Chương này hỏi hai câu: ở Việt Nam và các nước châu Á, ai ngủ trưa và ngủ bao lâu; và trong thực nghiệm có kiểm soát, một giấc ngủ trưa ngắn làm gì với độ tỉnh táo, nhận thức và giấc ngủ đêm. Kết luận chính thứ nhất: ngủ trưa phổ biến ở người cao tuổi Việt Nam, khoảng hai phần ba trong một mẫu quốc gia, nhưng gần như mọi số liệu về độ dài giấc trưa đều do người tham gia tự kể. Kết luận thứ hai: trong thực nghiệm, ngủ trưa (giấc 15–90 phút trong phân tích gộp) đi kèm tỉnh táo tốt hơn ở mức nhỏ, còn giấc từ khoảng 30 phút trở lên dễ kèm một giai đoạn lơ mơ ngay sau khi dậy. Các bằng chứng về lợi ích phần lớn đến từ phòng thí nghiệm, trên người trẻ (tuổi trung bình khoảng 30–34), không phải người Việt.
Khung đọc cho cả tập#
Tập này xem xét những thói quen ngủ phổ biến ở Việt Nam và châu Á: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, võng, quấn trẻ, thuốc ngủ tự mua, thảo dược, châm cứu và dưỡng sinh. Với mỗi thói quen, chúng tôi hỏi cùng một bộ câu: có bằng chứng gì, ở nước nào, đo bằng gì, và mạnh tới đâu. Tập không khen hay chê một nền văn hoá, và không khuyên ai giữ hay bỏ một thói quen nào. Ba nguyên tắc dưới đây áp dụng cho mọi chương.
Phổ biến không có nghĩa là có lợi hay có hại. Một thói quen kéo dài qua nhiều thế hệ cho biết nó hợp với khí hậu, nhịp làm việc và cách tổ chức gia đình của một cộng đồng. Điều đó chưa cho biết thói quen ấy liên quan thế nào tới sức khoẻ. Câu hỏi sau cần số đo riêng.
Dữ liệu quan sát không phải là nhân quả. Phần lớn số liệu trong tập đến từ khảo sát cắt ngang hoặc nghiên cứu thuần tập: người tham gia kể lại thói quen của mình, rồi nhà nghiên cứu so sánh kết cục sức khoẻ giữa các nhóm. Khác biệt giữa các nhóm có thể do những yếu tố đi cùng thói quen, như tuổi, nghề, thu nhập hay bệnh nền; đó là hiện tượng nhiễu. Với loại dữ liệu này, chúng tôi viết "đi kèm" hoặc "liên quan". Chúng tôi chỉ viết "làm" hay "giúp" khi có thử nghiệm can thiệp.
Nhân quả ngược. Với ngủ trưa, vấn đề này đặc biệt rõ. Người đang có một bệnh chưa được chẩn đoán, người ngủ đêm kém hay người buồn ngủ ban ngày có thể ngủ trưa nhiều hơn vì chính tình trạng đó. Khi ấy, ngủ trưa dài là dấu hiệu của sức khoẻ đang suy giảm, không nhất thiết là nguyên nhân. Chương về ngủ trưa dài và sức khoẻ sẽ trở lại điểm này nhiều lần.
Cuối cùng, chúng tôi luôn ghi giấc ngủ được đo bằng gì. Các cách đo trong tập gồm đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) trong phòng thí nghiệm, actigraphy (thiết bị đeo cổ tay ghi cử động để ước tính ngủ và thức), thiết bị đeo thương mại, và bảng hỏi tự báo cáo. Kết quả từ một bảng hỏi không được đặt ngang hàng với số đo bằng thiết bị hay với thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT). Phần nền về các phương pháp đo nằm ở chuyên mục đo giấc ngủ, và bối cảnh dịch tễ chung ở dịch tễ học giấc ngủ.
Ai ngủ trưa và ngủ bao lâu#
Người cao tuổi Việt Nam#
Số liệu ngủ trưa có mẫu đại diện quốc gia ở người Việt mà chúng tôi tìm được chỉ có ở người từ 60 tuổi. Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam, LSAHV) giai đoạn 2018–2023 gồm 4.447 người cao tuổi sống tại cộng đồng. Tuổi trung bình của mẫu là 69,74, nữ chiếm 55,5% (Chen và cs., 2026). Khoảng hai phần ba người trả lời có ngủ trưa đều đặn hoặc khi cần.
Trong LSAHV, ngủ trưa được tự báo cáo theo hai trục: tần suất (đều đặn hoặc khi cần) và độ dài (dưới 30 phút, 30–59 phút, từ 60 phút trở lên). Bài là bản in trước của tạp chí, và chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt. Vì vậy chúng tôi chưa biết tỉ lệ người Việt cao tuổi thuộc từng nhóm độ dài.
Một nghiên cứu cắt ngang ở xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, Hoà Bình năm 2024 chọn ngẫu nhiên hệ thống 255 người từ 60 tuổi, tuổi trung bình 68 (Trần và Hoàng, 2024). Trong mẫu này, 40,0% (102/255) tự báo cáo ngủ trưa trên 30 phút mỗi ngày. Đây là số liệu của một xã, không đại diện cho người cao tuổi cả nước. Chúng tôi dùng số trong bảng kết quả, vì tóm tắt có vài số không khớp.
Đối chiếu châu Á và châu Âu#
Ở Trung Quốc, các con số khác nhau rất xa tuỳ cách hỏi. Một nghiên cứu cắt ngang đa trung tâm ở người Hán từ 60 tuổi tại 7 thành phố, giai đoạn 2011–2012, ghi nhận 1.534 trên 2.214 người có ngủ trưa, tức khoảng 69,3% (Cai và cs., 2021). Trong nghiên cứu này, ngủ trưa được định nghĩa là giấc từ 5 phút đến 2 giờ sau bữa trưa.
Nghiên cứu Theo dõi dọc về Sức khoẻ và Hưu trí Trung Quốc (China Health and Retirement Longitudinal Study, CHARLS) là thuần tập quốc gia ở 28 tỉnh. Trong mẫu 15.524 người từ 45 tuổi, 46,8% không ngủ trưa và 14,1% ngủ trưa từ 60 phút trở lên (Wang và cs., 2023). Ở đầu kia, nhánh Đồng Hương (Chiết Giang) của China Kadoorie Biobank chỉ ghi 5,11% có "thói quen ngủ trưa" trong 53.916 người 30–79 tuổi (Wang và cs., 2021).
Như vậy, tỉ lệ ngủ trưa ở Trung Quốc được báo từ khoảng 5% tới khoảng 69%. Lý do khả dĩ nằm ở định nghĩa: "thói quen" đều đặn khác với bất kỳ số phút nào sau bữa trưa. Tuổi, vùng và cách đặt câu hỏi cũng khác nhau giữa các nghiên cứu. Ngay trong CHARLS cũng có một chỗ chưa khớp. Một phân tích trên 4.024 người trên 60 tuổi có đủ 4 đợt dữ liệu báo chỉ 16,7% không ngủ trưa và 45,7% ngủ trưa trên 90 phút (Li và Yan, 2022). Con số 45,7% này khó dung hoà với mức 14,1% ngủ từ 60 phút trong phân tích của Wang và cs. Khác biệt có thể đến từ cách phân nhóm, từ việc chỉ giữ người đủ 4 đợt, hoặc từ lỗi trình bày. Cần kiểm bảng gốc trước khi dùng con số này.
Ở Nhật, một khảo sát dân số chung chọn ngẫu nhiên từ 300 khu vực toàn quốc vào tháng 11/2007 gồm 7.664 người 20–99 tuổi (Furihata và cs., 2016). Tỉ lệ ngủ trưa từ 4 ngày mỗi tuần trở lên là 21,2% ở nam và 17,1% ở nữ. Rất ít người ngủ trưa từ 2 giờ trở lên mỗi lần: 2,9% ở nam và 2,6% ở nữ. Một tổng quan hệ thống dẫn lại từ nghiên cứu khác rằng 25,8% người Nhật từ 60 tuổi ngủ trưa đều đặn, tức từ 4 ngày mỗi tuần (Souabni và cs., 2022). Cùng tổng quan dẫn mức khoảng 55% ở người cao tuổi Trung Quốc và 40,3–52,6% trong một thuần tập ở Mỹ.
Ở Đông Nam Á, Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Philippines (Longitudinal Study on Ageing and Health in the Philippines, LSAHP) năm 2018 có thiết kế đại diện quốc gia. Trong 5.209 người từ 60 tuổi được phân tích, 35,7% ngủ trưa đều đặn (Pengpid và Peltzer, 2024). Tỉ lệ ngủ trưa đều đặn 1–59 phút là 10,5%, và từ 60 phút trở lên là 25,2%. Mức 35,7% thấp hơn mức hai phần ba của LSAHV, nhưng hai nghiên cứu hỏi khác nhau: "đều đặn" ở Philippines, "đều đặn hoặc khi cần" ở Việt Nam. Khi chỉ tính ngủ trưa đều đặn, đợt nền LSAHV 2018 ghi 34,6% ở người từ 60 tuổi, gần mức của Philippines (Chen và Saito, 2020).
Ở Anh, Ngân hàng Sinh học Vương quốc Anh (UK Biobank) hỏi tần suất ngủ trưa ở 452.633 người 40–69 tuổi (Dashti và cs., 2021). Có 38,2% thỉnh thoảng ngủ trưa và chỉ 5,3% ngủ trưa thường xuyên. Trong mẫu 541.333 khách hàng của công ty xét nghiệm gen 23andMe, hai tỉ lệ tương ứng là 43,0% và 7,6%. Cả hai mẫu chủ yếu là người gốc châu Âu; UK Biobank (40–69 tuổi) trẻ hơn mẫu LSAHV, và câu hỏi không có lựa chọn "khi cần".
| Nước, nghiên cứu | Mẫu | Cách hỏi | Tỉ lệ |
|---|---|---|---|
| Việt Nam, LSAHV 2018–2023 | 4.447 người cao tuổi, đại diện quốc gia | Ngủ trưa đều đặn hoặc khi cần | Khoảng 2/3 |
| Việt Nam, một xã ở Hoà Bình, 2024 | 255 người ≥ 60 tuổi | Ngủ trưa trên 30 phút mỗi ngày | 40,0% |
| Philippines, LSAHP 2018 | 5.209 người ≥ 60 tuổi | Ngủ trưa đều đặn | 35,7% (≥ 60 phút: 25,2%) |
| Trung Quốc, 7 thành phố, 2011–2012 | 2.214 người ≥ 60 tuổi | Có ngủ trưa sau bữa trưa | 69,3% |
| Trung Quốc, CHARLS | 15.524 người ≥ 45 tuổi | Số phút ngủ trưa sau bữa trưa | Không ngủ trưa 46,8%; ≥ 60 phút 14,1% |
| Trung Quốc, CHARLS, đủ 4 đợt | 4.024 người > 60 tuổi | Số phút ngủ trưa mỗi ngày | Không ngủ trưa 16,7%; > 90 phút 45,7% |
| Trung Quốc, Kadoorie (Đồng Hương) | 53.916 người 30–79 tuổi | Thói quen ngủ trưa | 5,11% |
| Nhật, khảo sát toàn quốc 2007 | 7.664 người 20–99 tuổi | Ngủ trưa ≥ 4 ngày/tuần | Nam 21,2%; nữ 17,1% |
| Anh, UK Biobank | 452.633 người 40–69 tuổi | Thường xuyên; thỉnh thoảng | 5,3%; 38,2% |
Tất cả các tỉ lệ trong bảng đều là tự báo cáo. SL Vì định nghĩa, tuổi và cách hỏi khác nhau, bảng cho thấy độ rộng của các con số hơn là một thứ hạng giữa các nước.
Yếu tố đi kèm#
Trong khảo sát toàn quốc ở Nhật, ngủ trưa từ 4 ngày mỗi tuần đi kèm nam giới, tuổi cao, hút thuốc, triệu chứng mất ngủ, ngủ đêm dài và buồn ngủ ban ngày quá mức (Furihata và cs., 2016). Nó cũng đi kèm cảm giác được nghỉ ngơi đủ nhờ giấc ngủ, còn uống rượu đi kèm ít ngủ trưa hơn. Ngủ trưa từ 2 giờ trở lên lại liên quan nghịch với tuổi cao. Nhóm này liên quan thuận với sống ở đô thị lớn, hút thuốc, ngủ dài, buồn ngủ ban ngày và căng thẳng tâm lý. Tóm tắt không nêu độ lớn của từng liên quan.
Ở người cao tuổi Philippines, ngủ trưa dài đi kèm tuổi cao hơn, giàu hơn, sống ở thành thị, vận động thể lực và hạn chế trong hoạt động hằng ngày (Pengpid và Peltzer, 2024). Người còn đi làm, người tự đánh giá sức khoẻ kém và người uống rượu ít ngủ trưa dài hơn.
SL Một số yếu tố ở cả hai nước, như triệu chứng mất ngủ, buồn ngủ ban ngày và hạn chế hoạt động hằng ngày, phù hợp với giả thuyết nhân quả ngược nêu ở đầu chương. Nhưng bức tranh không một chiều: cảm giác được nghỉ ngơi đủ ở Nhật và vận động thể lực ở Philippines cũng đi kèm ngủ trưa.
Thành phần di truyền#
Thói quen ngủ trưa có một phần di truyền. Nghiên cứu liên kết toàn bộ hệ gen (genome-wide association study, GWAS) trên UK Biobank tìm thấy 123 vùng gen liên quan tần suất ngủ trưa tự báo cáo (Dashti và cs., 2021). Có 61 vùng được lặp lại trong mẫu 23andMe. Nhóm tác giả kiểm lại bằng gia tốc kế đeo cổ tay ở 85.499 người. Mỗi bậc tăng tần suất ngủ trưa theo điểm đa gen đi kèm thêm 18,9 phút bất động ban ngày, khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) 13,6–24,2.
Một số tác giả là nhân viên 23andMe và có cổ phần trong công ty. Mẫu là người gốc châu Âu, vì thế chưa chắc kết quả áp dụng cho người châu Á.
Đo ngủ trưa: lời kể và thiết bị#
Gần như mọi tỉ lệ và độ dài ngủ trưa ở trên đều đến từ lời kể. Một nghiên cứu cắt ngang ở TP.HCM cho thấy giới hạn của cách đo này trong một quần thể cụ thể (Vo và cs., 2026). Có 208 bà mẹ cho con bú, một tháng sau sinh, đeo Fitbit Charge 6 trong 4 ngày 3 đêm rồi trả lời phỏng vấn theo bảng hỏi có cấu trúc.
Thời lượng giấc ngủ ngắn ban ngày theo thiết bị và theo lời kể chỉ tương quan yếu, r = 0,25. Tổng thời gian ngủ theo hai cách cũng chỉ tương quan yếu, r = 0,28. Điểm giấc ngủ của Fitbit và mức hài lòng giấc ngủ trùng nhau ở 79,9% người tham gia, nhưng hệ số kappa chỉ 0,02. Kappa đo mức đồng thuận sau khi trừ phần trùng hợp do ngẫu nhiên, vì thế tỉ lệ trùng cao vẫn có thể đi kèm kappa gần 0.
Kết quả này không suy rộng được cho mọi nghiên cứu ngủ trưa tự báo cáo. Người tham gia là bà mẹ mới sinh với giấc ngủ chia cắt, và "giấc ngủ ngắn" do Fitbit ghi có thể khác "ngủ trưa" theo nghĩa thông thường. SL Dù vậy, nó nhắc rằng độ dài ngủ trưa tự kể là một số đo kém chính xác. Điều này quan trọng khi chương sau so các ngưỡng 30, 40 và 60 phút.
Giấc ngủ trưa ngắn: tỉnh táo và quán tính giấc ngủ#
Quán tính giấc ngủ#
Quán tính giấc ngủ (sleep inertia) là trạng thái lơ mơ, giảm hiệu suất ngay sau khi thức dậy. Một tổng quan tường thuật các nghiên cứu thực nghiệm mô tả phần lớn ảnh hưởng nằm trong 15–30 phút đầu (Hilditch và McHill, 2019). Hiệu suất thường trở về mức trước khi ngủ trong khoảng đó, nhưng hồi phục hoàn toàn cần ít nhất 1 giờ. Trong một nghiên cứu được dẫn, suy giảm khả năng làm tính kéo dài tới 3,5 giờ. Ngay lúc vừa thức, mức suy giảm có thể ngang hoặc hơn mức sau 40 giờ thức trắng.
Tổng quan ghi rằng giấc ngủ trưa từ 30 phút trở xuống ít kèm quán tính hơn. Một lý do được nêu là giấc ngủ sóng chậm thường bắt đầu khoảng 30 phút sau khi ngủ. Tuy vậy, mối liên hệ giữa ngủ sâu và quán tính không nhất quán. Trong nghiên cứu của Stampi được dẫn lại, người thức dậy từ giấc ngủ sóng chậm có hiệu suất thấp hơn 41% so với trước khi ngủ. Ngược lại, trong nghiên cứu của Lovato, dù 91% người tham gia thức dậy từ giấc ngủ sóng chậm, không quan sát thấy suy giảm hiệu suất sau giấc ngủ trưa trong ca đêm mô phỏng.
Cần lưu ý đây là tổng quan tường thuật, không phải phân tích gộp.
Thử nghiệm 5, 10, 20 và 30 phút#
Một thực nghiệm thường được dẫn về độ dài giấc ngủ trưa ngắn được làm ở Úc (Brooks và Lack, 2006). Người tham gia là 24 người trẻ khoẻ ở Úc, ngủ tốt và không có thói quen ngủ trưa. Mỗi người trải qua năm điều kiện sau một đêm ngủ hạn chế khoảng 5 giờ tại nhà: không ngủ trưa, hoặc ngủ trưa 5, 10, 20, 30 phút lúc 15 giờ. Giấc ngủ trưa được đo bằng điện não đồ (electroencephalography, EEG). Kết cục gồm độ trễ vào giấc, buồn ngủ chủ quan, mệt mỏi và hiệu suất nhận thức trong 3 giờ sau đó.
- 5 phút: ít lợi ích so với không ngủ trưa.
- 10 phút: mọi chỉ số đo tốt lên ngay sau khi dậy, một số lợi ích kéo dài tới 155 phút.
- 20 phút: cải thiện xuất hiện sau khoảng 35 phút và kéo dài tới 125 phút.
- 30 phút: tỉnh táo và hiệu suất giảm ngay sau khi dậy, phù hợp với quán tính giấc ngủ, rồi mới cải thiện và kéo dài tới 155 phút.
Mẫu nhỏ, người tham gia không quen ngủ trưa và vừa bị hạn chế ngủ đêm. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt. SL Kết quả chưa chắc áp dụng cho người Việt quen ngủ trưa dài sau bữa trưa và không bị thiếu ngủ trước đó.
Phân tích gộp về nhận thức#
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp gom 11 nghiên cứu có nhóm chứng, gồm 6 RCT và 5 nghiên cứu có nhóm chứng không ngẫu nhiên (Dutheil và cs., 2021). Tổng cộng có 381 người, tuổi trung bình khoảng 30–34. Giấc ngủ trưa dài trung bình 55,4 ± 29,4 phút, trải từ 15 tới 90 phút. Hầu hết nghiên cứu diễn ra trong phòng thí nghiệm.
So với nhóm chứng, ngủ trưa đi kèm hiệu suất nhận thức tốt hơn với cỡ hiệu ứng chuẩn hoá (effect size, ES) tổng 0,18 (KTC 95% 0,09–0,27). Độ không đồng nhất giữa các nghiên cứu thấp, I² 4,3%. Theo lĩnh vực, ES cho độ tỉnh táo là 0,29 (0,10–0,48) và cho chức năng điều hành là 0,23 (0,00–0,47). Với trí nhớ, ES là 0,11 (−0,01–0,24), không khác có ý nghĩa. Cỡ hiệu ứng quanh 0,2 thường được xếp là nhỏ.
Lợi ích vẫn còn khi đo lại hơn 2 giờ sau khi thức. ES là 0,22 (0,03–0,42) khi đo trong 30 phút đầu, 0,28 (0,09–0,48) khi đo sau 61–120 phút, và 0,20 (0,04–0,37) khi đo sau hơn 120 phút. Trong hồi quy, lợi ích không phụ thuộc tuổi, giới hay độ dài giấc ngủ trưa. Tác giả báo giấc ngủ trưa sớm, trước 13 giờ, có lợi hơn, nhưng con số trong tóm tắt và phần kết quả không khớp nhau. Nghiên cứu không nhận tài trợ bên ngoài.
Một mâu thuẫn về độ dài tối ưu#
Brooks và Lack thấy 10 phút cho lợi ích ngay, còn 30 phút đi kèm quán tính lúc đầu. Phân tích gộp của Dutheil và cs. lại không thấy độ dài giấc ngủ trưa ảnh hưởng kết quả. SL Hai kết quả này có thể cùng đúng vì ba lý do. Thứ nhất, thời điểm đo khác nhau: đo ngay sau khi thức thì gặp quán tính, đo sau hơn 30 phút thì quán tính phần lớn đã qua. Thứ hai, người tham gia của Brooks và Lack bị hạn chế ngủ đêm, còn các nghiên cứu được gộp thì không đồng nhất về điều này. Thứ ba, phân tích gộp chỉ có 11 nghiên cứu, với giấc ngủ trưa 15–90 phút.
Ngủ trưa tại nơi làm việc#
Chính nhóm tác giả của Dutheil lưu ý rằng cả 11 nghiên cứu đều diễn ra trong phòng thí nghiệm. Chỉ 1 nghiên cứu có thêm một phân nhóm trong điều kiện làm việc thật, ở bác sĩ nội trú năm nhất. Tác giả viết rằng cần thêm nghiên cứu trong điều kiện làm việc thật trước khi áp dụng ngủ trưa tại nơi làm việc.
Một RCT thực địa ở Chennai (Ấn Độ) là ngoại lệ hiếm hoi ở châu Á (Bessone và cs., 2021). Nghiên cứu gồm 452 người lao động thu nhập thấp, giấc ngủ đo bằng actigraphy. Người tham gia nằm giường khoảng 8 giờ mỗi đêm nhưng chỉ ngủ thực khoảng 5,6 giờ; nhóm chứng ngủ 5 giờ 37 phút. Giấc ngủ đêm của họ bị chia cắt trong nhà nóng, ồn và chật.
Nhánh khuyến khích ngủ đêm có thêm 27 phút ngủ và 38 phút nằm giường. Trái với kỳ vọng của nhóm nghiên cứu, không phát hiện tác động lên nhận thức, năng suất, ra quyết định hay sức khoẻ tinh thần. Số giờ lao động và thu nhập còn giảm nhẹ. Nhánh ngủ trưa 30 phút mỗi ngày trong phòng riêng yên tĩnh tại nơi làm việc thì khác. So với nhóm chỉ được nghỉ giải lao, năng suất cao hơn 2,3% và thu nhập mỗi ngày cao hơn 4,1%. Hiệu quả giấc ngủ của giấc trưa là 85%, so với 66% của giấc đêm ở nhà.
Chúng tôi chỉ đọc được bản tóm tắt của J-PAL (Phòng thí nghiệm Hành động chống Nghèo đói Abdul Latif Jameel). Tác giả gợi ý giấc ngủ đêm thêm vẫn có chất lượng thấp vì nóng và ồn. SL Kết quả này không có nghĩa giấc ngủ đêm không quan trọng. SL Ấn Độ không phải Việt Nam, dù điều kiện nhà ở nóng, ồn có điểm tương đồng.
Ngủ trưa và giấc ngủ đêm ở người cao tuổi#
Ngủ trưa có đi kèm giấc ngủ đêm kém hơn ở người cao tuổi không? Thực nghiệm và quan sát trả lời theo hai hướng khác nhau. Mục từ điển ngủ trưa dài, tối khó ngủ bàn hiện tượng này ở cấp hướng dẫn.
Thực nghiệm đo bằng PSG#
Trong một thực nghiệm ở Mỹ, 32 người khoẻ 55–85 tuổi trải qua hai phiên trong phòng thí nghiệm, có và không có ngủ trưa (Campbell và cs., 2005). Giấc ngủ được đo bằng PSG. Giấc ngủ trưa hầu như không ảnh hưởng chất lượng hay thời lượng giấc ngủ đêm sau đó. Nó làm tổng ngủ 24 giờ tăng có ý nghĩa và đi kèm hiệu suất nhận thức tốt hơn. Tóm tắt không nêu số phút tăng thêm. Giấc ngủ trưa ở đây do nhà nghiên cứu sắp đặt, ở người khoẻ.
Quan sát ở Nhật và Việt Nam#
Một nghiên cứu cắt ngang ở 99 người cao tuổi Nhật, tuổi trung bình 73,9, đo cả giấc trưa lẫn giấc đêm bằng actigraphy (Saito và Matsuda, 2013). Hiệu quả giấc ngủ đêm ở nhóm ngủ trưa dưới 30 phút cao hơn nhóm trên 31 phút (p = 0,0164). Nhóm không ngủ trưa cũng cao hơn nhóm trên 31 phút (p = 0,005). Cỡ ba nhóm là 31, 41 và 27 người, nhưng chúng tôi không đọc chắc được nhãn của từng nhóm.
Nhóm ngủ trưa dài trong nghiên cứu Nhật lớn tuổi hơn. Nhóm ngủ dưới 30 phút chủ yếu chợp mắt sau 15 giờ, trung vị 17:56. Kiểu chợp mắt cuối chiều này khác kiểu ngủ trưa sau bữa trưa phổ biến ở Việt Nam.
Ở xã Tân Vinh (Hoà Bình), mất ngủ được đo bằng Chỉ số Mức độ Mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) bản tiếng Việt, ngưỡng từ 10 điểm (Trần và Hoàng, 2024). Tỉ lệ mất ngủ chung là 77,3%. Ngủ trưa trên 30 phút đi kèm khả năng mất ngủ cao hơn, với tỉ số chênh (odds ratio, OR) hiệu chỉnh 3,9. Bài không nêu KTC 95%, mẫu chỉ ở một xã, và thiết kế cắt ngang không cho biết chiều quan hệ.
Ở 216 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Quân y 175 (TP.HCM), mất ngủ được chẩn đoán bằng phỏng vấn lâm sàng chuẩn hoá do 2 bác sĩ tâm thần thực hiện (Tran và cs., 2025). Tiêu chuẩn chẩn đoán là Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, ấn bản 5 (DSM-5). Tỉ lệ mất ngủ là 48,1%. Có ngủ hoặc chợp mắt ban ngày đi kèm OR 2,122 (KTC 95% 1,159–3,885) với mất ngủ. Bảng hỏi không ghi độ dài giấc ngủ ban ngày. Bài ghi OR 2,122 ở tóm tắt nhưng 2,212 ở phần kết quả, với cùng KTC. Đây là quần thể bệnh nặng, không suy rộng được cho người khoẻ.
Vì sao hai hướng khác nhau#
Thực nghiệm đo bằng PSG thấy giấc ngủ trưa ít ảnh hưởng tới giấc ngủ đêm. Ba nghiên cứu quan sát ở Nhật và Việt Nam lại thấy ngủ trưa, nhất là ngủ trưa dài, đi kèm giấc ngủ đêm kém hơn hoặc mất ngủ. SL Các lý do khả dĩ gồm:
- Chiều quan hệ: nghiên cứu cắt ngang không phân biệt được ngủ trưa dài dẫn tới mất ngủ đêm, hay người mất ngủ đêm ngủ trưa bù.
- Quần thể: thực nghiệm chọn người khoẻ; nghiên cứu quan sát gồm người cao tuổi hơn và người bệnh nặng.
- Giấc ngủ trưa: trong thực nghiệm, giấc trưa được sắp đặt; ngoài đời, người tham gia tự chọn, và giấc thường dài hơn.
Hướng dẫn Nhật 2023#
Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản ban hành Hướng dẫn Giấc ngủ vì Sức khoẻ 2023 (Hội đồng rà soát Hướng dẫn giấc ngủ, 2024). Chúng tôi thuật lại đúng như văn bản. Với người cao tuổi, hướng dẫn khuyên tránh ngủ trưa dài vì giấc ngủ trưa dài cản trở giấc ngủ đêm. Văn bản dẫn dữ liệu rằng ngủ trưa từ 30 phút trở lên đi kèm nguy cơ tử vong cao hơn 1,27 lần.
Với trẻ khó ngủ buổi tối, hướng dẫn viết rằng tránh ngủ trưa có thể tốt hơn, và ghi nhu cầu ngủ trưa của trẻ giảm sau 4–5 tuổi. Trong phần chúng tôi đọc được, hướng dẫn không đặt giới hạn số phút hay giờ cụ thể cho ngủ trưa. Dữ kiện chúng tôi có không ghi mức khuyến nghị. Ngưỡng 30 phút trong dữ liệu được dẫn khác ngưỡng 60 phút của nhiều phân tích gộp. Chương về ngủ trưa dài và sức khoẻ bàn mâu thuẫn này.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm ngẫu nhiên nào về ngủ trưa ngắn ở người Việt, dù là học sinh, công nhân hay nhân viên văn phòng.
- Chúng tôi chưa tìm được số liệu về tỉ lệ và độ dài ngủ trưa ở người Việt trưởng thành dưới 60 tuổi; số liệu đại diện quốc gia chỉ có ở người cao tuổi.
- Chúng tôi chưa đọc được toàn văn của Chen và cs. về LSAHV, vì thế chưa biết tỉ lệ từng nhóm độ dài ngủ trưa ở người cao tuổi Việt Nam.
- Gần như mọi số liệu ngủ trưa đều dựa trên tự báo cáo; nghiên cứu đo ngủ trưa bằng actigraphy ở châu Á mà chúng tôi tìm được chỉ có mẫu nhỏ (Saito và Matsuda, 99 người).
- Chúng tôi không mở được thử nghiệm ngủ trưa ngắn ở người cao tuổi Nhật của Tamaki, thử nghiệm caffeine trước ngủ trưa của Hayashi, và toàn văn nghiên cứu LSAHP ở Philippines.
Viết tắt trong trang
- CHARLS
- Nghiên cứu Theo dõi dọc về Sức khoẻ và Hưu trí Trung Quốc (China Health and Retirement Longitudinal Study)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- GWAS
- nghiên cứu liên kết toàn bộ hệ gen (genome-wide association study)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- LSAHV
- Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Ngủ trưa: ai ngủ, ngủ bao lâu, và giấc ngắn làm gì. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/ngu-trua-ai-ngu-va-giac-ngan/