giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục D. Mâu thuẫn giữa các nguồn và khoảng trống

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 17 phút đọc

Trong trang này

Hai phần dưới đây là phần trung thực nhất của tập. Mâu thuẫn là chỗ các nguồn cho giá trị khác nhau về cùng một đại lượng; chúng tôi ghi đủ các giá trị và nguyên nhân khả dĩ thay vì chọn một. Khoảng trống là chỗ chúng tôi chưa tìm được số đo ở người, hoặc chưa đọc được nguồn gốc.

Đo trong phòng thí nghiệm và lâm sàng#

Mâu thuẫn giữa các nguồn#

  • Độ đồng thuận giữa người chấm cho N1: 0,24, 0,31 hay 63%?. Ba con số đo ba thứ khác nhau: kappa gộp từ 11 nghiên cứu (0,24), kappa giữa 9 trung tâm trên 15 PSG (0,31), và phần trăm đồng thuận với lựa chọn đa số của >2.500 người chấm (63,0%). Phần trăm đồng thuận không hiệu chỉnh cho đồng thuận ngẫu nhiên và so với đa số (mà chính người chấm góp phần tạo ra) nên luôn cao hơn kappa. Không được ghép '63%' với 'kappa 0,24' như hai mức độ khác nhau của cùng chỉ số. (dữ kiện b1-019, b1-020, b1-017)
  • Hiệu ứng đêm đầu có còn đáng kể không?. Sprajcer 2022 (124 người trẻ khoẻ, phòng thí nghiệm) không thấy khác biệt về TST, SE, WASO, thời gian vào giấc — chỉ thấy N1 tăng, N2/N3 giảm; Hof 2021 (20 vận động viên, PSG tự gắn tại nhà) thấy SE thấp hơn 4 điểm % và thức nhiều hơn ~18 phút ở đêm 1. Với AHI, Roeder 2020 thấy đêm 1 thấp hơn 1,7/giờ nhưng không có ý nghĩa. Nguyên nhân khả dĩ: quần thể (người trẻ quen nghiên cứu so với vận động viên/bệnh nhân), tự gắn thiết bị tại nhà, cỡ mẫu, và biến thiên giữa cá nhân rất lớn (SD TST 84 phút) — trung bình nhóm không có ý nghĩa không loại trừ hiệu ứng mạnh ở từng người. (dữ kiện b1-026, b1-027, b1-028, b1-032)
  • Một đêm đo bỏ sót bao nhiêu ca OSA: 10–12% hay 20–50%?. Roeder 2020 gộp 24 nghiên cứu (17 dùng PSG, chỉ 8 ghi hơn 2 đêm), so đêm 1 với đêm 2 → 10–12% bị bỏ sót tuỳ ngưỡng 5/10/15 mỗi giờ. Lechat 2022 dùng cảm biến dưới đệm ~170 đêm/người trên người dùng tự mua thiết bị, OSA định nghĩa AHI > 15/giờ, tham chiếu là AHI trung bình nhiều đêm (thư phản hồi: 28 đêm) → 20–50% (thư phản hồi: ~21% âm tính giả). Khác tham chiếu (đêm thứ hai so với trung bình nhiều tuần), số đêm, quần thể và sai số đo riêng của cảm biến dưới đệm; hai con số không trích thay thế nhau. (dữ kiện b1-033, b1-034)
  • Đo tại nhà cho AHI tương đương hay thấp hơn phòng thí nghiệm?. Iber 2004 thấy RDI (giảm bão hoà 3%) tại nhà không khác phòng thí nghiệm (trung vị 12,4 so với 9,5/giờ; p = 0,41) — nhưng đó là PSG đầy đủ có EEG tại nhà, mẫu số là thời gian ngủ thật. AASM 2017 nêu HSAT (không EEG) có xu hướng đánh giá thấp AHI do dùng thời gian ghi làm mẫu số và bỏ sót giảm thở chỉ kèm vi thức tỉnh. WatchPAT (Pillar 2020, do Itamar tài trợ; đo đồng thời với PSG trong phòng thí nghiệm, PSG chấm theo 3%/vi thức tỉnh) có PSG thấp hơn WatchPAT trung bình 0,77/giờ nhưng SD 10,7/giờ. Khác biệt chủ yếu do loại thiết bị và quy tắc chấm, không phải do "nhà so với phòng thí nghiệm". (dữ kiện b1-025, b1-054, b1-055, b1-058)
  • Đổi R&K → AASM làm N3 tăng hay giảm, và vì sao?. Không phải mâu thuẫn mà là hai yếu tố gộp: Moser 2009 (CSDL SIESTA, do Siesta Group tài trợ) thấy N3 theo AASM cao hơn S3+S4 theo R&K 9,1 phút; Ruehland 2011 cho thấy chỉ riêng việc thêm đạo trình trán (cấu hình AASM) đã làm N3 tăng 10,6 phút. Danker-Hopfe 2009 (cùng CSDL SIESTA) cho thấy kappa tổng tăng (0,68 → 0,76) nhưng đồng thuận N2 giảm. So sánh tỉ lệ N3 qua các thập kỷ phải tính cả quy tắc chấm lẫn cấu hình điện cực. (dữ kiện b1-007, b1-009, b1-014, b1-015)
  • Số trong cùng một bài không thống nhất (lỗi nội tại). Arnal 2020: độ chính xác Dreem 83,5 ± 6,4% (tóm tắt và Bảng 4) so với 83,8 ± 6,8% (Kết quả); độ chính xác người chấm 86,4 ± 8,0% (tóm tắt và Bảng 4) so với ± 7,4% (Kết quả). Roeder 2020: cận trên KTC 0,02 (tóm tắt) so với 0,20 (Kết quả). Pillar 2020: Spearman (Kết quả) so với Pearson (Phương pháp); r AHI trung ương 0,90 (tóm tắt) so với 0,80 (chú thích hình). Khi dùng, ghi theo tóm tắt và nêu chênh lệch. (dữ kiện b1-061, b1-062, b1-032, b1-059)

Khoảng trống#

  • Không mở được trang AASM Scoring Manual nguyên văn (trả phí) nên chưa có câu trích chính thức cho: epoch 30 giây, danh sách kênh khuyến nghị (EEG F4-M1/C4-M1/O2-M1, EOG, EMG cằm, cảm biến nhiệt mũi–miệng, áp lực mũi, RIP, SpO2, ECG, EMG chân), nhãn quy tắc giảm thở 1A/1B. Cũng chưa đọc trực tiếp Rechtschaffen & Kales 1968 và Silber 2007 (JCSM).
  • Europe PMC REST bị giới hạn tần suất (RATE_LIMIT) suốt lượt làm việc; PMC/jcsm.aasm.org bị captcha/chặn → nhiều bài JCSM chỉ đọc qua tóm tắt PubMed hoặc bản PDF lưu trên aasm.org/eScholarship.
  • Phân tích gộp giá trị MSLT bình thường ở người lớn (Iskander 2023, Sleep Med 109:143-148, PMID 37442016) — đã xác định nhưng không đọc được tóm tắt; có cả đính chính (PMID 37611489).
  • Phân tích gộp hiệu ứng đêm đầu (Ding 2022, Sleep Med 89:159-165; Hu 2024, J Sleep Res 33:e13942 về mất ngủ) — chưa đọc được.
  • Trotti 2013 và Ruoff 2018 (JCSM) về test–retest MSLT chỉ có số liệu qua tổng quan Hàn Quốc dẫn lại.
  • Magalang 2016 (JCSM 12(1):71-77) về đồng thuận chấm HSAT giữa các trung tâm — đã xác định nhưng chưa đọc.
  • Hướng dẫn AASM về MSLT/MWT 2005 (Littner) chỉ đọc tóm tắt; giá trị MWT người khoẻ (Doghramji 1997) chỉ có qua dẫn lại (30,4 ± 11,2 phút).
  • Phân tích gộp WatchPAT (Yalamanchali 2013) chưa đọc trực tiếp; U-Sleep (Perslev 2021, npj Digit Med) không mở được; chưa có nghiên cứu thẩm định Dreem/EEG trán tại nhà (ngoài phòng thí nghiệm).
  • Lim & Dinges 2008 và Dinges & Powell 1985 (nguồn gốc PVT 10 phút, ngưỡng lapse 500 ms) chưa đọc trực tiếp; ngưỡng 500 ms chỉ có qua Basner 2011.
  • Chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam về độ tin cậy chấm PSG, HSAT, MSLT hay PVT. Nguồn châu Á có: Lee 2022 (Hàn Quốc), Hong 2023 (Hàn Quốc), SAGIC có trung tâm Đài Loan.
  • Tài trợ của Lechat 2022 (dữ liệu Withings) chưa kiểm được từ tóm tắt.

Đo bằng thiết bị ngoài phòng thí nghiệm#

Mâu thuẫn giữa các nguồn#

  • Độ chính xác phân giai đoạn của nhẫn Oura: nghiên cứu do hãng tài trợ/tác giả hãng so với nghiên cứu độc lập. Altini & Kinnunen 2021 (tác giả là nhân viên/cố vấn Oura) báo độ chính xác 4 giai đoạn 79%; Robbins 2024 (Oura tài trợ, tác giả đầu là cố vấn Oura) báo kappa 4 giai đoạn 0,65 — cao nhất trong 3 thiết bị; Lee 2023 (độc lập, Hàn Quốc) cho Oura Ring 3 kappa 0,35 và độ chính xác 0,54; Miller 2022 (độc lập với Oura nhưng nhóm nhận hỗ trợ WHOOP) cho Oura Gen 2 nhiều giai đoạn 61%, kappa 0,43. Nguyên nhân khả dĩ: tài trợ/xung đột lợi ích, quần thể (người khoẻ trẻ so với người có than phiền giấc ngủ, AHI TB 18), thế hệ thiết bị và phiên bản thuật toán (Gen 2 so với Gen 3/OSSA 2.0), cách ánh xạ giai đoạn. (dữ kiện b2-046, b2-045, b2-037, b2-030)
  • Apple Watch: kappa phân giai đoạn khác nhau rất xa giữa các nghiên cứu. Apple (tài liệu của hãng) báo kappa 4 giai đoạn 0,63 (thuật toán 2022) → 0,68 (2025); Robbins 2024 (Apple Watch S8) 0,60; Lee 2023 (Apple Watch 8, người có than phiền giấc ngủ) 0,30; Miller 2022 (Apple Watch S6, 3 trạng thái) 0,20. Schyvens 2025 báo kappa 0,53 nhưng là trong bảng ngủ/thức. Nguyên nhân khả dĩ: phiên bản thuật toán (S6 năm 2022 có thể chưa dùng thuật toán giai đoạn của Apple), số lớp giai đoạn (2/3/4), quần thể (khoẻ so với ngưng thở), tác giả là hãng hay độc lập. (dữ kiện b2-051, b2-046, b2-037, b2-032, b2-030)
  • Radar Google Nest Hub: thẩm định của hãng so với thẩm định độc lập. Báo cáo của tác giả Google: độ chính xác ngủ/thức 87%, phát hiện 96% epoch ngủ và 55% epoch thức ở người ngủ khoẻ. Lee 2023 (độc lập): Nest Hub 2 kappa 4 giai đoạn 0,06, độ chính xác 0,41. Hai kết quả đo hai việc khác nhau (2 lớp so với 4 lớp) và trên quần thể khác nhau (khoẻ so với có than phiền giấc ngủ), cộng thêm khác biệt về người thực hiện (hãng so với độc lập) và phiên bản phần mềm. (dữ kiện b2-057, b2-058)
  • Actigraphy ở người mất ngủ: tương đương PSG hay bỏ sót thức?. Williams 2020 (21 người trẻ mất ngủ, 1 đêm PSG lưu động) không thấy khác biệt có ý nghĩa giữa actigraphy và PSG; Sivertsen 2006 (34 người TB 60,5 tuổi mất ngủ) thấy actigraphy đánh giá thấp thức và SOL, đánh giá cao TST/SE và bỏ sót hiệu quả can thiệp. Nguyên nhân khả dĩ: tuổi (người cao tuổi nằm yên khi thức nhiều hơn), SE nền thấp hơn, cỡ mẫu nhỏ và 1 đêm (thiếu sức mạnh thống kê để phát hiện khác biệt), khác thiết bị/thuật toán; "không khác có ý nghĩa" không đồng nghĩa với đồng thuận tốt. (dữ kiện b2-017, b2-015, b2-016)
  • Chiều sai lệch WASO của actigraphy: người lớn so với trẻ em. Ở người lớn, actigraphy thường đánh giá thấp WASO (Conley 2019: −12,87 phút; Marino 2013: 36,8 so với 49,1 phút). Ở trẻ 3–18 tuổi (Meltzer 2012), cả AMI Motionlogger và Actiwatch-2 lại đánh giá cao WASO có ý nghĩa. Nguyên nhân khả dĩ: trẻ cử động nhiều khi ngủ (bị chấm là thức), cài đặt độ nhạy/thuật toán, nhóm tuổi; vì vậy không thể dùng một "hệ số hiệu chỉnh" chung. (dữ kiện b2-012, b2-018, b2-004)
  • Tỉ lệ orthosomnia: ~31% hay 3–14%?. Goel 2026 báo 30,9% người theo dõi giấc ngủ dương tính sàng lọc (PHQ-2 hiệu chỉnh, mẫu Mỹ đại diện địa lý, tóm tắt hội nghị, có tài trợ của Oura); Jahrami 2024 báo 3,0–14,0% toàn mẫu (thuật toán kết hợp sở hữu thiết bị + AIS + GAD-7 + APSQ, mẫu thuận tiện, 81% nữ). Mẫu số khác nhau (người theo dõi so với toàn mẫu), định nghĩa khác nhau (lo lắng với dữ liệu so với mất ngủ + bận tâm), không công cụ nào được thẩm định với chẩn đoán lâm sàng. Ngoài khoản tặng của Oura, tác giả cuối của Goel 2026 (R. Robbins) là thành viên Hội đồng cố vấn y khoa Oura. (dữ kiện b2-092, b2-093)
  • Màu da và độ chính xác PPG. Máy đo oxy xung lâm sàng bỏ sót thiếu oxy ở người Da đen nhiều gấp 3 (Sjoding 2020) và sai lệch lớn hơn ở bão hoà thấp (Bickler 2005); với đồng hồ, Jiang 2023 thấy liên quan giữa sắc da Fitzpatrick và sai lệch SpO2 (p = 0,04) nhưng không thấy theo ITA; Bent 2020 không thấy khác biệt độ chính xác nhịp tim theo sắc da. Nguyên nhân khả dĩ: đại lượng khác nhau (SpO2 so với nhịp tim — SpO2 phụ thuộc tỉ lệ hấp thụ hai bước sóng, nhạy với melanin hơn), dải bão hoà (đa số người khoẻ có SpO2 > 90%, nơi sai lệch nhỏ), cách đo sắc da, cỡ mẫu nhỏ ở nhóm da sẫm. (dữ kiện b2-064, b2-069, b2-073, b2-072)
  • Đồng hồ sàng lọc ngưng thở: độ nhạy cao hay thấp?. Apple (gia tốc kế, ngưỡng thiết kế cho đặc hiệu cao): độ nhạy 66,3%, đặc hiệu 98,5%; phân tích gộp 12 nghiên cứu (AHI ≥ 5): độ nhạy 88,6%, đặc hiệu 73,0%; Galaxy Watch (eAHI ≥ 15): độ nhạy 94,1%, đặc hiệu 66,7%. Khác nhau do ngưỡng AHI mục tiêu (≥ 5 so với ≥ 15), chọn điểm cắt (ưu tiên đặc hiệu để giảm báo động giả trong cộng đồng so với ưu tiên nhạy), quần thể (cộng đồng so với nguy cơ cao), chuẩn so sánh (HSAT so với PSG) và người thực hiện (hãng so với độc lập). (dữ kiện b2-078, b2-080, b2-081)
  • Độ lệch TST gần 0 nhưng sai số từng đêm lớn. Không phải mâu thuẫn giữa nguồn mà là cạm bẫy diễn giải: Panesar 2025 (TST lệch 1,28 phút nhưng LoA ±90 phút), Miller 2022 (Oura lệch +1,5 phút nhưng sai số tuyệt đối 29 phút), Schyvens 2025 (Fitbit Sense lệch +6,3 phút nhưng LoA −125 đến +137 phút). Độ lệch trung bình nhỏ ở cấp nhóm không có nghĩa thiết bị đúng cho từng người/từng đêm. (dữ kiện b2-021, b2-031, b2-033)

Khoảng trống#

  • Không đọc được toàn văn tổng quan hệ thống AASM 2018 (Smith và cs., J Clin Sleep Med 14(7):1209–1230; PMC6040804) do Europe PMC liên tục giới hạn truy cập và PMC bị captcha: thiếu số độ lệch gộp TST/SOL/WASO/SE của actigraphy so với PSG và so với nhật ký ở người lớn/trẻ em mất ngủ, cũng như ngưỡng "ý nghĩa lâm sàng" AASM dùng.
  • Không mở được bài gốc Baron và cs. 2017 'Orthosomnia: are some patients taking the quantified self too far?' (J Clin Sleep Med 13(2):351–354; DOI 10.5664/jcsm.6472) — chưa có số ca, đặc điểm ca bệnh; chỉ có nguồn thứ cấp (Sleep Foundation) mô tả là "ca bệnh số lượng nhỏ".
  • Không mở được toàn văn tuyên bố AASM 2018 về công nghệ giấc ngủ tiêu dùng (Khosla và cs.); chỉ đọc qua bản tin.
  • Chưa tìm được nghiên cứu định lượng tỉ lệ nghiên cứu thẩm định thiết bị giấc ngủ tiêu dùng có tài trợ hoặc tác giả của hãng (tổng quan SRS 2024 chỉ nêu xu hướng tăng, không có con số). Bài 'Toward better evaluation of consumer sleep technologies: a call for rigor, context, and collaboration' (PMC12510450) có thể có số nhưng không mở được.
  • Chưa đọc được de Zambotti và cs. 2019 'The sleep of the ring' (Oura so với PSG, Behav Sleep Med) — trang Taylor & Francis và Europe PMC đều không truy cập được.
  • Không đọc được mục tài trợ/công bố xung đột lợi ích của Chinoy 2021, Schyvens 2025, Menghini 2021 và tổng quan SRS 2024 (de Zambotti 2024).
  • Bài gốc Sjoding 2020 (NEJM) chỉ đọc qua tuyên bố APSF: thiếu cỡ mẫu (số bệnh nhân, số cặp đo).
  • Bài gốc về Galaxy Watch phát hiện ngưng thở (DOI 10.1007/s44470-026-00159-8) không mở được: chưa rõ tác giả, tạp chí, tài trợ (khả năng Samsung tham gia).
  • Chưa có nghiên cứu thẩm định thiết bị giấc ngủ tiêu dùng hoặc actigraphy thực hiện ở Việt Nam; dữ liệu châu Á tìm được: Hàn Quốc (Lee 2023, 11 thiết bị), Nhật Bản (Liang 2019, Fitbit Charge 2), Singapore (vị thành niên trong dữ liệu Oura của Altini 2021).
  • Chưa có dữ liệu thẩm định riêng cho Garmin/Whoop/Samsung/Xiaomi ở người cao tuổi hoặc trẻ em; dữ liệu actigraphy ở trẻ nhũ nhi chưa thu thập.
  • Chưa thu thập số liệu thẩm định độc lập cho cảm biến dưới nệm Withings Sleep Analyzer với chỉ số ngưng thở, và radar thế hệ khác (vd Somnofy).

Đo bằng lời người ngủ, đo nhịp sinh học và đo buồn ngủ#

Mâu thuẫn giữa các nguồn#

  • Điểm cắt PSQI và độ chính xác: > 5 hay ≥ 5, và độ nhạy/độ đặc hiệu bao nhiêu. Gốc Buysse 1989: > 5, độ nhạy 89,6%/độ đặc hiệu 86,5%; Backhaus 2002: 98,7%/84,4%; bản Việt ở sinh viên: ≥ 5, 78,1%/75,6%; bản Hàn chọn 8,5, bản Trung 6. Nguyên nhân khả dĩ: so sánh nhóm cực đoan (bệnh nhân đã chẩn đoán so với người khoẻ) cho số cao hơn sàng lọc cộng đồng; chuẩn tham chiếu khác nhau (chẩn đoán lâm sàng so với tiêu chí tự báo cáo, nghiên cứu Việt Nam không nêu rõ chuẩn ROC); khác văn hoá/ngôn ngữ. Các nghiên cứu Việt Nam dùng lẫn ≥ 5 và > 5 nên tỉ lệ "ngủ kém" không so trực tiếp được. (dữ kiện b3-004, b3-014, b3-099, b3-097, b3-101, b3-103)
  • PSQI có khớp với số đo khách quan không. Backhaus: tương quan với PSG "thấp hơn" (vẫn có); Grandner: không tương quan với bất kỳ biến actigraphy nào; Zak: thành phần thời lượng khớp actigraphy nhưng vào giấc và hiệu quả thì không. Khả năng: so điểm tổng hay từng thành phần; hồi tưởng 1 tháng so với vài đêm đo; quần thể (mất ngủ lâm sàng so với người khoẻ có biên độ hẹp). PSQI khớp với nhật ký (cùng là lời người ngủ) hơn là với máy đo. (dữ kiện b3-015, b3-016, b3-017, b3-006)
  • PSQI có một, hai hay ba yếu tố. Trong 34 nghiên cứu CFA: 13 ra 2 yếu tố, 8 ra 3 yếu tố, 9 ra 1 yếu tố; Mollayeva xếp giá trị cấu trúc "vừa phải". Khác biệt do quần thể, ngôn ngữ, phương pháp trích yếu tố. Hệ quả: dùng một điểm tổng duy nhất (và một điểm cắt) là đơn giản hoá. (dữ kiện b3-009, b3-011, b3-012, b3-008)
  • ESS tương quan với MSLT mạnh hay yếu. ATS ghi r = 0,51 (và cùng trang lại nói không có liên quan có ý nghĩa); tổng quan Kendzerska 2014 cho tương quan gộp ρ = −0,27 (yếu); bài gốc Johns báo có tương quan có ý nghĩa. Nguyên nhân: nghiên cứu đơn lẻ trên mẫu lâm sàng hẹp so với gộp nhiều quần thể; MSLT tự nó dao động (42% đổi phía ngưỡng 8 phút khi đo lại); ESS hỏi xu hướng ngủ gật thường ngày còn MSLT đo khả năng vào giấc trong phòng thí nghiệm một ngày. (dữ kiện b3-038, b3-040, b3-034, b3-046)
  • ESS tin cậy cao (nhóm) nhưng không ổn định (cá nhân). Tương quan đo lặp lại 0,81–0,93 và ở sinh viên khoẻ chỉ 3% chênh ≥ 5 điểm; nhưng ở bệnh nhân phòng khám 37% chênh ≥ 3 và 14% chênh ≥ 5 điểm, kappa phân loại ≥ 11 chỉ 0,5–0,7. Hệ số tương quan cao ở cấp nhóm không nói lên độ ổn định của từng người; quần thể lâm sàng dao động nhiều hơn người khoẻ. (dữ kiện b3-037, b3-043, b3-044, b3-045, b3-041, b3-042)
  • ISI: độ tin cậy, điểm cắt và ngưỡng thay đổi có ý nghĩa. Alpha 0,74 (Bastien 2001) so với 0,90–0,91 (Morin 2011); điểm cắt 10 (cộng đồng), 11 (lâm sàng), 8 (người trẻ Hồng Kông, Wong 2017); nghiên cứu ở Việt Nam (sinh viên Ấn Độ) chỉ áp dụng ngưỡng ≥ 8 mà không thẩm định. Thay đổi có ý nghĩa: 6 điểm (Yang 2009), > 7 cho cải thiện vừa và > 8 (tức ≥ 9) cho cải thiện rõ rệt (Morin 2011), 5 (Lenderking 2024, bản 6 câu, Eisai tài trợ). Nguyên nhân: cỡ mẫu và quần thể; chuẩn chẩn đoán; phương pháp (mỏ neo so với ROC); nguồn tài trợ. Dùng ≥ 8 tính cả nhóm "dưới ngưỡng" nên tỉ lệ "mất ngủ" tăng mạnh. (dữ kiện b3-027, b3-020, b3-021, b3-022, b3-031, b3-108, b3-028, b3-025, b3-030)
  • Người ta khai giờ ngủ dư hay thiếu so với máy đo. Ở dân số chung, tự báo cáo dư 31–73 phút so với actigraphy/EEG/PSG (CARDIA, MESA, Dietch); ở người mất ngủ và người có rối loạn lo âu, nhật ký thấp hơn PSG khoảng 50–54 phút; ở người ngưng thở có cả hai hướng (22,5% thấp, 10,6% cao). Nguyên nhân: loại câu hỏi (giờ ngủ "thường lệ" so với nhật ký sáng hôm sau), quần thể (mất ngủ, lo âu, ngưng thở), chuẩn so (actigraphy hay ghi thiếu thức yên lặng nên chính nó cũng cho TST dài), hiệu ứng đêm đầu trong phòng thí nghiệm. (dữ kiện b3-054, b3-056, b3-057, b3-050, b3-061, b3-064, b3-066, b3-063)
  • Người mất ngủ có cảm nhận "đang thức" khi ngủ nhiều hơn người khoẻ không. Các thí nghiệm đánh thức cũ (Borkovec 1981, Mercer 2002) thấy người mất ngủ báo "thức" nhiều hơn; nghiên cứu 2025 (30 + 30, EEG mật độ cao) thấy khoảng một nửa số lần đánh thức NREM được báo là "thức" ở cả hai nhóm, không khác nhau. Khả năng: cỡ mẫu nhỏ ở nghiên cứu cũ, khác giai đoạn và thời điểm đánh thức, cách đặt câu hỏi, định nghĩa nhóm mất ngủ; chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt/thông cáo nên chưa so được chi tiết. (dữ kiện b3-068, b3-069, b3-060, b3-070, b3-071)
  • Mức ánh sáng mờ cho DLMO. Cùng một tổng quan ghi < 50 lux (chữ) và < 30 lux (bảng); nghiên cứu thẩm định dùng < 20 lux trong phòng thí nghiệm. Ánh sáng ức chế melatonin theo liều, nên ngưỡng lux khác nhau cho DLMO khác nhau; tại nhà không kiểm soát được ánh sáng là một nguồn lệch 37–54 phút. (dữ kiện b3-074, b3-077)
  • Tỉ lệ "ngủ kém" theo PSQI ở sinh viên Việt Nam dao động 33,8%–81,5%. Khác điểm cắt (≥ 5 so với > 5, nhiều bài không ghi), cách lấy mẫu (thuận tiện trực tuyến, tỉ lệ trả lời 32% đến 90%), thời điểm (giãn cách COVID-19 năm 2021), ngành học và cỡ mẫu (124 đến 1.502). Không có bản PSQI Việt được thẩm định so với chuẩn khách quan nên không biết con số nào gần thực tế hơn. (dữ kiện b3-104, b3-105, b3-103, b3-106, b3-099)

Khoảng trống#

  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu thẩm định đầy đủ PSQI tiếng Việt ở người lớn cộng đồng: bản 2014 chỉ thẩm định ngôn ngữ trên 10 bệnh nhân; nghiên cứu sinh viên 2024 (alpha 0,68) dùng chuẩn tham chiếu tự báo cáo trích từ chính PSQI; nghiên cứu methadone 2026 chỉ 80 người. Chưa có phân tích yếu tố, chưa có so sánh với PSG/actigraphy cho bản Việt. Đây là một phát hiện.
  • Chúng tôi chưa tìm được bản tiếng Việt đã thẩm định của thang buồn ngủ Epworth (ESS); danh sách 66 bản dịch trên trang ATS không có tiếng Việt. Dữ liệu Benin cho thấy các câu về đọc sách, xem TV, lái ô tô có thể không hợp với một phần dân số — chưa có dữ liệu Việt Nam.
  • Chúng tôi chưa tìm được bản ISI tiếng Việt đã thẩm định (alpha, điểm cắt, ROC); các nghiên cứu ở Việt Nam dùng ISI với ngưỡng ≥ 8 mà không thẩm định. Trang ATS không liệt kê bản tiếng Việt.
  • Chưa tìm được nghiên cứu PSQI ở công nhân khu công nghiệp/người làm ca ở Việt Nam.
  • Chưa tìm được dữ liệu MEQ, MCTQ, jet lag xã hội hay DLMO ở người Việt Nam; dữ liệu châu Á gần nhất là khảo sát Nhật Bản (Komada 2019).
  • Chưa có số liệu định lượng về nhiệt độ lõi cơ thể (core body temperature) làm chỉ dấu pha sinh học (thời điểm cực tiểu, quy trình constant routine, tương quan với DLMO) — không mở được nguồn phù hợp trong lượt này.
  • Không đọc được (PubMed/PMC chặn bằng captcha hoặc trang lỗi): Taylor 2018 (ESS đo lặp lại ở phòng khám), Johns 1992 (độ tin cậy ESS), Buysse 2008 JCSM (PSQI/ESS so với PSG ở cộng đồng), toàn văn Carney 2012 (số câu bản lõi CSD), tỉ lệ cụ thể trong Mercer 2002, toàn văn Schneider 2025 (Sci Rep), toàn văn Roenneberg 2012 (tỉ lệ jet lag xã hội ≥ 1 giờ ở châu Âu), bài gốc Yang 2009 (MCID ISI), bài gốc Buysse 2010 PROMIS (độ tin cậy).
  • Chưa có số đo độ tin cậy (alpha, test-retest) của PROMIS Rối loạn giấc ngủ từ nguồn đã mở; trang C-Path ghi "chưa xác định".
  • Chưa có nghiên cứu nhật ký giấc ngủ (CSD hay nhật ký khác) bản tiếng Việt, cũng như so sánh nhật ký với actigraphy/PSG ở người Việt.
  • Thiếu giới hạn đồng thuận Bland–Altman cho nhật ký so với PSG trong các tóm tắt đã đọc (Dietch 2021 chỉ cho độ lệch trung bình và tương quan).

Viết tắt trong trang

AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
AHI
chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
DLMO
thời điểm bắt đầu tiết melatonin trong ánh sáng mờ (dim light melatonin onset)
ECG
điện tâm đồ (electrocardiography)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
ESS
thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
HSAT
đa ký hô hấp tại nhà (home sleep apnea test)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
MCID
mức thay đổi tối thiểu có ý nghĩa lâm sàng (minimal clinically important difference)
MCTQ
bảng hỏi kiểu thời gian Munich (Munich ChronoType Questionnaire)
MEQ
bảng hỏi kiểu sáng–tối (Morningness–Eveningness Questionnaire)
MSLT
nghiệm pháp đo độ trễ vào giấc nhiều lần (multiple sleep latency test)
MWT
nghiệm pháp duy trì tỉnh táo (maintenance of wakefulness test)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OSA
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
PPG
quang thể tích ký (photoplethysmography)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
PVT
bài kiểm tra cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task)
RDI
chỉ số rối loạn hô hấp (respiratory disturbance index)
SOL
thời gian đi vào giấc ngủ (sleep onset latency)
TST
tổng thời gian ngủ (total sleep time)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục D. Mâu thuẫn giữa các nguồn và khoảng trống. Trong: Tập 9 — Đo giấc ngủ: đa ký, thiết bị đeo, thang tự báo cáo và độ lệch của từng phép đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/do-giac-ngu/phu-luc-d-mau-thuan-va-khoang-trong/