Chương này hỏi: các thang tự báo cáo phổ biến nhất về giấc ngủ đo cái gì, tin cậy tới đâu, và điểm cắt của chúng đến từ đâu? Ba thang chính là chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI), chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) và thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale, ESS). Chương cũng xét nhật ký giấc ngủ đồng thuận (Consensus Sleep Diary, CSD), thang buồn ngủ Karolinska (Karolinska Sleepiness Scale, KSS) và một ngân hàng câu hỏi của PROMIS (Patient-Reported Outcomes Measurement Information System). Các thang này đo trải nghiệm của người ngủ khá nhất quán ở cấp nhóm, nhưng khớp kém với số đo khách quan. Điểm cắt của chúng phụ thuộc mạnh vào thiết kế nghiên cứu gốc. Ở Việt Nam, PSQI tiếng Việt mới qua thẩm định ngôn ngữ và vài phép đo độ tin cậy. Chúng tôi chưa tìm được bản Việt nào của PSQI, ISI hay ESS được thẩm định so với chuẩn khách quan hay chẩn đoán lâm sàng. Vì vậy các tỉ lệ "ngủ kém" từ 33,8% đến 91,6% trong nghiên cứu Việt Nam không so trực tiếp được với nhau.
Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh#
PSQI gồm 19 câu tự trả lời, gộp thành 7 thành phần (Buysse và cs., 1989). Đó là chất lượng giấc ngủ chủ quan, thời gian vào giấc, thời lượng ngủ, hiệu quả giấc ngủ thường lệ, rối loạn giấc ngủ, dùng thuốc ngủ và rối loạn chức năng ban ngày. Mỗi thành phần chấm 0–3, nên điểm tổng chạy từ 0 đến 21; điểm cao là ngủ kém. Bản gốc còn 5 câu dành cho người ngủ cùng giường, không tính điểm. PSQI hỏi về giấc ngủ trong 1 tháng vừa qua. Nó đo cảm nhận tổng quát chứ không đo một đêm cụ thể như đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) hay nhật ký.
Điểm cắt gốc là điểm tổng > 5. Ngưỡng này phân biệt người ngủ kém với người ngủ tốt với độ nhạy 89,6% và độ đặc hiệu 86,5% (kappa = 0,75). Mẫu gồm 168 người Mỹ: 52 người khoẻ, 54 bệnh nhân trầm cảm và 62 bệnh nhân rối loạn giấc ngủ đã được chẩn đoán. Thiết kế so sánh nhóm đã biết như vậy, đặt người khoẻ cạnh bệnh nhân rõ ràng, thường thổi phồng độ chính xác so với khi dùng sàng lọc ở cộng đồng (thiên lệch phổ bệnh, spectrum bias). Ở 80 bệnh nhân mất ngủ nguyên phát và 45 người khoẻ tại Đức, cùng ngưỡng > 5 cho độ nhạy 98,7% và độ đặc hiệu 84,4% (Backhaus và cs., 2002). Đó cũng là một so sánh nhóm cực đoan.
Về độ tin cậy, bảng tóm tắt của Hội Lồng ngực Mỹ (American Thoracic Society, ATS) ghi alpha của Cronbach 0,83 (ATS, 2026). Hệ số tương quan đo lặp lại là 0,85, lấy từ nghiên cứu gốc. Đây là hệ số tương quan r, không phải hệ số tương quan nội lớp (intraclass correlation coefficient, ICC) hay giới hạn đồng thuận, và trang không ghi khoảng cách giữa hai lần đo. Ở 80 bệnh nhân mất ngủ nguyên phát, tương quan đo lặp lại là 0,87 với khoảng cách 2 ngày hoặc vài tuần (Backhaus và cs., 2002). Tổng quan hệ thống của Mollayeva và cộng sự gộp 37 nghiên cứu, nhưng chỉ 3 nghiên cứu xét độ tin cậy đo lặp lại (Mollayeva và cs., 2016). Tổng quan đánh giá độ tin cậy và giá trị là "mạnh", riêng giá trị cấu trúc yếu tố chỉ "vừa phải". Ở so sánh nhóm đã biết, điểm tổng và mọi thành phần phân biệt được nhóm, trừ thành phần "rối loạn giấc ngủ".
Cấu trúc yếu tố là chỗ yếu nhất. Một tổng quan hệ thống 45 bài xét số chiều của PSQI (Manzar và cs., 2018). Trong phân tích yếu tố khám phá, 5 nghiên cứu ra cấu trúc 1 chiều, 17 ra 2 chiều và 8 ra 3 chiều. Trong 34 nghiên cứu dùng phân tích yếu tố khẳng định, 8 ủng hộ mô hình 3 yếu tố, 13 ủng hộ 2 yếu tố và 9 ủng hộ 1 yếu tố. Tác giả kết luận các cấu trúc này "cần thẩm định thêm". Tổng quan do Đại học Mizan-Tepi (Ethiopia) cấp kinh phí. SL Hệ quả thực tế là việc cộng 7 thành phần thành một điểm duy nhất, rồi cắt điểm đó bằng một ngưỡng, là một sự đơn giản hoá chưa được ủng hộ chắc chắn.
PSQI khớp với lời người ngủ hơn là với máy đo. ATS ghi PSQI có "giá trị đáng ngờ" khi so với số đo khách quan như PSG và actigraphy, và điểm cắt có thể khác ở quần thể khác. Ở bệnh nhân mất ngủ, PSQI tương quan cao với nhật ký giấc ngủ nhưng thấp hơn với PSG; tóm tắt không cho hệ số (Backhaus và cs., 2002). Ở 112 người tình nguyện không có bệnh (53 người trẻ, 59 người lớn tuổi) tại Mỹ, PSQI tương quan rõ với nhật ký và thang trầm cảm. Nó không tương quan với bất kỳ biến actigraphy nào (Grandner và cs., 2006). Actigraphy là phép ước tính ngủ–thức từ gia tốc kế đeo cổ tay, được bàn ở chương actigraphy của tập này. Ở 71 phụ nữ khoẻ 40–50 tuổi, thành phần thời lượng của PSQI khớp với actigraphy, còn thành phần vào giấc và hiệu quả giấc ngủ thì không (Zak và cs., 2022).
PSQI cũng không đo cùng thứ với buồn ngủ ban ngày. Ở 236 người được chuyển đi đo PSG tại Canada, tương quan giữa PSQI và ESS chỉ r = 0,13 (p = 0,05) (Mondal và cs., 2013). Điểm trung bình lần lượt là 8,6 và 9,0. Ở mẫu này, chất lượng giấc ngủ đêm và buồn ngủ ban ngày gần như tách biệt.
| Thang | Đo gì | Cấu trúc và thang điểm | Điểm cắt thường dùng | Điểm cắt đến từ đâu |
|---|---|---|---|---|
| PSQI | Chất lượng giấc ngủ, 1 tháng qua | 19 câu, 7 thành phần, 0–21 | > 5 | So sánh nhóm đã biết, 168 người Mỹ |
| ISI | Mức độ mất ngủ | 7 câu, 0–28 | ≥ 10 (cộng đồng); ≥ 11 (lâm sàng) | Đường cong ROC (receiver operating characteristic) so với phỏng vấn chẩn đoán, Canada |
| ESS | Xu hướng ngủ gật thường ngày | 8 câu, mỗi câu 0–3, 0–24 | > 10 (≥ 11) | Quy ước từ 30 người chứng có điểm 2–10 |
| KSS | Buồn ngủ tức thời, 10 phút vừa qua | 9 mức | — | — |
| PROMIS Rối loạn giấc ngủ v1.0 | Rối loạn giấc ngủ, 7 ngày qua | 27 câu, điểm T 50 ± 10 | — | — |
| Nhật ký đồng thuận (CSD) | Từng đêm, ghi tiến cứu | Bản lõi và bản mở rộng | — | Chưa thẩm định trong bài gốc |
Chỉ số mức độ mất ngủ#
ISI có điểm 0–28, chia bốn khoảng: không mất ngủ 0–7, dưới ngưỡng 8–14, mất ngủ vừa 15–21 và mất ngủ nặng 22–28 (Morin và cs., 2011). Nghiên cứu tâm trắc đầu tiên (Bastien và cộng sự, 2001) báo alpha chỉ 0,74, với tương quan câu–tổng 0,36–0,54. Sổ tay thang đo năm 2012 ghi các điểm cắt do nhóm phát triển đề xuất là "chưa được thẩm định" (Shahid và cs., 2012).
Nghiên cứu năm 2011 của Morin và cộng sự thẩm định lại ISI trên 959 người cộng đồng, và trên 183 người đến khám mất ngủ cùng 62 người chứng, tại Canada. Chuẩn là phỏng vấn chẩn đoán. Alpha là 0,90 và 0,91 ở hai mẫu. Trong cộng đồng, điểm cắt 10 là tối ưu, với độ nhạy 86,1% và độ đặc hiệu 87,7%. Trong mẫu lâm sàng, điểm cắt 11 cho độ nhạy 97,2% và độ đặc hiệu 100%. Độ đặc hiệu tuyệt đối đó đến từ nhóm chứng được chọn vì không mất ngủ, kiểu thiết kế dễ thổi phồng độ chính xác. Ở 158 người trẻ Hồng Kông, 16% có rối loạn mất ngủ theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần bản 5 (DSM-5) (Wong và cs., 2017). Điểm cắt tối ưu ở mẫu này lại là ≥ 8, với diện tích dưới đường cong > 0,85.
Nghiên cứu năm 2011 không do ngành công nghiệp tài trợ. Tuy vậy, tác giả chính, cũng là người tạo ra thang và giữ bản quyền, nhận hỗ trợ nghiên cứu từ Sanofi-Aventis và Merck và làm tư vấn cho nhiều hãng dược. ATS ghi một hạn chế của ISI: khả năng phân biệt mất ngủ nguyên phát với mất ngủ đi kèm bệnh tâm thần hay bệnh nội khoa còn hạn chế (ATS, 2026).
ISI được dùng nhiều nhất để đo thay đổi trong thử nghiệm, và ngưỡng "thay đổi có ý nghĩa" có ít nhất ba giá trị. Trong mẫu lâm sàng trước và sau can thiệp (liệu pháp nhận thức–hành vi, đơn thuần hoặc kết hợp thuốc), 146 người có ISI hai lần đo (Morin và cs., 2011). Người được đánh giá "khá hơn vừa phải" giảm trung bình 8,4 điểm (n = 63), "khá hơn rõ rệt" giảm 9,9 điểm (n = 63), "khá hơn ít" giảm 4,65 điểm (n = 20). Theo phân tích ROC, giảm hơn 7 điểm là ngưỡng tối ưu cho cải thiện vừa, và giảm hơn 8 điểm (tức từ 9 trở lên) cho cải thiện rõ rệt. Mức thay đổi tối thiểu có ý nghĩa lâm sàng (minimal clinically important difference, MCID) do Yang và cộng sự năm 2009 đề xuất là giảm 6 điểm (Lenderking và cs., 2024). Bài gốc có tác giả thuộc một công ty tư vấn kinh tế y tế; chúng tôi chưa xác minh được nguồn tài trợ.
Ngưỡng thứ ba đến từ dữ liệu gộp 2 thử nghiệm pha III của thuốc lemborexant (n = 1.956 người rối loạn mất ngủ) (Lenderking và cs., 2024). Mô hình 7 câu của ISI khớp kém, với chỉ số khớp so sánh (comparative fit index, CFI) 0,862 và sai số xấp xỉ (root mean square error of approximation, RMSEA) 0,126. Bản 6 câu, 2 yếu tố khớp tốt hơn (CFI 0,956; RMSEA 0,075). Phân tích đề xuất thay đổi có ý nghĩa trong cá nhân (meaningful within-individual change, MWIC) là giảm 5 điểm trên bản 6 câu. Các phương pháp mỏ neo cho khoảng −4 đến −8, phương pháp phân phối cho 0 đến −1,5. Nghiên cứu do Eisai, hãng sản xuất lemborexant, trả kinh phí cho công ty Evidera. Phần lớn tác giả là nhân viên hoặc cựu nhân viên của Evidera và Eisai. SL Một ngưỡng thấp hơn giúp thuốc dễ đạt "đáp ứng" hơn; người đọc kết quả thử nghiệm cần biết ngưỡng nào đã được chọn và ai chọn.
Thang buồn ngủ Epworth và thang Karolinska#
ESS được Johns giới thiệu năm 1991 trên 180 người lớn tại Úc: 30 người bình thường làm chứng và 150 bệnh nhân rối loạn giấc ngủ (Johns, 1991). ESS có 8 câu, mỗi câu 0–3, tổng 0–24. Điểm > 10 được xếp là buồn ngủ ban ngày quá mức, chia 11–12 nhẹ, 13–15 vừa và 16–24 nặng (ATS, 2026). Quy ước 0–10 là bình thường bắt nguồn từ việc người chứng trong nghiên cứu gốc có điểm từ 2 đến 10 (Scharf, 2022). Nói cách khác, ngưỡng này dựa trên 30 người, không phải trên một phân tích ROC.
ESS tin cậy cao ở cấp nhóm. ATS tổng hợp alpha 0,73–0,90 (trung bình 0,82, 10 nghiên cứu) và tương quan đo lặp lại 0,81–0,93 qua vài tuần đến vài tháng. Tổng quan hệ thống của Kendzerska và cộng sự trên 35 nghiên cứu đánh giá alpha 0,73–0,86 là tốt (Kendzerska và cs., 2014). Nhưng bằng chứng về độ tin cậy đo lặp lại chỉ đến từ 4 nghiên cứu. Tổng quan kết luận ESS có thể dùng để so sánh nhóm, nhưng không nên dùng để so sánh ở cấp cá nhân.
Ở cấp một người, con số kém ổn định hơn nhiều. Ở sinh viên y khoẻ đo hai lần cách 5 tháng, chỉ 3% chênh ≥ 5 điểm và 18% chênh ≥ 3 điểm (Scharf, 2022). Ở bệnh nhân phòng khám giấc ngủ, trong nghiên cứu ít dao động nhất mà tổng quan dẫn, 14% chênh ≥ 5 điểm và 37% chênh ≥ 3 điểm. Mức chênh đó đủ để một người đổi từ "bình thường" sang "buồn ngủ quá mức". Khi xếp loại theo ngưỡng ≥ 11, kappa giữa hai lần đo ở các quần thể lâm sàng thường chỉ 0,5–0,7. SL Hệ số tương quan cao ở cấp nhóm không nói lên độ ổn định của từng người, và quần thể lâm sàng dao động nhiều hơn người khoẻ.
Quan hệ giữa ESS và nghiệm pháp nhiều lần vào giấc (multiple sleep latency test, MSLT) là một mâu thuẫn chưa ngã ngũ. Bài gốc của Johns báo ESS tương quan có ý nghĩa với thời gian vào giấc trên MSLT; tóm tắt không cho hệ số. Trang ATS ghi "tương quan thấp" (r = 0,51), nhưng phần hạn chế cùng trang lại viết không có liên quan có ý nghĩa với MSLT. Tổng quan Kendzerska cho tương quan gộp chỉ ρ = −0,27: điểm ESS cao đi kèm vào giấc nhanh hơn trên MSLT. Tương quan với các biến ngưng thở chỉ ρ = 0,11–0,23. Một phần lý do là chính MSLT cũng nhiễu: trong một nghiên cứu đo lặp lại, 42% bệnh nhân đổi phía qua ngưỡng 8 phút, kappa 0,11 (Scharf, 2022). SL ESS hỏi xu hướng ngủ gật trong đời thường, còn MSLT đo khả năng vào giấc trong phòng thí nghiệm một ngày; hai phép đo không nhắm cùng một đại lượng.
Câu hỏi của ESS cũng mang dấu văn hoá. Ở Benin, nơi đọc sách, xem truyền hình hay lái ô tô không phổ biến, chỉ 15,6% trong 2.909 người lớn trả lời đủ ESS chuẩn (Wachinou và cs., 2023). Với bản sửa thiết kế lại 4/8 câu, tỉ lệ này là 52,4%, và bản sửa có alpha 0,86. Đây là tóm tắt hội nghị, chưa bình duyệt đầy đủ, và chúng tôi đọc con số qua một bản tóm tắt thứ cấp.
KSS đo buồn ngủ tức thời trong 10 phút vừa qua, theo 9 mức; mức 7 là "buồn ngủ nhưng không khó giữ tỉnh" (Shahid và cs., 2011). Khác ESS, KSS đo trạng thái lúc trả lời. Vì nó thay đổi theo giấc ngủ trước đó và giờ trong ngày, khó tính độ tin cậy đo lặp lại theo nghĩa thông thường. Ở 16 phụ nữ khoẻ 33–43 tuổi tại Nhật Bản, KSS được đo 8 phiên mỗi ngày trong 3 ngày (Kaida và cs., 2006). KSS tương quan r = 0,56 với số lần sao nhãng trên nhiệm vụ cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task, PVT). KSS cũng tương quan với chỉ số suy giảm sóng alpha trên điện não đồ (electroencephalography, EEG). Một đồng tác giả, Åkerstedt, là người phát triển KSS.
Nhật ký giấc ngủ và PROMIS#
CSD được xây dựng từ một hội nghị chuyên gia ở Pittsburgh và 6 nhóm thảo luận gồm người ngủ tốt, người mất ngủ và người ngưng thở khi ngủ (Carney và cs., 2012). Phần hướng dẫn của bản lõi ở mức đọc lớp 6, phần nhật ký ở mức lớp 3. Chính nhóm tác giả gọi CSD là "tài liệu sống" còn cần thử nghiệm, chỉnh sửa và thẩm định. Bài năm 2012 vì thế không phải nghiên cứu thẩm định so với PSG hay actigraphy.
Thẩm định đến sau, và không so với PSG phòng thí nghiệm. Ở 80 người lớn cộng đồng tại Mỹ (tuổi trung bình 32,65; 63% nữ), CSD được so với EEG một kênh và actigraphy trong 7 ngày tại nhà (Dietch và Taylor, 2021). Tổng thời gian ngủ (total sleep time, TST) theo CSD dài hơn 40 phút so với EEG và 31 phút so với actigraphy. Tương quan TST giữa CSD và các phương pháp khác lớn (rs = 0,63–0,75). Nhưng tương quan về hiệu quả giấc ngủ giữa CSD, actigraphy và EEG chỉ 0,18. CSD cho hiệu quả giấc ngủ cao hơn EEG khoảng 7 điểm phần trăm và hơn actigraphy khoảng 6 điểm phần trăm. Tương quan cao không có nghĩa là cùng con số.
Cách người điền hiểu câu hỏi là một nguồn sai số riêng. Phỏng vấn nhận thức 13 bệnh nhân mất ngủ ở Stockholm dùng CSD bản tiếng Thuỵ Điển cho thấy nhiều câu bị hiểu khác nhau (Bini và cs., 2024). Người bệnh không rõ "thời gian vào giấc" tính từ lúc tắt đèn hay lúc nhắm mắt, và khó đếm số lần thức vì trạng thái "nửa ngủ". Người điền trễ phải đoán. Ở 24 bệnh nhân lần đầu khám vì buồn ngủ ban ngày tại Nhật Bản, 5 người (20,8%) lệch hơn 1 giờ (Tomita và cs., 2013). Nhật ký của họ ghi ngủ > 6 giờ trong khi actigraphy ghi < 6 giờ. Nhật ký có xu hướng dài hơn, và lệch nhiều hơn ở người có điểm ESS cao. Chương về cảm nhận và số đo lệch nhau trình bày kỹ hơn chiều lệch này ở các quần thể khác.
Ngân hàng câu hỏi PROMIS Rối loạn giấc ngủ v1.0 gồm 27 câu, hồi tưởng 7 ngày. Điểm được quy về điểm T (trung bình 50, độ lệch chuẩn 10), tương quan với PSQI r = 0,70, và có các bản ngắn 8a, 8b, 6a, 4a. Thông tin này lấy từ trang tóm tắt của Critical Path Institute về bài gốc (Buysse và cs., 2010). Trang ghi rằng số liệu độ tin cậy chưa xác định được, và chúng tôi chưa đọc được bài gốc.
Bản tiếng Việt và số liệu Việt Nam#
Thẩm định một thang đo dịch sang ngôn ngữ khác có ít nhất ba tầng. Tầng thứ nhất là thẩm định ngôn ngữ: dịch xuôi, dịch ngược, thử xem người trả lời hiểu câu hỏi như ý định gốc. Tầng thứ hai là độ tin cậy: tính nhất quán nội tại (alpha) và độ ổn định khi đo lặp lại (ICC, kappa). Tầng thứ ba là thẩm định so với chuẩn: so với chẩn đoán lâm sàng, PSG hay actigraphy để chọn điểm cắt. SL Chỉ tầng thứ ba cho phép nói một tỉ lệ vượt điểm cắt tương ứng với một tỉ lệ người có vấn đề giấc ngủ thật.
Bản PSQI tiếng Việt năm 2014 mới qua tầng thứ nhất (Tô Minh Ngọc và cs., 2014). Bản dịch xuôi do 2 người dịch và 4 chuyên gia thực hiện, dịch ngược và đăng ký với MAPI-TRUST, rồi thử trên 10 bệnh nhân phòng khám giấc ngủ tại TP.HCM. Toàn bộ 10 người có điểm hai lần đo chênh không quá 1 điểm. Bài không báo alpha, độ nhạy hay điểm cắt cho bản Việt. Phần bàn luận ghi các bản dịch khác chọn điểm cắt khác nhau: bản Ý chọn 5, bản Hàn 8,5 (độ nhạy 0,94, độ đặc hiệu 0,84), bản Trung 6.
Nghiên cứu có cỡ mẫu lớn nhất về bản Việt khảo sát trực tuyến 906 sinh viên khối sức khoẻ của Đại học Quốc gia TP.HCM vào tháng 9/2021 (Nguyen và cs., 2024). Tỉ lệ trả lời 90%, 56,29% nữ. Alpha là 0,68, thấp hơn bản gốc, với tương quan câu–phần còn lại 0,21–0,60. Nghiên cứu không đo lặp lại và không phân tích yếu tố. Tác giả đề xuất điểm cắt ≥ 5 (diện tích dưới đường cong 0,8498; độ nhạy 78,08%; độ đặc hiệu 75,60%). Nhưng bài không nêu rõ chuẩn tham chiếu của phân tích ROC.
Định nghĩa rối loạn giấc ngủ duy nhất trong bài (vào giấc > 30 phút, ngủ ≤ 6,5 giờ hoặc hiệu quả ≤ 85%) dựa trên chính các câu của PSQI. Nếu đó là chuẩn, phép thẩm định mang tính vòng tròn: PSQI được so với một phần của chính nó. Không có PSG, actigraphy hay phỏng vấn lâm sàng. Bài còn không nhất quán nội bộ: tóm tắt ghi "trên 5", phần kết quả và bàn luận ghi "≥ 5". Phần giới thiệu nói dùng thang trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory, BDI-II) làm chuẩn, nhưng phần phương pháp không mô tả như vậy. Nghiên cứu do Đại học Quốc gia TP.HCM tài trợ (đề tài C2021-44-04).
Một nghiên cứu thử nghiệm năm 2025 ở 80 người đang dùng methadone tại 4 cơ sở ở TP.HCM báo alpha 0,83 và ICC đo lặp lại 0,77 (Huỳnh Ngọc Vân Anh và cs., 2026). Chỉ số giá trị nội dung (content validity index, CVI) là 1,00. Mẫu nhỏ, quần thể đặc thù, và vẫn không có chuẩn khách quan. Ở trẻ em, Bảng hỏi giấc ngủ nhi khoa (Pediatric Sleep Questionnaire, PSQ) bản Việt ở trẻ 3–17 tuổi có alpha 0,866. Nhưng điểm của nó không tương quan với chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index, AHI) trên đa ký hô hấp loại III (Le và cs., 2023). Đây là ví dụ rõ rằng độ tin cậy nội tại cao không bảo đảm khớp với số đo khách quan. Thang rối loạn hô hấp khi ngủ của PSQ bản Việt có alpha 0,781 ở 60 trẻ 6–14 tuổi do phụ huynh trả lời (Nguyen và cs., 2023). Kappa đo lặp lại từng câu là 0,498–0,832.
| Bản tiếng Việt | Quần thể thẩm định | Đã làm | Chưa làm |
|---|---|---|---|
| PSQI (Tô Minh Ngọc và cs., 2014) | 10 bệnh nhân phòng khám giấc ngủ, TP.HCM | Dịch xuôi, dịch ngược; 100% chênh ≤ 1 điểm khi đo lại | Alpha, điểm cắt, so với chuẩn |
| PSQI (Nguyen và cs., 2024) | 906 sinh viên khối sức khoẻ, TP.HCM | Alpha 0,68; ROC với chuẩn không rõ | Đo lặp lại, phân tích yếu tố, so với PSG, actigraphy hay phỏng vấn |
| PSQI (Huỳnh Ngọc Vân Anh và cs., 2026) | 80 người dùng methadone, TP.HCM | Alpha 0,83; ICC 0,77; CVI 1,00 | So với chuẩn khách quan |
| PSQ nhi khoa (Le và cs., 2023) | Trẻ 3–17 tuổi, phòng khám hô hấp, TP.HCM | Alpha 0,866; so với đa ký loại III (kết quả: không tương quan với AHI) | Điểm cắt so với chuẩn |
| ISI | — | Chưa tìm được nghiên cứu thẩm định | Toàn bộ ba tầng |
| ESS | — | Chưa tìm được bản tiếng Việt đã thẩm định | Toàn bộ ba tầng |
Từ nền thẩm định đó, các nghiên cứu Việt Nam báo tỉ lệ "ngủ kém" theo PSQI rất khác nhau.
| Nghiên cứu | Quần thể | Cỡ mẫu | Điểm cắt | Tỉ lệ ngủ kém |
|---|---|---|---|---|
| Nguyen và cs., 2022 | Sinh viên Đại học Y Hà Nội, 2021 | 361 | Tóm tắt không nêu | 33,8% |
| Tran và cs., 2024 | Sinh viên năm nhất Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022–2023 | 422 | > 5 | 36,5% |
| Huỳnh Ngọc Vân Anh và cs., 2026 | Người dùng methadone, TP.HCM | 80 | — | 37,5% |
| Tran và cs., 2023 | Sinh viên Y khoa Phạm Ngọc Thạch, trực tuyến 4–5/2021, trả lời 32,18% | 1.502 | > 5 | Hơn một nửa (ngủ tốt 49,73%) |
| Phan và cs., 2023 | Nhân viên y tế tuyến đầu thời COVID-19 | 1.000 | ≥ 5 | 73,8% |
| Chu, 2023 | Bệnh nhân sau phẫu thuật, Đắk Lắk, 3–7/2021 | 374 | Tóm tắt không nêu | 78,1% |
| Nguyen và cs., 2025 | Sinh viên đa ngành, đại học tư thục Hà Nội, trực tuyến | 124 | Tóm tắt không nêu | 81,5% |
| Huỳnh Thị Xuân Linh và cs., 2022 | Người ≥ 60 tuổi khám ngoại trú, Tiền Giang, 2021 | 380 | Tóm tắt không nêu | 91,6% |
Riêng giữa các mẫu sinh viên, tỉ lệ đã dao động từ 33,8% đến 81,5%. Các nguyên nhân khả dĩ chồng lên nhau. Thứ nhất là điểm cắt: ≥ 5 hay > 5, và nhiều bài không ghi. Ở nghiên cứu nhân viên y tế, ngưỡng ≥ 5 xếp thêm những người có đúng 5 điểm vào nhóm "ngủ kém" so với chuẩn gốc > 5. Thứ hai là cách lấy mẫu: khảo sát trực tuyến thuận tiện, tỉ lệ trả lời từ 32,18% đến 90%. Thứ ba là thời điểm, như giai đoạn giãn cách COVID-19 năm 2021, cùng ngành học và cỡ mẫu (từ 124 đến 1.502). Nghiên cứu sinh viên Phạm Ngọc Thạch nói dùng bản PSQI "dịch và thử ở Việt Nam năm 2014" nhưng không trích nguồn. Hai nghiên cứu ở bệnh viện (bệnh nhân sau phẫu thuật, điểm PSQI trung bình 10,3 ± 3,27; người cao tuổi khám ngoại trú) là mẫu bệnh viện, không phải mẫu cộng đồng.
Với ISI, vấn đề nằm ở ngưỡng. Một nghiên cứu năm 2026 ở 190 sinh viên y người Ấn Độ học tại Hà Nội xếp 61,05% là "mất ngủ" với ngưỡng ISI ≥ 8 (Nguyen và cs., 2026). Ngưỡng này gộp cả nhóm "dưới ngưỡng" 8–14 theo cách chia của Morin; ISI trung bình 9,96 ± 6,31. Nghiên cứu không báo độ tin cậy của ISI trong mẫu, và người tham gia không phải người Việt. Ngưỡng ≥ 8 từng là tối ưu ở người trẻ Hồng Kông, nhưng chưa được thẩm định ở Việt Nam.
SL Hệ quả cho người đọc Việt: một con số như "73,8% nhân viên y tế ngủ kém" nên được đọc là "73,8% có điểm PSQI từ 5 trở lên". Điểm cắt đó chưa được thẩm định cho bản Việt so với bất kỳ chuẩn khách quan hay chẩn đoán nào. Con số có giá trị để so sánh trong cùng nghiên cứu, như giữa nhóm có và không có bệnh mạn tính (OR 2,34) hay giờ làm tăng (OR 1,84). Nó không cho biết bao nhiêu người thực sự có rối loạn giấc ngủ. Hai nghiên cứu với hai ngưỡng khác nhau cũng không nên được đặt cạnh nhau như một xu hướng.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu thẩm định đầy đủ PSQI tiếng Việt ở người lớn cộng đồng. Chưa có phân tích yếu tố, và chưa có so sánh bản Việt với PSG hay actigraphy. Đây là kết quả tìm kiếm của chúng tôi, không loại trừ nghiên cứu chưa được chỉ mục.
- Chúng tôi chưa tìm được bản tiếng Việt đã thẩm định của ESS hay ISI. Nghiên cứu duy nhất ở Việt Nam dùng ISI mà chúng tôi tìm được (ở sinh viên y người Ấn Độ) chọn ngưỡng ≥ 8 mà không thẩm định.
- Chưa có dữ liệu cho biết các câu của ESS về đọc sách, xem truyền hình, lái ô tô có hợp với người lao động phổ thông hay người cao tuổi nông thôn Việt Nam.
- Chưa tìm được nghiên cứu PSQI ở công nhân khu công nghiệp hay người làm ca ở Việt Nam.
- Chưa có nghiên cứu nhật ký giấc ngủ bản tiếng Việt, cũng như so sánh nhật ký với actigraphy hay PSG ở người Việt.
- Chúng tôi không đọc được nghiên cứu đo lặp lại ESS ở phòng khám của Taylor, nghiên cứu độ tin cậy gốc của Johns và của PROMIS. Bài gốc của Yang về MCID của ISI cũng chưa đọc được.
- Chưa có giới hạn đồng thuận Bland–Altman của nhật ký so với PSG trong các nguồn đã đọc; nghiên cứu CSD chỉ cho độ lệch trung bình và tương quan.
Tổng quan ngắn hơn về các thang này nằm ở chương Thang đo, thiết bị đeo và dữ liệu tự báo cáo của Tập 7.
Viết tắt trong trang
- AHI
- chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- ESS
- thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
- ICC
- hệ số tương quan nội lớp (intraclass correlation coefficient)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KSS
- thang buồn ngủ Karolinska (Karolinska Sleepiness Scale)
- MCID
- mức thay đổi tối thiểu có ý nghĩa lâm sàng (minimal clinically important difference)
- MSLT
- nghiệm pháp đo độ trễ vào giấc nhiều lần (multiple sleep latency test)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- PVT
- bài kiểm tra cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task)
- TST
- tổng thời gian ngủ (total sleep time)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Thang đo tự báo cáo và nhật ký giấc ngủ. Trong: Tập 9 — Đo giấc ngủ: đa ký, thiết bị đeo, thang tự báo cáo và độ lệch của từng phép đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/do-giac-ngu/thang-do-tu-bao-cao-va-nhat-ky/