vì sao phân tích gộp lớn nhất lại không thấy N3 giảm? Có vài khả năng SL, và chúng không loại trừ nhau. Thứ nhất, Boulos và cộng sự có lẽ dùng hồi quy meta ở mức nghiên cứu (như phân tích theo tỉ lệ nam của cùng bài): khi đó biến tuổi là tuổi trung bình của mỗi mẫu, nên biến thiên tuổi bên trong từng nghiên cứu bị mất. Thứ hai, so sánh hai nhóm tuổi cực trị (như Campos-Beltrán và Mitterling) cho cỡ hiệu ứng lớn hơn một hệ số tuyến tính trải đều trên mọi lứa tuổi. Thứ ba, đo theo phần trăm tổng thời gian ngủ hay theo phút cho kết quả khác nhau — và tổng thời gian ngủ bản thân cũng giảm theo tuổi. Thứ tư, tiêu chí chấm N3 dựa trên biên độ sóng cố định có thể ảnh hưởng ở người già (giả thuyết, chưa kiểm được trong nguồn).

Với REM, mâu thuẫn còn thêm một lớp. Tổng quan của Mander và cộng sự, dẫn lại phân tích gộp của Ohayon và cộng sự cùng một nghiên cứu khác, cho rằng suy giảm REM chỉ xuất hiện từ tuổi 80 trở lên (Mander và cs., 2017) — trong khi chính tóm tắt của Ohayon và cộng sự lại nói tỉ lệ REM giảm có ý nghĩa theo tuổi ở người lớn. Sự khác biệt này cho thấy một con số có thể biến đổi khi đi qua các tầng tổng quan. Suy luận của chúng tôi SL: chiều hướng chung là ngủ sóng chậm giảm theo tuổi khá chắc chắn khi so người trẻ với người già, nhưng tốc độ giảm tuyến tính theo từng thập kỷ — và với REM, cả việc có giảm hay không ở tuổi trung niên — vẫn chưa thống nhất.

Giới#

Về giới, các nguồn cùng chiều nhưng khác độ lớn. Sleep Heart Health Study (2.685 người 37–92 tuổi, PSG tại nhà) cho thấy nam ngủ nông hơn nữ, và nữ có trung bình nhiều hơn 106% ngủ sóng chậm; tuổi tăng liên quan giấc ngủ kém hơn ở nam, còn ở nữ liên quan kém nhất quán (Redline và cs., 2004). Phân tích gộp của Campos-Beltrán và cộng sự (6 nghiên cứu, 443 người) cũng thấy nam có thời lượng ngủ sóng chậm ngắn hơn nữ, g = −0,52; tác giả báo p = 0,039 nhưng KTC95% (−1,16 đến 0,13) lại chứa 0, nên đây là kết quả ở ranh giới ý nghĩa và cần dùng thận trọng (Campos-Beltrán và cs., 2026). Trong phân tích gộp của Boulos và cộng sự, mỗi 10% tăng tỉ lệ nam trong mẫu đi kèm độ trễ REM ngắn hơn 0,9 phút và chỉ số vi thức tỉnh cao hơn 0,3 lần/giờ — một hiệu ứng ở mức nghiên cứu, không phải so sánh từng cá nhân (Boulos và cs., 2019).

Khác biệt về độ lớn giữa con số 106% và cỡ hiệu ứng vừa của phân tích gộp có thể do Sleep Heart Health Study là người trung niên–cao tuổi, ghi PSG không giám sát tại nhà và chấm theo Rechtschaffen–Kales, còn phân tích gộp chỉ gồm 6 nghiên cứu với tuổi khác. Ngoài ra, biên độ sóng chậm đo trên da đầu phụ thuộc độ dày hộp sọ và giải phẫu, nên khác biệt giới về ngủ sóng chậm có thể bị phóng đại — đây là giả thuyết, chưa kiểm được trong các nguồn này.

Một chu kỳ ngủ thật sự dài bao lâu#

"Mỗi chu kỳ ngủ 90 phút" là một trong những con số được lặp lại nhiều nhất. Trang thông tin y khoa đã dẫn ở trên nêu mỗi chu kỳ trung bình khoảng 90 phút (70–110 phút) và người ngủ luân phiên REM–NREM 4–6 lần mỗi đêm (Vinmec, không rõ năm).

Phân tích của Cajochen và cộng sự trên 6.064 chu kỳ NREM–REM ghi PSG ở 369 người (hai nhóm 19–35 và 55–80 tuổi) cho trung vị 96 phút và trung bình 99,5 phút (Cajochen và cs., 2024). Quan trọng hơn trung vị là độ phân tán: khoảng 95% chu kỳ dài từ 60 đến 150 phút, và hệ số biến thiên giữa các chu kỳ là 29,3%. Đa số đêm có 3 hoặc 4 chu kỳ hoàn chỉnh. Trung vị độ dài giai đoạn NREM của từng người dao động 50–106 phút, của giai đoạn REM 11–41 phút — tức khác biệt giữa các cá nhân là rất lớn (Cajochen và cs., 2024). Người lớn tuổi có giai đoạn NREM dài hơn và REM ngắn hơn, đặc biệt vào cuối đêm (Cajochen và cs., 2024).

Chỉ sốNguồn phổ biến (Vinmec)PSG, 6.064 chu kỳ (Cajochen và cs.)
Độ dài điển hìnhKhoảng 90 phútTrung vị 96 phút; trung bình 99,5 phút
Khoảng70–110 phútKhoảng 95% trong 60–150 phút
Biến thiên giữa chu kỳKhông nêuHệ số biến thiên 29,3%
Số chu kỳ mỗi đêm4–6Đa số 3–4 chu kỳ hoàn chỉnh
NREM / REM trong chu kỳKhông nêuTrung vị theo người: NREM 50–106 phút; REM 11–41 phút

Hình 2. Một chu kỳ ngủ thật sự dài bao lâu

  1. 064 chu kỳ ghi PSG ở 369 người: trung vị 96 phút, trung bình 99,5 phút (Cajochen và cs., 2024; b3-070).
  2. Khoảng 95% số chu kỳ dài 60–150 phút; hệ số biến thiên 29,3% (b3-071). Đa số đêm chỉ có 3–4 chu kỳ hoàn chỉnh (b3-072).

Biểu đồ số liệu; trục ngang theo tỉ lệ.

Khác biệt giữa "4–6 chu kỳ" và "3–4 chu kỳ hoàn chỉnh" một phần là do định nghĩa: có tính chu kỳ cuối không trọn hay không. Một phần có thể do điều kiện phòng thí nghiệm giới hạn thời gian nằm giường. Nhưng điểm quan trọng nhất là con số "90 phút" che khuất độ biến thiên rất lớn: với hệ số biến thiên gần 30%, việc tính giờ đi ngủ hay giờ thức dậy "theo bội số 90 phút" dựa trên một mức chính xác mà sinh lý thực tế không có. Đây là suy luận của chúng tôi từ số liệu trên, không phải kết luận của một thử nghiệm can thiệp.

Ngưỡng thức tỉnh và xử lý cảm giác khi ngủ#

Âm thanh#

Ngủ không phải là cắt đứt khỏi thế giới bên ngoài; não vẫn xử lý âm thanh và quyết định có đánh thức hay không. Nghiên cứu tiếng ồn bệnh viện (Sound Sleep Study) phát âm thanh ở mức 40–70 dBA, tăng từng bước 5 dB trên nền khoảng 32 dBA, cho 12 người lớn khoẻ mạnh. Ngủ N2 kém được bảo vệ nhất trước giọng nói, còn N3 được bảo vệ nhiều nhất trước nhiễu âm thanh (Solet và cs., 2010). Chuông điện thoại và báo động bơm truyền nằm trong nhóm âm thanh gây gián đoạn giấc ngủ nhiều nhất, và âm thanh điện tử gây thức tỉnh mạnh hơn các âm khác ở cùng mức dB (Buxton và cs., 2012). Trong REM, đáp ứng thức tỉnh ít khác nhau giữa các loại âm thanh hơn so với NREM — tức đáp ứng bị "nén" lại giữa các loại âm (Buxton và cs., 2012). Ngưỡng dB cụ thể theo từng giai đoạn chỉ có trong hình của báo cáo, và chúng tôi chưa đọc được.

Khả năng chịu tiếng ồn khác nhau giữa người với người, và thoi ngủ là một yếu tố dự báo. Người tạo nhiều thoi ngủ hơn (dao động 11–15 Hz) giữ giấc ngủ ổn định hơn trước tiếng ồn ở đêm tiếp theo, và tốc độ thoi là đặc điểm ổn định giữa các đêm (Dang-Vu và cs., 2010). Một cách diễn giải phổ biến SL là đồi thị đóng vai trò "cổng": trong lúc tạo thoi, nó có thể truyền tín hiệu cảm giác lên vỏ não kém hơn — đây là giả thuyết cơ chế, không phải điều nghiên cứu này đo trực tiếp.

Mùi#

Mùi là một kênh cảm giác khác hẳn âm thanh. Liệu nó có đánh thức được người ngủ? Carskadon và Herz thử ở 6 người trẻ (3 nam, 3 nữ; 20–25 tuổi), mỗi người 2 đêm. Mùi bạc hà (dễ chịu) không gây đáp ứng ở giai đoạn 2, giai đoạn 4 hay REM. Pyridine (khó chịu) gây đáp ứng ở 45% lượt thử ở giai đoạn 2, không lượt nào ở giai đoạn 4 (ngủ sâu nhất) và khoảng một phần ba số lượt trong REM (Carskadon và Herz, 2004). Tác giả kết luận khứu giác người không đáng tin cậy để đánh thức người đang ngủ. Mẫu rất nhỏ và chúng tôi chỉ đọc được bản tóm tắt.

Không đánh thức không có nghĩa là không xử lý. Arzi và cộng sự (69 người tuyển, 55 người được phân tích) dùng mùi ở nồng độ thấp, không kích thích dây thần kinh sinh ba: thể tích hít sau mùi dễ chịu lớn hơn sau mùi khó chịu, tức não vẫn phân biệt được giá trị của mùi khi ngủ. Khoảng 6,4% lượt kích thích có kèm vi thức tỉnh hoặc thức giấc và đã bị loại khỏi phân tích (Arzi và cs., 2012).

Kích thíchGiai đoạn bảo vệ tốt nhấtGiai đoạn dễ bị ảnh hưởngNguồn
Giọng nói, tiếng ồn (40–70 dBA)N3 (với nhiễu âm)N2 (với giọng nói)Solet và cs.
Âm thanh điện tử—Gây thức tỉnh mạnh hơn ở cùng mức dBBuxton và cs.
Mùi pyridineGiai đoạn 4: 0%Giai đoạn 2: 45%; REM: khoảng một phần baCarskadon và Herz
Mùi bạc hàKhông đáp ứng ở mọi giai đoạn thử—Carskadon và Herz

Gộp lại SL, từ những mẫu nhỏ này, hình ảnh là một hệ thống lọc có chọn lọc: ngủ sâu che chắn tốt nhất trước tiếng ồn vô nghĩa, giọng nói và âm thanh điện tử dễ lọt qua hơn, còn mùi đánh thức không ổn định (mùi dễ chịu không đánh thức ai trong 6 người được thử, mùi khó chịu đánh thức ở một phần số lượt) nhưng vẫn được xử lý ở mức hô hấp.

Điều chưa biết#

  • Bộ tạo REM ở người. Chỉ có bằng chứng gián tiếp — bản đồ mạng tổn thương 25 ca, loạt hai ca, và hình ảnh neuromelanin. Chúng tôi chưa đọc được toàn văn bài in có bình duyệt của Ehrminger và cộng sự; dữ liệu gốc về nhân dưới lưng bên trên động vật chúng tôi chưa kiểm được.
  • Ngưỡng thức tỉnh theo dB cho từng giai đoạn. Chúng tôi chưa tìm được bảng dB theo N1/N2/N3/REM có thể trích; các số liệu này trong hai báo cáo của Buxton và cộng sự và Solet và cộng sự chỉ có ở dạng hình.
  • Mùi so với âm thanh. Tỉ lệ thức tỉnh theo giai đoạn khi so mùi với âm thanh trong nghiên cứu của Carskadon và Herz chưa đọc được từ bài gốc.
  • Điều nhiệt trong REM. Chỉ có một nghiên cứu 5 người, không có số tuyệt đối; các nghiên cứu khác cùng thời chỉ thấy tên trong danh mục tham khảo.
  • Mật độ cử động mắt nhanh và đặc điểm định lượng sóng răng cưa theo tuổi. Chúng tôi chưa tìm được nguồn mở được.
  • Giá trị phần trăm tuyệt đối của từng giai đoạn theo nhóm tuổi trong hai phân tích gộp của Ohayon và cộng sự và Boulos và cộng sự. Chỉ đọc được tóm tắt, không có bảng giá trị; đơn vị tuổi của hệ số N3 và REM trong phân tích của Boulos và cộng sự chưa được xác nhận.
  • Người Việt. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu PSG chuẩn hoá trên người Việt khoẻ mạnh; nguồn tiếng Việt duy nhất tìm được là một bài phổ biến kiến thức lặp lại số liệu sách giáo khoa.

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). REM, cấu trúc một đêm ngủ và ngưỡng thức tỉnh. Trong: Tập 6 — Giải phẫu và sinh lý thần kinh của giấc ngủ ở người. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giai-phau-than-kinh-giac-ngu/rem-cau-truc-dem-va-nguong-thuc-tinh/