giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Cảm nhận lệch số đo: giờ ngủ tự khai, mất ngủ nghịch lý, orthosomnia

Chương 7 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 18 phút đọc

Trong trang này

Chương này so lời người ngủ với số đo của máy theo ba hướng: giờ ngủ tự khai, cảm nhận của người mất ngủ, và tác động ngược của con số thiết bị. Ở dân số chung, giờ ngủ tự khai dài hơn số đo khoảng 31–73 phút tuỳ cách hỏi và chuẩn so, và khoảng lệch lớn nhất ở người ngủ ít. Ở người mất ngủ, nhật ký buổi sáng trung bình ngắn hơn đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) khoảng 50 phút, nhưng mức lệch của từng người phân tán rất rộng. Một thực nghiệm ngẫu nhiên cho thấy chỉ một con số "ngủ kém" giả cũng đủ làm người mất ngủ khai triệu chứng ban ngày nặng hơn. Còn orthosomnia, tức sự bận tâm quá mức vào việc đạt giấc ngủ "đúng", chưa có định nghĩa thống nhất; tỉ lệ được báo dao động từ 3,0% đến 30,9%.

Hai cách hỏi, hai loại sai lệch#

Trước khi so, cần tách hai kiểu tự báo cáo. Câu hỏi về giờ ngủ "thường lệ" đòi người trả lời tự gộp nhiều đêm thành một con số. Nhật ký giấc ngủ (sleep diary) được điền mỗi sáng về đúng đêm vừa qua. Cả hai đều là lời người ngủ, nhưng chịu những sai lệch khác nhau. Câu hỏi thường lệ dễ bị kéo về một con số "hợp lý" có sẵn trong đầu. Nhật ký thì phụ thuộc nhiều hơn vào cảm nhận về những lần thức trong đêm SL.

Phía "số đo" cũng không đồng nhất. Phần lớn nghiên cứu dân số dùng actigraphy, tức gia tốc kế đeo cổ tay ước tính ngủ hay thức từ cử động, chứ không dùng PSG. Actigraphy nhận ra ngủ rất tốt nhưng nhận ra thức kém. Trong một nghiên cứu thẩm định tính theo từng đoạn ghi 30 giây (epoch), độ nhạy với ngủ là 0,965 nhưng độ đặc hiệu với thức chỉ 0,329 (Marino và cs., 2013). Phân tích gộp 96 nghiên cứu cho thấy actigraphy đánh giá cao tổng thời gian ngủ (total sleep time, TST) trung bình 17,88 phút so với PSG (Conley và cs., 2019). Vì vậy, khi tự báo cáo được so với actigraphy, khoảng lệch thật so với PSG có thể còn lớn hơn con số được báo SL. Chi tiết về actigraphy nằm ở chương riêng về phương pháp này trong tập.

CARDIA: khai dư, và khai dư nhiều nhất ở người ngủ ít#

Trong một nghiên cứu phụ của thuần tập CARDIA ở Mỹ, 669 người trung niên đeo actigraphy cổ tay hai đợt 3 ngày và trả lời câu hỏi về giờ ngủ thường lệ (Lauderdale và cs., 2008). Giấc ngủ đo được trung bình 6,0 giờ, còn giờ tự báo cáo trung bình 6,8 giờ, tức dư khoảng 48 phút. Hệ số tương quan giữa hai con số là 0,47.

Con số 0,47 dễ bị đọc thành "khá khớp". Thực ra nó chỉ nói hai đại lượng cùng tăng giảm ở mức vừa phải, không nói chúng cho cùng giá trị. Độ dốc hồi quy cho thấy rõ hơn: mỗi giờ ngủ đo được tăng thêm thì giờ tự báo cáo chỉ tăng trung bình 34 phút.

Hệ quả là sai lệch không đều giữa các người. Theo mô hình hồi quy của nghiên cứu, người ngủ thực 5 giờ khai dư 1,2 giờ, còn người ngủ thực 7 giờ khai dư 0,4 giờ. Tự báo cáo vì vậy làm "co" khoảng cách giữa người ngủ ít và người ngủ đủ. Tóm tắt bài còn ghi sai lệch thay đổi theo sức khoẻ, đặc điểm xã hội và đặc điểm giấc ngủ, nhưng không nêu cụ thể.

Với nghiên cứu dịch tễ dựa trên giờ ngủ tự khai, điều này có hai hệ quả SL. Một là tỉ lệ người ngủ ngắn trong dân số có thể bị đánh giá thấp. Hai là liên quan giữa ngủ ngắn và kết cục sức khoẻ có thể bị pha loãng, vì nhóm "ngủ 7 giờ" theo lời khai chứa cả những người thực ra ngủ ít hơn.

MESA: lệch theo nhóm sắc tộc và theo chuẩn so#

Thuần tập MESA ở Mỹ so giờ ngủ tự báo cáo của 1.910 người lớn thuộc 4 nhóm sắc tộc với cả actigraphy cổ tay lẫn PSG tại nhà một đêm (Jackson và cs., 2018). So với actigraphy, tự báo cáo dư 66 phút ở người da trắng, 58 phút ở người da đen và 66 phút ở người gốc Tây Ban Nha. Ở người gốc Hoa, mức dư là 60 phút, khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) 49–70 phút. So với PSG, độ lệch là 73 phút (KTC 95% 67–79) ở người da trắng và 49 phút (KTC 95% 37–61) ở người gốc Hoa.

Hai chi tiết đáng chú ý. Ở người da trắng, độ lệch so với PSG lớn hơn so với actigraphy, phù hợp với việc actigraphy tự nó đã ghi dư giấc ngủ SL. Ở người gốc Hoa, chiều ngược lại; khoảng tin cậy rộng và PSG chỉ có một đêm, nên chúng tôi không rút ra được kết luận nào từ khác biệt này SL. Người gốc Hoa ở Mỹ là dữ liệu châu Á gần nhất mà nhóm thu thập dữ kiện tìm được cho giờ ngủ thường lệ ở dân số chung. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu tương tự ở người Việt.

Nhật ký buổi sáng ở người không có than phiền#

Nhật ký điền mỗi sáng cũng cho giờ ngủ dài hơn máy đo, dù khoảng dư nhỏ hơn. Một nghiên cứu đo 7 ngày tại nhà ở 80 người lớn cộng đồng tại Mỹ, dùng Nhật ký giấc ngủ đồng thuận (Consensus Sleep Diary, CSD). TST theo nhật ký đã hiệu chỉnh dài hơn 40 phút so với điện não đồ (electroencephalography, EEG) một kênh (Dietch và Taylor, 2021). So với actigraphy, nhật ký dài hơn 31 phút. Tương quan TST giữa nhật ký và các phép đo khác lớn (rs = 0,63–0,75), nhưng tương quan về hiệu quả giấc ngủ chỉ 0,18. Nhật ký còn cho hiệu quả giấc ngủ cao hơn EEG khoảng 7 điểm phần trăm và cao hơn actigraphy khoảng 6 điểm phần trăm.

Ở 24 bệnh nhân Nhật Bản lần đầu khám vì buồn ngủ ban ngày, 5 người (20,8%) có nhật ký ghi ngủ trên 6 giờ còn actigraphy ghi dưới 6 giờ (Tomita và cs., 2013). Nhật ký có xu hướng dài hơn actigraphy, và càng lệch ở người có điểm thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale, ESS) cao. Mẫu này nhỏ và là bệnh nhân, nên không đại diện cho dân số chung.

Nghiên cứuNgười tham giaKiểu tự báo cáoChuẩn soTự báo cáo so với số đo
CARDIA (Lauderdale và cs., 2008)669 người trung niên, MỹGiờ ngủ thường lệActigraphy cổ tay, 2 đợt × 3 ngàyDư khoảng 48 phút (6,8 so với 6,0 giờ)
MESA (Jackson và cs., 2018)1.910 người lớn, 4 nhóm sắc tộc, MỹGiờ ngủ thường lệActigraphy cổ tayDư 58–66 phút tuỳ nhóm
MESA (Jackson và cs., 2018)Như trênGiờ ngủ thường lệPSG tại nhà, 1 đêmDư 73 phút (da trắng); 49 phút (gốc Hoa)
Dietch và Taylor, 202180 người lớn cộng đồng, MỹNhật ký CSD, 7 ngàyEEG một kênh; actigraphyDư 40 phút; dư 31 phút
Edinger và Fins, 1995173 người mất ngủ ngoại trú, MỹNhật ký sáng hôm sauPSG lưu động tại nhà, 1 đêmThiếu khoảng 50 phút (305,4 so với 355,0 phút)
Liang và cs., 2022305 người rối loạn lo âu kèm mất ngủ, Trung QuốcBảng hỏi sáng hôm sauPSG phòng thí nghiệm, phân tích đêm 2Thiếu (5,5 so với 6,4 giờ)

Người mất ngủ: nhật ký ngắn hơn PSG, nhưng không phải ai cũng vậy#

Theo tổng quan của Harvey và Tang, người mất ngủ ước lượng quá cao thời gian vào giấc (sleep onset latency, SOL) và ước lượng thấp TST so với PSG (Harvey và Tang, 2012). Hiện tượng này được gọi là nhận thức sai trạng thái ngủ (sleep state misperception). Khi khoảng lệch lớn, nó hay được gọi là mất ngủ nghịch lý (paradoxical insomnia). Các dữ liệu dưới đây gợi ý rằng đây là một phổ liên tục hơn là một nhóm tách bạch SL.

Phân bố, không chỉ trung bình#

Edinger và Fins phân tích hồ sơ 173 người mất ngủ ngoại trú (tuổi trung bình 49,6) tại Duke, Mỹ, giai đoạn 1985–1993 (Edinger và Fins, 1995). Mỗi người được đo PSG lưu động một đêm tại nhà và điền nhật ký sáng hôm sau. TST theo PSG trung bình 355,0 phút (độ lệch chuẩn 85,5), theo nhật ký 305,4 phút, tức thấp hơn khoảng 50 phút. Tương quan giữa hai con số là 0,58.

Điều đáng chú ý hơn trung bình là phân bố. Tỉ số nhật ký chia PSG có trung vị khoảng 91,9%, khoảng tứ phân vị 68,9%–102,3%, và trải từ 0% đến 377,8%. Hơn 20% người mất ngủ trong mẫu ước lượng cao hơn thời gian ngủ thực. Nghiên cứu không có nhóm người ngủ tốt để so, nên không biết phân bố này khác người không mất ngủ đến đâu.

Một nghiên cứu hồi cứu đơn trung tâm ở Vũ Hán, Trung Quốc, xem xét 305 người có rối loạn liên quan lo âu kèm than phiền mất ngủ (Liang và cs., 2022). Họ được đo PSG phòng thí nghiệm hai đêm, và nhóm tác giả phân tích đêm thứ hai. TST chủ quan là 5,5 ± 1,9 giờ, so với 6,4 ± 1,7 giờ theo PSG. Với ngưỡng lệch 60 phút, 51,1% ước lượng thấp, 26,2% cảm nhận đúng và 22,6% ước lượng cao. Phần Bàn luận của bài ghi thứ tự các nhóm không khớp với Bảng 1, nên người dùng số liệu này cần đối chiếu bảng gốc. Nghiên cứu được Chương trình nghiên cứu y học Vũ Hán tài trợ.

Người ngưng thở khi ngủ: lệch theo cả hai hướng#

Ở người ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn (obstructive sleep apnea, OSA), cảm nhận lệch theo cả hai hướng. Lee và cộng sự xem hồ sơ 707 người lớn tại Seoul có chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index, AHI) ≥ 5 (Lee và cs., 2022). Nhóm so PSG phòng thí nghiệm với ước lượng của người bệnh sáng hôm sau. Với ngưỡng tỉ số chủ quan/khách quan dưới 80% hoặc trên 120%, 22,5% ước lượng thấp và 10,6% ước lượng cao TST. Trung vị mức lệch là 116 phút ở nhóm ước lượng thấp và 87 phút ở nhóm ước lượng cao.

Nhóm ước lượng thấp đi kèm triệu chứng mất ngủ, cụ thể là điểm Chỉ số Mức độ Mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) trên 14 (OR 1,812; p = 0,006). Nhóm ước lượng cao đi kèm tuổi cao hơn và ngưng thở nặng (OR 1,729). Đây là liên quan trong một mẫu hồi cứu, không cho biết chiều nhân quả. Một cách đọc khả dĩ là người ngưng thở nặng thức dậy rất nhiều lần nhưng ngắn, và không nhớ những lần thức ấy SL.

Khai dư hay khai thiếu?#

Đặt các nghiên cứu cạnh nhau thì có vẻ mâu thuẫn. Dân số chung khai dư 31–73 phút so với máy đo, còn người mất ngủ khai thiếu khoảng 50 phút so với PSG. Người ngưng thở thì có cả hai hướng. Chúng tôi thấy ít nhất bốn nguồn khác biệt.

  • Loại câu hỏi: giờ ngủ "thường lệ" gộp nhiều đêm, còn nhật ký hỏi về đúng đêm vừa qua.
  • Quần thể: người không than phiền, người mất ngủ, người có rối loạn lo âu, người ngưng thở.
  • Chuẩn so: actigraphy hay bỏ sót thức yên lặng nên tự nó cũng cho TST dài; PSG thì không.
  • Bối cảnh đêm đo: PSG trong phòng thí nghiệm có thể chịu hiệu ứng đêm đầu, nên đêm được đo chưa chắc là đêm "thường lệ".

Hệ quả thực tế là không có một hệ số hiệu chỉnh chung để đổi giờ tự khai thành giờ đo được SL. Cùng một câu "đêm qua tôi ngủ 5 tiếng" có thể tương ứng với ít hơn hoặc nhiều hơn 5 tiếng theo PSG, tuỳ người nói là ai.

Đánh thức giữa đêm: cảm nhận "đang thức" khi điện não ghi nhận ngủ#

Harvey và Tang xem xét nhiều giả thuyết cho hiện tượng ước lượng sai. Các giải thích được ủng hộ tốt nhất là: người mất ngủ cảm nhận giấc ngủ như đang thức, sự lo lắng, và những lần thức ngắn trong đêm (Harvey và Tang, 2012). Giả thuyết cho rằng người mất ngủ kém ước lượng thời gian nói chung thì không được ủng hộ.

Cách trực tiếp nhất để kiểm tra giả thuyết thứ nhất là đánh thức người đang ngủ theo tiêu chí điện não, rồi hỏi ngay họ vừa ngủ hay thức. Ba thí nghiệm theo thiết kế này cho kết quả không hoàn toàn cùng chiều.

Các thí nghiệm cũ: người mất ngủ báo "thức" nhiều hơn#

Borkovec và cộng sự đánh thức 25 sinh viên mất ngủ và 10 sinh viên ngủ tốt ở Mỹ (Borkovec và cs., 1981). Thời điểm đánh thức là sau epoch thứ 10 liên tiếp của giai đoạn 2 đầu tiên. Người mất ngủ báo ít cảm giác đã ngủ hơn người ngủ tốt, cả trong giấc ngủ đêm lẫn giấc ngủ ngày.

Mercer và cộng sự so 14 người mất ngủ với 8 người ngủ tốt (tuổi trung bình 58) qua 5 đêm trong phòng thí nghiệm (Mercer và cs., 2002). Người tham gia bị đánh thức trong giai đoạn 2 và trong giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM). Phân tích theo lý thuyết phát hiện tín hiệu cho thấy người mất ngủ kém phân biệt ngủ với thức hơn và thiên về báo "đang thức". Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt, nên không có tỉ lệ cụ thể.

Nghiên cứu năm 2025: cảm giác "đang thức" phổ biến ở cả người khoẻ#

Một nghiên cứu năm 2025 tại Thuỵ Sĩ và Đức ghi EEG mật độ cao ở 30 người khoẻ và 30 người rối loạn mất ngủ (Schneider và cs., 2025). Mỗi người bị đánh thức tới 12 lần trong giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement, NREM). Khoảng một nửa số lần bị đánh thức, người tham gia nói mình đang thức, ở cả hai nhóm. Thông số giấc ngủ khách quan và cảm nhận khi bị đánh thức không khác nhau có ý nghĩa giữa hai nhóm. Hoạt động điện não tần số cao lúc ngủ đi kèm cảm nhận "đã thức" ở cả hai nhóm. Chúng tôi chỉ đọc được kết quả này qua thông cáo báo chí của Đại học Bern, chưa đọc toàn văn bài báo.

Kết quả này khác hai thí nghiệm cũ. SL Nguyên nhân khả dĩ đầu tiên là cỡ mẫu rất nhỏ ở nghiên cứu cũ (10 và 8 người ngủ tốt), dù nghiên cứu mới cũng chỉ có 30 người mỗi nhóm. Các nghiên cứu còn khác nhau về giai đoạn và thời điểm đánh thức, cách đặt câu hỏi và định nghĩa nhóm mất ngủ. Vì chỉ có tóm tắt và thông cáo báo chí, chúng tôi chưa so được chi tiết phương pháp.

Nếu kết quả năm 2025 đứng vững, cảm giác "đang thức" trong NREM là chuyện thường gặp ở cả người ngủ khoẻ SL. Khi đó, điều làm người mất ngủ khác biệt có thể nằm ở chỗ khác, chẳng hạn cách họ gộp những khoảnh khắc ấy thành đánh giá cả đêm SL. Với khoa học đo lường, bài học rộng hơn là "ngủ" theo quy tắc chấm điện não và "ngủ" theo trải nghiệm là hai định nghĩa khác nhau. Không định nghĩa nào sai; chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau SL. Phần tổng quan ngắn về cách chấm giai đoạn ngủ nằm ở trang phân loại và đo giấc ngủ của Tập 7.

Khi con số quay lại tác động lên cảm nhận#

Thiết bị đeo đưa thêm một lớp vào vòng lặp: người dùng không chỉ cảm nhận giấc ngủ mà còn đọc một con số về nó mỗi sáng. Một tổng quan tường thuật năm 2019 nêu rằng phản hồi từ thiết bị có thể đặc biệt có vấn đề ở người mất ngủ vì dễ làm tăng lo âu (de Zambotti và cs., 2019). Tổng quan ghi có người nằm lâu trên giường để đạt "con số kỳ diệu" về số giờ ngủ. Đây là nhận định chuyên gia, không phải dữ liệu. Ba tác giả của tổng quan nhận tài trợ nghiên cứu, không liên quan bài này, từ Fitbit Inc., Ebb Therapeutics Inc. và International Flavors & Fragrances.

Thực nghiệm phản hồi giả#

Bằng chứng thực nghiệm rõ nhất đến từ Gavriloff và cộng sự (Gavriloff và cs., 2018). Người tham gia là 63 người mất ngủ từ cộng đồng, đạt tiêu chuẩn của Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần bản 5 (DSM-5), đeo actigraphy. Sáng hôm sau, họ được phân ngẫu nhiên nhận một phản hồi giả: giấc ngủ "kém" (32 người) hoặc giấc ngủ "tốt", bất kể máy ghi được gì.

So với nhóm nhận phản hồi tích cực, nhóm nhận phản hồi tiêu cực khai mức tỉnh táo ban ngày kém hơn, với cỡ hiệu ứng d = 0,79. Họ cũng khai buồn ngủ hoặc mệt nhiều hơn (d = 0,55). Hai nhóm không khác nhau ở các phép đo dựa trên nhiệm vụ: thiên lệch chú ý (d = 0,20) và cảnh giác tâm thần vận động (d = 0,12). Nói cách khác, con số thiết bị báo đã làm thay đổi triệu chứng người ta khai, bất kể giấc ngủ thật ra sao. Mẫu nhỏ và bối cảnh là thực nghiệm, nên nghiên cứu không cho biết tác động tích luỹ khi người ta đọc con số mỗi sáng trong nhiều tháng SL.

Orthosomnia: một khái niệm đang được định nghĩa#

Thuật ngữ orthosomnia (ghép "ortho", nghĩa là đúng, với "somnia", nghĩa là giấc ngủ) chỉ sự bận tâm quá mức vào việc đạt giấc ngủ "đúng". Theo một nguồn thứ cấp, khái niệm ban đầu được mô tả qua một số ít ca bệnh và gắn với thiết bị theo dõi; chúng tôi chưa đọc được bài gốc. Hai khảo sát gần đây cho hai con số tỉ lệ rất khác nhau.

Khảo sát thứ nhất là một tóm tắt hội nghị năm 2026, chưa qua bình duyệt, trên 1.280 người lớn Mỹ có đại diện địa lý (Goel và cs., 2026). Có 32,4% (415 người) theo dõi giấc ngủ, và 33,0% được nhân viên y tế khuyên theo dõi. Trong số người theo dõi, 30,9% sàng lọc dương tính "nguy cơ orthosomnia". Công cụ là Bảng hỏi sức khoẻ bệnh nhân hai câu (Patient Health Questionnaire-2, PHQ-2) được sửa để hỏi về lo lắng với dữ liệu thiết bị, ngưỡng ≥ 3 điểm. Công cụ này chưa được thẩm định cho orthosomnia. Nghiên cứu được hỗ trợ bằng khoản tặng của Oura Ring Ltd, và tác giả cuối là thành viên Hội đồng cố vấn y khoa của Oura.

Khảo sát thứ hai dùng mẫu thuận tiện 523 người 18–70 tuổi (trung vị 21 tuổi, 81% nữ) và một thuật toán tự xây dựng (Jahrami và cs., 2024). Một người được xếp là orthosomnia khi có thiết bị theo dõi và có điểm thang mất ngủ Athens (Athens Insomnia Scale, AIS) ≥ 6. Người đó cũng phải có điểm thang lo âu lan toả GAD-7 (Generalized Anxiety Disorder-7) ≤ 14. Điều kiện cuối là điểm Bảng hỏi lo âu và bận tâm về giấc ngủ (Anxiety and Preoccupation about Sleep Questionnaire, APSQ) đạt ngưỡng ≥ 40, 35 hoặc 30.

Với ba ngưỡng APSQ chặt, vừa và lỏng, tỉ lệ lần lượt là 3,0% (KTC 95% 1,6–4,5), 8,6% (6,2–11,0) và 14,0% (10,9–16,9). Người dùng thiết bị có điểm APSQ trung vị cao hơn người không dùng (35 so với 30; p < 0,001). Đây là liên quan cắt ngang: người vốn lo âu về giấc ngủ có thể tìm đến thiết bị, chứ không nhất thiết thiết bị gây lo âu. Bài không nêu quốc gia, có chỗ số trong bảng và văn bản không khớp, và không có tài trợ ngoài.

Goel và cs., 2026Jahrami và cs., 2024
Loại công bốTóm tắt hội nghị, chưa bình duyệtBài báo bình duyệt
Mẫu1.280 người lớn Mỹ, đại diện địa lý523 người 18–70 tuổi, mẫu thuận tiện, 81% nữ
Mẫu số của tỉ lệChỉ người theo dõi giấc ngủ (415 người)Toàn mẫu
Định nghĩaLo lắng với dữ liệu thiết bị (PHQ-2 sửa, ≥ 3 điểm)Có thiết bị + mất ngủ (AIS) + lo âu không quá nặng (GAD-7) + bận tâm về giấc ngủ (APSQ)
Tỉ lệ30,9%3,0%; 8,6%; 14,0% tuỳ ngưỡng
Thẩm định so với chẩn đoán lâm sàngChưaChưa
Tài trợ, lợi íchKhoản tặng của Oura; tác giả cuối là cố vấn của OuraKhông tài trợ ngoài

Hai con số không đo cùng một thứ. Mẫu số khác nhau, định nghĩa khác nhau, và không công cụ nào được thẩm định với chẩn đoán lâm sàng. Trích một trong hai như "tỉ lệ orthosomnia" mà không kèm định nghĩa sẽ dễ gây hiểu sai SL.

Thang đo riêng đầu tiên và điều nó loại ra#

Thang đo đầu tiên được thiết kế riêng cho khái niệm này là Bergen Orthosomnia Scale (BOS) (Guldbrandsen và cs., 2025). Thang có 12 mục, xây dựng qua quy trình Delphi với 34 chuyên gia rồi phân tích yếu tố trên hai mẫu trực tuyến ở Anh (994 và 473 người). Hai yếu tố là "cản trở" và "cứng nhắc", với alpha Cronbach 0,87 và 0,88. Độ tin cậy đo lặp lại sau 3 tuần là r = 0,77 và 0,82; phần tóm tắt của bài lại ghi 0,74 thay cho 0,77.

Điểm đáng chú ý nhất nằm ở phần bị loại. Yếu tố "theo dõi giấc ngủ bằng ứng dụng" tương quan yếu với hai yếu tố chính (r = 0,33 và 0,36), trong khi hai yếu tố chính tương quan với nhau r = 0,60. Yếu tố này bị loại khỏi thang. Tác giả cho rằng theo dõi giấc ngủ có thể chỉ liên quan bên lề tới orthosomnia. SL Ít nhất trong thang này, lõi của khái niệm đã dịch từ "thiết bị" sang "bận tâm quá mức về giấc ngủ".

Điểm "cản trở" tương quan với mất ngủ (r = 0,28) và lo âu sức khoẻ (r = 0,32). Điểm "cứng nhắc" không tương quan với mất ngủ (r = 0,00) và chỉ tương quan yếu với lo âu sức khoẻ (r = 0,16). Đây đều là tương quan cắt ngang. Nghiên cứu do Đại học Bergen tài trợ; một đồng tác giả có quan hệ tài chính với National Sleep Foundation, Google và Aether Mindtech.

Gộp các mảnh lại, chúng tôi đọc như sau SL. Có bằng chứng thực nghiệm rằng một con số tiêu cực có thể làm người mất ngủ khai triệu chứng nặng hơn. Có bằng chứng cắt ngang rằng người dùng thiết bị lo âu về giấc ngủ nhiều hơn một chút. Nhưng chưa có công cụ thẩm định nào cho biết bao nhiêu người thực sự có orthosomnia. Giới hạn của chính các thiết bị được bàn ở bài thiết bị theo dõi giấc ngủ và trang giới hạn của phép đo.

Điều chưa biết#

  • Dữ liệu ở người Việt: chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào so giờ ngủ tự khai hay nhật ký giấc ngủ với actigraphy hoặc PSG ở người Việt. Cũng chưa có bản nhật ký giấc ngủ tiếng Việt được thẩm định. Dữ liệu châu Á gần nhất là người gốc Hoa ở Mỹ, người Hàn Quốc ngưng thở và bệnh nhân Trung Quốc có rối loạn lo âu.
  • Giới hạn đồng thuận cho nhật ký: các tóm tắt đã đọc chỉ cho độ lệch trung bình và tương quan, chưa cho giới hạn đồng thuận theo phân tích Bland–Altman. Vì vậy chưa biết sai số của nhật ký ở từng người lớn đến đâu.
  • Chi tiết các thí nghiệm đánh thức: chúng tôi chưa đọc được tỉ lệ cụ thể trong nghiên cứu của Mercer và cộng sự, cũng như toàn văn nghiên cứu năm 2025. Mâu thuẫn giữa các thí nghiệm cũ và mới vì thế chưa giải thích được đến nơi.
  • Bài gốc về orthosomnia: chúng tôi chưa mở được bài mô tả ca bệnh đầu tiên, nên chưa có số ca và đặc điểm ca bệnh.
  • Định nghĩa orthosomnia: chưa có công cụ nào được thẩm định với chẩn đoán lâm sàng. Tỉ lệ 3,0% hay 30,9% đều phụ thuộc định nghĩa và mẫu số.
  • Tác động dài hạn của việc theo dõi: bằng chứng nhân quả hiện có là một thực nghiệm ngắn ở 63 người mất ngủ. Chưa có dữ liệu về việc đọc con số mỗi sáng trong thời gian dài làm thay đổi giấc ngủ hay chỉ thay đổi cảm nhận.

Viết tắt trong trang

AHI
chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
ESS
thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
OSA
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
SOL
thời gian đi vào giấc ngủ (sleep onset latency)
TST
tổng thời gian ngủ (total sleep time)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Cảm nhận lệch số đo: giờ ngủ tự khai, mất ngủ nghịch lý, orthosomnia. Trong: Tập 9 — Đo giấc ngủ: đa ký, thiết bị đeo, thang tự báo cáo và độ lệch của từng phép đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/do-giac-ngu/cam-nhan-va-so-do-lech-nhau/