Vật liệu
Gối memory foam (foam đàn hồi chậm, dạng khối hoặc vụn)
Gối foam polyurethane đàn hồi chậm (viscoelastic polyurethane foam pillow), dạng khối đúc/cắt hoặc foam vụn nhồi (shredded)
Cấu tạo
Gối memory foam làm từ foam polyurethane đàn hồi chậm, một loại foam PU mềm ô hở [4]. Tài liệu ngành nêu độ đàn hồi thấp của foam này phù hợp cho gối [4]. Độ nảy bi dưới 20 %, so với 50–60 % ở các loại foam PU khác [4]. Khối lượng riêng của foam đàn hồi chậm trong đồ gia dụng thường 2–6 pcf (khoảng 32–96 kg/m³) [4]. Trên thị trường có hai dạng: khối nguyên (thường có dáng lượn sóng ở chỗ kê cổ) và foam vụn nhồi trong vỏ; chúng tôi chưa tìm được tài liệu kỹ thuật mở mô tả riêng gối foam vụn. Một số gối trộn vật liệu chuyển pha (PCM); PCM hấp thụ nhiệt khi foam đạt tới điểm nóng chảy của PCM [4], nên tác dụng có giới hạn theo dung lượng.
Chỉ số đo được
| Chỉ số | Khoảng | Ghi chú | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Khối lượng riêng của foam | 32–96,1 kg/m³ | Dải khối lượng riêng của foam đàn hồi chậm trong đồ gia dụng và y tế (2–6 pcf × 16,02 kg/m³); không riêng cho gối. | [4] |
Trong khí hậu nóng ẩm
Độ mềm phụ thuộc nhiệt độ; khoảng hoạt động tối ưu do ngành nêu là 55–85 °F (khoảng 12,8–29,4 °C) [4]. Phòng không điều hoà ở miền Nam thường vượt mức trên; gối có thể mềm và lún hơn lúc thử ở cửa hàng có máy lạnh (suy luận biên tập từ [4]). Tích nhiệt vùng đầu: Jeon và cộng sự (2014) cho 20 người trẻ khoẻ nằm ngửa 30 phút trên ba loại gối; mức tăng nhiệt độ gối ở gối memory foam và gối lông vũ cao hơn có ý nghĩa so với một gối chỉnh hình [3]. Bản tóm tắt không công bố số độ, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt [3]. Ẩm: chúng tôi chưa tìm được số đo độ ẩm tại mặt tiếp xúc giữa đầu và gối memory foam. Mạt bụi: chúng tôi chưa tìm được số đo dị nguyên mạt riêng cho gối memory foam. Mùi khi mới: gối memory foam là foam PU, có cùng cơ chế phát thải như nệm foam mới (xem hồ sơ memory foam nhóm nệm).
Thử tại nhà
1) Ấn tay đo thời gian hồi ở hai nhiệt độ (phòng bật máy lạnh và phòng nóng). Tài liệu ngành không nêu số giây chuẩn [4]; phép thử chỉ để so sánh. 2) Đo chiều cao ở chỗ kê cổ và chỗ kê đầu, trước và sau khi nằm 10 phút. Một tổng quan kết luận chưa đủ bằng chứng để xác định chiều cao gối tối ưu cho nằm ngửa và nằm nghiêng [1]; tổng quan mô tả gối quá cao làm cột sống cổ gập ra trước, quá thấp làm cổ ngửa ra sau [1]. 3) Đặt nhiệt ẩm kế số mỏng dưới vỏ gối, đọc sau 30 phút nằm, so với gối khác dùng cùng loại vỏ. Giới hạn: cảm biến rẻ phản hồi chậm; một lần đo không đủ. 4) Gối foam vụn: xem có khoá kéo để bớt ruột chỉnh chiều cao hay không.
Giới hạn
Câu "gel mát lạnh", "than hoạt tính khử mùi" thường không kèm số đo; tài liệu ngành chỉ mô tả PCM có dung lượng giới hạn [4]. Câu "gối công thái học hết mỏi cổ" không được nguồn đã đọc đỡ; tổng quan Lei 2021 kết luận chưa đủ bằng chứng để xác định chiều cao gối tối ưu, và phần lớn nghiên cứu là thử ngắn hạn trên người trẻ khoẻ [1]. Kết quả nhiệt [3] so với một gối chỉnh hình cụ thể. Hai gối foam trong nghiên cứu của nhóm Gordon được đúc từ cùng một loại foam mật độ cao, không ghi là memory foam [2]; không dùng kết quả đó cho memory foam.
Nguồn
- Lei JX, Yang PF, Yang AL, Gong YF, Shang P, Yuan XC. Ergonomic Consideration in Pillow Height Determinants and Evaluation. Healthcare 2021;9(10):1333. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Gordon S, Grimmer-Somers K, Trott P. A randomized, comparative trial: does pillow type alter cervico-thoracic spinal posture when side lying? Journal of Multidisciplinary Healthcare 2011;4:321–327. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Jeon MY, Jeong H, Lee S, Choi W, Park JH, Tak SJ, Choi DH, Yim J. Improving the Quality of Sleep with an Optimal Pillow: A Randomized, Comparative Study. Tohoku J Exp Med 2014;233(3):183–188. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
- Polyurethane Foam Association. In-Touch Vol. 11, No. 1: Examining Viscoelastic Polyurethane Foam (bản sửa 2016). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30