giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Vật liệu

Vải cotton (bông)

Cotton — xơ cellulose tự nhiên từ quả bông; kiểu dệt percale (vân điểm) và sateen (vân đoạn)

Cấu tạo

Cotton là xơ cellulose lấy từ quả bông, không cần hòa tan hay tái sinh như viscose [2]. Trong các cây lấy xơ được so sánh (bông, gai dầu, lanh, cải dầu), cotton có hàm lượng cellulose bên trong xơ cao nhất; khoảng 65% vùng tinh thể và 35% vùng vô định hình [2]. Vải ga gối cotton thường gặp ở hai kiểu dệt. Percale là vải dệt vân điểm (một sợi lên, một sợi xuống), dệt chặt, thường có số sợi khoảng 200 trở lên, dùng cả sợi chải thô và sợi chải kỹ [7]. Sateen là kiểu dệt vân đoạn (họ satin) từ sợi không phải tơ tằm, mặt vải chủ yếu là sợi ngang nổi nên trơn và bóng [8]. Số sợi (thread count) theo định nghĩa ASTM là tổng số sợi dọc và sợi ngang trên một đơn vị chiều dài; sợi xe nhiều lớp vẫn chỉ tính là một sợi [5].

Chỉ số đo được

Chỉ sốKhoảngGhi chúNguồn
Độ hồi ẩm của xơ (moisture regain) 7–8 % Độ hồi ẩm ở 65% RH, 20 °C theo Morton & Hearle, dẫn lại trong bảng 10 của bài [2]. Giá trị thương mại quy ước theo ASTM D1909 là 8,5% [1].[2]

Trong khí hậu nóng ẩm

Hút ẩm: độ hồi ẩm thương mại của cotton trong bảng ASTM D1909 là 8,5%; đo ở 65% RH và 20 °C là khoảng 7–8% [2]. Đây là giá trị quy ước để tính khối lượng thương mại, không phải kết quả thí nghiệm, và độ hồi ẩm thực tế có thể khác [1]. Độ hồi ẩm tăng mạnh theo độ ẩm không khí: khoảng 6% ở 60% RH, 8% ở 80% RH và 23% ở 98% RH [2]. Phép đo của một hãng thiết bị cho cùng xu hướng: ở 25 °C, mẫu cotton tăng 8,1% khối lượng khi lên 80% RH [3]. Điều này đáng chú ý với phòng ngủ Hà Nội mùa nồm hoặc Sài Gòn mùa mưa: ga cotton đã ngậm sẵn nhiều hơi nước từ không khí trước khi người nằm lên. Tốc độ hút hơi: trong thử nghiệm thay đổi độ ẩm, tốc độ hút hơi nước của mẫu viscose và len nhanh hơn mẫu cotton; hút hơi nước là quá trình tỏa nhiệt [4]. Thoát hơi và thoáng khí: chúng tôi chưa tìm được số đo Ret hay độ thoáng khí (mm/s) công bố mở cho vải ga percale và sateen cùng loại sợi. Một bài về chỉ số hiệu năng vải trải giường ghi nhận độ thoáng khí giảm khi độ che phủ của vải tăng; nhiệt trở các mẫu vải trong bài chỉ dao động quanh 0,13–0,14 m²·°C/W, tức khác biệt rất nhỏ giữa các mẫu [9]. Trong một nghiên cứu vải dệt thoi 3/1 cùng chi số sợi và mật độ, vải cotton có độ thoáng khí và nhiệt trở cao hơn vải tre, Tencel và viscose [10].

Thử tại nhà

1) Cân khô–ẩm: cân một áo gối cotton sau khi phơi nắng khô hẳn (cân bếp, độ chia 1 g), rồi cân lại sau một đêm để trong phòng ngủ ẩm. Áo gối khoảng 150 g, nếu hút thêm 6–8% thì nặng thêm 9–12 g, đủ để cân bếp thấy. Giới hạn: phơi nắng không sấy khô tuyệt đối như lò 105 °C, nên con số chỉ để so sánh giữa các tấm ga, không thay cho độ hồi ẩm chuẩn. 2) Nhỏ giọt nước: đặt vải phẳng, nhỏ một giọt nước từ độ cao khoảng 1 cm, bấm giờ đến khi giọt mất bóng hẳn. Vải mới thường còn hồ hoặc chất làm mềm làm giọt thấm chậm; nên thử sau 2–3 lần giặt. Phép này cho biết bề mặt thấm nước lỏng nhanh hay chậm, không đo được thoát hơi (Ret). 3) Soi đèn: căng vải trước đèn bàn hoặc đèn điện thoại. Percale dệt chặt thường thấy ánh sáng xuyên đều, mịn; vải sateen số sợi cao thường đục hơn. Vải càng đục, càng dày thì không khí càng khó đi qua, nhưng đây chỉ là ước lượng bằng mắt. 4) Thổi qua vải: áp vải lên miệng và thổi nhẹ, so sánh độ cản giữa hai tấm ga. Cảm nhận chủ quan, chỉ dùng để so sánh tương đối.

Giới hạn

Số sợi cao không đồng nghĩa mát. Số sợi chỉ đếm số sợi trên một inch vuông; nhiều sợi hơn trên cùng diện tích thường làm vải dày đặc hơn, và độ thoáng khí giảm khi độ che phủ tăng [9]. Bài báo này cũng ghi nhận vải số sợi thấp có thể mềm hơn vải số sợi cao, vì kiểu dệt và loại sợi cũng quyết định độ mềm [9]. Một số nhãn tăng số sợi bằng cách đếm từng sợi con trong sợi xe. Năm 2002, hiệp hội dệt Mỹ ATMI cho rằng sợi xe phải đếm là một và cách đếm từng sợi con là gian dối; nhân viên FTC không ra ý kiến tư vấn về điểm này, nhưng nói sẽ coi trọng phương pháp đồng thuận như ASTM D3775 [6]. Định nghĩa ASTM năm 2005 ghi rõ sợi xe nhiều lớp tính là một [5]. Không có ngưỡng số sợi nào được nguồn chúng tôi đọc chứng minh là 'mát nhất'. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu mở so sánh trực tiếp percale và sateen cùng sợi về Ret hay nhiệt độ da khi ngủ. Nhãn 'cotton Ai Cập' hay 'cotton Mỹ' nói về giống bông và xuất xứ; chúng tôi chưa tìm được số đo cho thấy riêng điều này làm vải mát hơn.

Nguồn

  1. ASTM D1909-13. Standard Tables of Commercial Moisture Regains and Commercial Allowances for Textile Fibers. Trang mô tả của ASTM. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
  2. Shuvo II. Fibre attributes and mapping the cultivar influence of different industrial cellulosic crops (cotton, hemp, flax, and canola) on textile properties. Bioresources and Bioprocessing 2020;7:51. Bảng 10 (giá trị hồi ẩm thương mại dẫn theo ASTM D1909-13). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  3. Rigaku. Application note B-TA1072: Moisture Absorption of Fibers — Mass Changes Induced by Humidity Variations. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  4. Abedin F, DenHartog E. The exothermic effects of textile fibers during changes in environmental humidity: a comparison between ISO:16533 and dynamic hot plate test method. Fibers 2023;11(5):47. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  5. IDFL. Thread Count ASTM Definitions (định nghĩa ASTM mới, họp tháng 10/2005). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  6. FTC (Kolish E.D.). Thư trả lời của nhân viên FTC gửi American Textile Manufacturers Institute về cách đếm số sợi, 18/3/2002 (kèm thư đề nghị của ATMI 31/1/2002). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  7. Apparel Search. Percale fabric — Definition of Textiles. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  8. CottonWorks (Cotton Incorporated). Textile Encyclopedia: Sateen. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  9. Ahirwar M, Khatkar V, Behera BK (2022). An integrated approach to develop performance index of bed linen fabric. Journal of Industrial Textiles 51(1_suppl):842S–855S (online 14/7/2020). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  10. Nazir M.U., Shaker K., Nawab Y. và cs. Thermo-physiological Comfort of Woven Fabrics Made from Different Cellulosic Yarns. Journal of Natural Fibers 19(11):4050–4062 (2022). đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30