giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Vật liệu

Ruột chăn bông xơ polyester

Ruột chăn nhồi xơ polyester (PES) — xơ đặc, xơ rỗng (hollow fibre), tấm bông không dệt hoặc hạt bông

Cấu tạo

Ruột chăn polyester là lớp vỏ vải bọc xơ tổng hợp polyester; cách nhiệt chủ yếu nhờ lớp không khí bị giữ giữa các xơ. Trong 18 mẫu chăn do Hohenstein đo, mẫu polyester có nhiều dạng nhồi: xơ thường, xơ rỗng (hai kiểu tiết diện: chấm và hình hoa), tấm bông không dệt và dạng hạt [1]. Polyester có thể được làm để giữ không khí cách nhiệt, nhưng bản thân xơ không thoáng hơi tự nhiên [4]. Trong đợt thử 25 chăn đôi ở Hồng Kông, cả 10 chăn tổng hợp đều nhồi polyester [3]. Nhãn 'bông gòn', 'bông 3D', 'bông hollow' trên thị trường thường chỉ các dạng xơ này; nhãn không cho biết khối lượng nhồi hay nhiệt trở.

Chỉ số đo được

Chỉ sốKhoảngGhi chúNguồn
Nhiệt trở khô của vải/bộ đồ giường (Rct) 0,65–0,87 m²·K/W Nhiệt trở của các chăn polyester (M3, M4, M11, M14, M17, M18, M29) đo trên manơcanh ra mồ hôi Sherlock, buồng 15 °C, 50% RH; số đo gồm cả hệ chăn–giường. Mẫu xơ rỗng M12 không có Rc trong bảng.[1]
Trở hơi nước (Ret) 54,09–100,09 m²·Pa/W Trở hơi nước (Re) của tám chăn polyester trên manơcanh ra mồ hôi; giá trị của cả hệ nhiều lớp nên cao hơn nhiều so với thang dùng cho vải đơn lớp.[1]

Trong khí hậu nóng ẩm

Cách nhiệt: đo trên manơcanh ra mồ hôi trong buồng khí hậu 15 °C, 50% RH, chăn nằm phủ lên manơcanh trên giường, các chăn polyester có nhiệt trở 0,65–0,87 m²·K/W [1]. Quy đổi 1 tog = 0,1 m²·K/W [2], tức khoảng 6,5–8,7 tog; đây là quy đổi biên tập, vì số đo trên manơcanh gồm cả hệ chăn–giường, không phải phép đo tog chuẩn. Ngành chăn ở Anh xếp chăn mùa hè ở mức 3,0–4,5 tog [2]. Thoát hơi: trở hơi nước của các chăn polyester trải từ 54,09 đến 100,09 m²·Pa/W; tác giả không thấy tương quan giữa Re với loại ruột hay kiểu chần [1]. Nói cách khác, 'polyester' không quyết định chăn bí hay thoáng; độ dày và kết cấu quan trọng hơn. Thử trên người: ở chăn polyester M14, 1,62 g mồ hôi còn đọng lại trong chăn sau thử nghiệm, người thử thấy 'hơi ẩm', còn chăn lông vũ M5 được đánh giá 'khô' và giữ 1,31 g [1]. Trong một nghiên cứu giấc ngủ ở 17 °C và 22 °C, chăn polyester và chăn len không khác nhau về mọi chỉ số giấc ngủ [5].

Thử tại nhà

1) Cân ruột chăn: cân người (trừ khối lượng người) hoặc cân móc. Chăn đôi tổng hợp trong đợt thử Hồng Kông nặng trung bình khoảng 2,7 kg [3]; khối lượng giúp so hai chăn cùng cỡ, không thay cho số đo nhiệt trở. 2) Đo độ dày: trải chăn trên sàn phẳng, đặt nhẹ một tấm bìa A4 lên giữa, đo khoảng cách từ sàn đến bìa ở vài điểm. Chăn dày hơn thường giữ nhiều không khí hơn; một chăn polyester trong nghiên cứu đo có độ dày dao động 8,3–27,2 mm giữa các điểm [5], nên cần đo nhiều điểm. 3) Soi đèn: rọi đèn điện thoại sau chăn để xem xơ phân bố đều hay vón cục. Sau nhiều lần giặt, chỗ xơ vón sẽ mỏng ánh sáng xuyên rõ. Giới hạn: các phép này không đo được Ret hay nhiệt trở.

Giới hạn

'Bông hollow thoáng mát': hai mẫu xơ rỗng trong nghiên cứu Hohenstein có Re 100,09 và 54,09 m²·Pa/W, tức nằm ở cả hai đầu khoảng đo [1]; kiểu xơ không đủ để đoán chăn thoáng hay bí. 'Chăn hè' không có chuẩn chung ở Việt Nam; mức tog chỉ có trên một số chăn bán ở Anh, và giá trị ghi là mức tối thiểu, thực tế có thể cao hơn tới 3 tog [2]. Mẫu chăn ít cách nhiệt nhất trong 18 mẫu đo vẫn có 0,56 m²·K/W [1], tức khoảng 5,6 tog nếu quy đổi thô. Ruột tổng hợp nhìn chung giặt được và dễ chăm sóc [3]; chúng tôi chưa tìm được số đo công bố mở về mức giảm độ phồng hay nhiệt trở sau nhiều lần giặt.

Nguồn

  1. Wölfling B-M, Classen E, Gerhardts A. Characterization of the thermophysiological comfort of duvets in consideration of the bed cave. Communications in Development and Assembling of Textile Products 2020;1(1):39–47. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  2. Wikipedia. Tog (unit). (Trích định nghĩa của Peirce & Rees 1946 và bảng mức tog chăn bán ở Anh.) đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  3. Hội đồng Người tiêu dùng Hồng Kông (Consumer Council). Thông cáo báo chí kết quả thử 25 chăn đôi (tổng hợp, tơ tằm, lông vũ), CHOICE số 337, 15/11/2004. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  4. Chow C.M., Li C. (Xinzhu), Halaki M. Why can't I sleep? It could be your sheets or doona. Sleep Review (bài phổ biến của nhóm tác giả tổng quan [23]). qua nguồn thứ cấp · tra cứu 2026-10-30
  5. Shin M., Halaki M., Swan P., Ireland A., Chow C.M. The effects of fabric for sleepwear and bedding on sleep at ambient temperatures of 17°C and 22°C. Nature and Science of Sleep 2016;8:121–131 (tài trợ: Australian Wool Innovation). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30