Phụ lục này liệt kê toàn bộ 79 dữ kiện của nhánh Thuốc, thảo dược, châm cứu và thực hành truyền thống đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, chế phẩm và nhóm chứng, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b3-001) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương.
Dùng ở chương: Thuốc ngủ tự dùng, thuốc kê đơn và bình vôi#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-001 | Phác đồ ngộ độc rotundin của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương ghi rằng chưa có tài liệu nào xác định liều ngộ độc, nhưng ghi nhận biến đổi điện tim ở bệnh nhân uống 300 mg rotundin trong 24 giờ; hầu hết bệnh nhân ngộ độc có bất thường điện tim (ST chênh lên, T đảo, QT kéo dài), có thể nhịp chậm xoang, block nhĩ thất độ I, tụt huyết áp, ức chế thần kinh trung ương tới hôn mê. | Biến đổi điện tim ở mức 300 mg/24 giờ; liều ngộ độc chưa xác định | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Phác đồ xử trí lâm sàng của bệnh viện (tài liệu nội bộ công bố trên web), không phải nghiên cứu có cỡ mẫu · Không áp dụng | Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, 2021 |
| b3-002 | Cùng phác đồ ghi viêm gan là tác dụng có thể gặp của rotundin, chủ yếu ở người dùng kéo dài, và cơ chế tác dụng là ức chế hệ lưới và thụ thể dopamin ở não. | Định tính: viêm gan chủ yếu khi dùng kéo dài | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Phác đồ xử trí lâm sàng của bệnh viện · Không áp dụng | Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, 2021 |
| b3-003 | CDC (MMWR 1993) báo cáo 3 phụ nữ (24, 45 và 66 tuổi) ở Los Angeles bị viêm gan cấp liên quan chế phẩm Jin Bu Huan mua cùng một cửa hàng; phân tích viên thuốc của 2 bệnh nhân cho thấy levo-tetrahydropalmatine (l-THP, cùng hoạt chất với rotundin) chiếm 36% (28,8 mg), trong khi nhãn ghi nguồn gốc là Polygala chinensis. Một bệnh nhân dùng lại sản phẩm thì men gan tăng trở lại và về bình thường sau khi ngừng (tái phơi nhiễm không chủ đích). | 3 ca viêm gan cấp; ALT cao nhất 1.468 U/L (bình thường < 40); l-THP 28,8 mg (36%) trong viên thuốc phân tích | Người | Báo cáo loạt ca (case series) của cơ quan y tế công cộng; phân tích hoá học viên thuốc · n = 3 người lớn (cùng nhắc 3 trẻ em quá liều ở Colorado) | Centers for Disease Control and Prevention, 1993 |
| b3-004 | Cùng báo cáo MMWR nhắc lại 3 trẻ em ở Colorado uống quá liều Jin Bu Huan (l-THP) bị ức chế thần kinh trung ương, ức chế hô hấp và nhịp tim chậm khởi phát nhanh đe doạ tính mạng. | 3 trẻ em; nhịp chậm đe doạ tính mạng | Người | Báo cáo ca (nhắc lại báo cáo trước đó) · n = 3 trẻ em | Centers for Disease Control and Prevention, 1993 |
| b3-005 | Tổng quan toàn diện về tetrahydropalmatine (THP) năm 2022 ghi rằng nghiên cứu độc tính của THP còn hạn chế; dữ liệu về giấc ngủ là trên chuột (THP tiêm phúc mạc 5 và 10 mg/kg làm tăng giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh, NREM), và thử nghiệm trên người duy nhất được nêu là một RCT mù đôi ở người dùng cocaine (đợt 3,5 ngày), không phải ở người mất ngủ. | 0 thử nghiệm trên người mất ngủ được nêu; dữ liệu giấc ngủ: chuột, 5–10 mg/kg tiêm phúc mạc | Tổng quan | Tổng quan tường thuật (không hệ thống) về hoá học, nguồn thực vật, dược lý, dược động học và độc tính của THP · Không áp dụng | Du và cs., 2022 |
| b3-032 | Khảo sát trực tuyến 2.034 sinh viên ở 4 trường đại học TP.HCM: 24,9% có triệu chứng mất ngủ theo Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI ≥ 15); mất ngủ đi kèm căng thẳng vì thi trượt/thi lại (OR 2,17), dùng điện thoại trước khi ngủ (OR 1,93) và nghiện điện thoại thông minh (OR 1,84). | 24,9% (ISI ≥ 15); OR thi lại 2,17 (1,74–2,71); điện thoại trước ngủ 1,93 (1,06–3,51); nghiện điện thoại 1,84 (1,48–2,28) | Người | Cắt ngang, bảng hỏi Google Forms; mất ngủ đo bằng ISI tự báo cáo, ngưỡng ≥ 15 (mức trung bình trở lên); hồi quy logistic · n = 2.034 sinh viên, TP.HCM | Phạm Thị Thanh Ngân và cs., 2023 (tóm tắt) |
| b3-033 | Ở 385 người ≥ 60 tuổi tăng huyết áp khám ngoại trú tại 3 trạm y tế xã ngoại thành Hà Nội (2024–2025), 57,1% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI > 5; nhóm ≥ 71 tuổi đi kèm nguy cơ cao hơn (OR 2,57). | 57,1% (220/385); OR tuổi ≥ 71: 2,57 (1,69–3,89) | Người | Cắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; PSQI tự báo cáo, ngưỡng > 5 · n = 385, Hà Nội ngoại thành | Nguyễn Văn Tuấn và cs., 2025 |
| b3-034 | Khảo sát cộng đồng ở một xã thuộc Quảng Nam (2017): 65,8% người trưởng thành tự dùng thuốc tân dược không qua khám; 90% thuốc tự dùng hoàn toàn không có nhãn; 88,2% tự dùng vì nghĩ bệnh nhẹ. Bài nêu thuốc ngủ ngày càng được bán nhiều mà không hỏi ý kiến thầy thuốc nhưng không có số liệu riêng cho thuốc ngủ. | 65,8% tự dùng tân dược; 90% thuốc không nhãn; 88,2% vì nghĩ bệnh nhẹ | Người | Cắt ngang dựa vào cộng đồng, chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc · n = 291 theo phương pháp; bảng kết quả dựa trên 243 | Trương Thị Lê Huyền và cs., 2018 |
| b3-035 | Ở 215 bệnh nhân ≥ 65 tuổi nằm nội trú tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Thống Nhất TP.HCM (12/2020–6/2021), 31,2% dùng ít nhất một thuốc có khả năng không phù hợp theo tiêu chuẩn Beers 2019; benzodiazepine tác dụng dài (diazepam) là thuốc không phù hợp thường gặp nhất (55 trường hợp, tức 27,2% số thuốc không phù hợp được ghi nhận; khoảng 25,6% số bệnh nhân). | thuốc có khả năng không phù hợp (PIM) 31,2% (67/215 bệnh nhân); diazepam 55 trường hợp (27,2% theo mẫu số của bảng, khoảng 202) | Người | Cắt ngang mô tả hồi cứu hồ sơ bệnh án; tiêu chuẩn AGS Beers 2019 · n = 215 bệnh nhân, 619 đơn; tuổi TB 76,2 | Nguyen Van Tan và cs., 2023 |
| b3-036 | Thông tư 26/2025/TT-BYT (ban hành 30/6/2025, hiệu lực 01/7/2025, thay Thông tư 52/2017/TT-BYT, 18/2018/TT-BYT, 04/2022/TT-BYT và 27/2021/TT-BYT) quy định thuốc hướng thần và tiền chất kê trên đơn "H" làm 3 bản; mỗi lần kê cho bệnh cấp tính không quá 10 ngày, bệnh cần chữa trị dài ngày không quá 30 ngày; thuốc gây nghiện cho bệnh cấp tính không quá 7 ngày. | Hướng thần: ≤ 10 ngày (cấp tính), ≤ 30 ngày (dài ngày); gây nghiện: ≤ 7 ngày (cấp tính) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Y tế · Không áp dụng | Bộ Y tế, 2025 |
| b3-037 | Cùng Thông tư 26/2025/TT-BYT quy định cơ sở bán lẻ chỉ được bán thuốc (không thuộc danh mục thuốc không kê đơn) khi người mua có đơn, và người bệnh lĩnh/mua thuốc trong tối đa 5 ngày kể từ ngày kê đơn. | Mua trong ≤ 5 ngày từ ngày kê đơn | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Y tế · Không áp dụng | Bộ Y tế, 2025 |
| b3-038 | Trang bán lẻ trực tuyến của một chuỗi nhà thuốc lớn (kiểm tra 11/2026) ghi rotundin 30 mg "chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ"; trang không có cảnh báo nào về gan hay tim, chỉ cảnh báo buồn ngủ khi lái xe, thai kỳ, cho con bú và không dùng cùng thuốc ức chế thần kinh trung ương, đồng thời mô tả hoạt chất có tác dụng "điều hoà nhịp tim, hạ huyết áp". | Định tính: có ghi cần chỉ định bác sĩ; 0 cảnh báo gan/tim trên trang | Tài liệu ngành | Quan sát trang thương mại điện tử (một thời điểm) · 1 trang sản phẩm | Pharmacity, 2026 |
| b3-040 | Một bài báo sức khoẻ phổ thông năm 2024 trên VnExpress có tiêu đề gọi củ bình vôi là "vị thuốc quý chữa mất ngủ"; bài có cảnh báo về buồn ngủ, người có bệnh tim/rối loạn nhịp, quá liều gây ngộ độc và "không nên tự ý sử dụng", nhưng không nhắc đến nguy cơ với gan. | Định tính: 0 đề cập độc tính gan | Báo chí, thông cáo | Phân tích nội dung một bài báo phổ thông có trích lời bác sĩ chuyên khoa I · 1 bài báo | Mỹ Ý, 2024 |
| b3-041 | Phân tích gộp các nghiên cứu quan sát (2017): dùng benzodiazepine đi kèm nguy cơ gãy cổ xương đùi tăng 52% và Z-drug (zolpidem, zopiclone…) tăng 90%; nguy cơ cao nhất ở người mới bắt đầu dùng (ngắn hạn: RR khoảng 2,4 cho cả hai nhóm). | Benzodiazepine RR 1,52 (1,37–1,68); Z-drug RR 1,90 (1,68–2,13); dùng ngắn hạn: benzodiazepine RR 2,40 (1,88–3,05), Z-drug RR 2,39 (1,74–3,29) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên các nghiên cứu quan sát; MEDLINE, SCOPUS đến 5/2015; phân nhóm theo thời gian dùng · Số nghiên cứu không có trong phần tóm tắt đọc được | Donnelly và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b3-042 | Luận án về ngộ độc cấp ở miền Bắc Việt Nam (Karolinska Institutet, 2010) xếp thuốc ngủ (hypnotic pharmaceuticals) vào nhóm tác nhân gây ngộ độc thường gặp nhất và xác định việc tự dùng thuốc mua ở nhà thuốc bán lẻ mà không có tư vấn chuyên môn là yếu tố nguy cơ phổ biến. | Định tính (trang tóm tắt không có tỉ lệ) | Người | Luận án tiến sĩ gồm các nghiên cứu dịch tễ học bệnh viện về ngộ độc cấp · Không có trong trang tóm tắt | Tran Hung Ha, 2010 (tóm tắt) |
| b3-043 | Hướng dẫn dùng thuốc cho mất ngủ mạn tính của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) 2017 đề nghị bác sĩ KHÔNG dùng valerian, diphenhydramine (kháng histamin), melatonin, L-tryptophan, trazodone và tiagabine cho mất ngủ khó vào giấc hay khó duy trì giấc (mức khuyến cáo yếu); với zolpidem, mức chất lượng bằng chứng được xếp "rất thấp". | 6 chất "không nên dùng" (khuyến cáo yếu); zolpidem: chất lượng bằng chứng rất thấp | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn thực hành lâm sàng dựa trên tổng quan hệ thống và GRADE · Không áp dụng | Sateia và cs., 2017 |
| b3-044 | Hướng dẫn Mất ngủ châu Âu 2023 (European Sleep Research Society) khuyến cáo không dùng thảo dược (phytotherapeutics), thuốc kháng histamin, thuốc chống loạn thần, melatonin giải phóng nhanh và ramelteon cho mất ngủ (mức A); CBT-I là lựa chọn đầu tay cho mất ngủ mạn tính (mức A). | Thảo dược: không khuyến cáo (mức A); CBT-I đầu tay (mức A) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn lâm sàng dựa trên tổng quan hệ thống và phân tích gộp · Không áp dụng | Riemann và cs., 2023 |
| b3-045 | Cùng hướng dẫn châu Âu 2023: benzodiazepine và các chất chủ vận thụ thể benzodiazepine (Z-drug) có thể dùng ngắn hạn (≤ 4 tuần) nếu CBT-I không hiệu quả hoặc không có sẵn (mức A); dùng dài hơn chỉ xét theo từng ca (mức B). | ≤ 4 tuần (mức A) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn lâm sàng · Không áp dụng | Riemann và cs., 2023 |
| b3-046 | Phân tích gộp 24 RCT (2.417 người ≥ 60 tuổi mất ngủ) về thuốc ngủ (sedative hypnotics: benzodiazepine, Z-drug…): tổng thời gian ngủ chỉ tăng trung bình 25,2 phút, nhưng tỉ số chênh của biến cố nhận thức gần 5 và của mệt mỏi ban ngày gần 4; cứ 13 người dùng thì 1 người ngủ khá hơn, cứ 6 người dùng thì 1 người gặp biến cố bất lợi. | TST +25,2 phút; số người cần điều trị để 1 người ngủ khá hơn (NNT) 13; số người cần điều trị để 1 người gặp biến cố bất lợi (NNH) 6; biến cố nhận thức OR 4,78 (1,47–15,47); mệt ban ngày OR 3,82 (1,88–7,80) | Tổng quan | Phân tích gộp RCT có giả dược ở người ≥ 60 tuổi; kết cục chủ yếu tự báo cáo và một phần PSG · 24 RCT, n = 2.417 | Glass và cs., 2005 |
| b3-050 | Ở 212 nhân viên y tế Việt Nam đã khỏi COVID-19 trong vòng 6 tháng (không phải nhập viện), 69,3% báo cáo mất ngủ và 19% mất ngủ nặng; mất ngủ đi kèm triệu chứng lo âu (OR 5,4) và trầm cảm (OR 4,1). | 69,3% mất ngủ; 19% nặng; OR lo âu 5,4 (2,5–11,6); trầm cảm 4,1 (1,7–9,5) | Người | Cắt ngang; mất ngủ đo bằng thang tự báo cáo (tài liệu tham khảo là ISI; ngưỡng không đọc được) · n = 212 | Hoang Thi Xuan Huong và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b3-053 | Phân tích 160 mẫu củ bình vôi (Stephania brachyandra) mọc tự nhiên ở Thái Nguyên cho hàm lượng rotundin dao động gần 11 lần, từ 90,4 đến 981 mg/100 g; trung bình theo huyện từ 102 đến 312 mg/100 g; hàm lượng tương quan chặt với đường kính củ (R = 0,94). | 90,4–981 mg/100 g (160 mẫu); trung bình huyện 102,3–312,3 mg/100 g | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Nghiên cứu định lượng hoạt chất trong dược liệu (nông–lâm học), không phải nghiên cứu trên người · 160 mẫu củ, 5 huyện | Dương Văn Thảo, 2024 |
| b3-054 | Một chế phẩm viên nén bao phim phối hợp thảo dược ở Việt Nam (số đăng ký VD-20778-14) ghi hàm lượng: bình vôi 150 mg, lá sen 180 mg, lạc tiên 600 mg, lá vông nem 600 mg, trinh nữ 638 mg; trang thông tin thuốc không nêu hàm lượng rotundin hay cảnh báo gan. | Bình vôi 150 mg dược liệu/viên; hàm lượng rotundin không công bố | Tài liệu ngành | Thông tin thành phần trên trang dữ liệu thuốc (không phải tờ hướng dẫn chính thức) · 1 sản phẩm | VNRAS, 2026 |
| b3-056 | Theo Trưởng phòng Quản lý hành nghề y tư nhân, Sở Y tế Hà Nội (trích trên báo Công an Nhân dân, 7/2023), thành phố có khoảng 8.000 cơ sở dược gồm nhà thuốc và quầy thuốc nhưng mỗi năm chỉ thanh tra được khoảng 150–200 cơ sở; bán thuốc kê đơn không có đơn bị phạt 10–20 triệu đồng theo Nghị định 124/2021/NĐ-CP. Phóng viên mua được kháng sinh kê đơn không cần đơn ở cả 2 nhà thuốc thử. | ~8.000 cơ sở; thanh tra 150–200 cơ sở/năm; phạt 10–20 triệu đồng | Báo chí, thông cáo | Phóng sự báo chí có thử mua (2 nhà thuốc, thuốc kháng sinh) và trích phát biểu quan chức · 2 nhà thuốc thử mua | Trâm Anh, 2023 |
| b3-057 | Nghiên cứu bệnh nhân đóng giả (simulated patient) với tình huống rối loạn giấc ngủ ở 431 nhà thuốc tại 3 thành phố Iran (2022): 9,2% nhà thuốc bán diazepam và 13,2% bán alprazolam mà không yêu cầu đơn; 58,9% có tư vấn nhưng thường thiếu nội dung quan trọng. | Diazepam không đơn 9,2%; alprazolam 13,2%; 549 lượt thăm | Người | Cắt ngang, bệnh nhân đóng giả được huấn luyện · 431 nhà thuốc, 549 lượt | Banitaba Joshaghani và Sarahroodi, 2024 (tóm tắt) |
| b3-058 | Nghiên cứu khách đóng giả ở 178 nhà thuốc cộng đồng tại quận Kinondoni, Dar es Salaam (Tanzania, 1–3/2018), xin mua diazepam cho người thân bị lo âu, hoảng sợ hoặc mất ngủ: 91% nhà thuốc có diazepam và 70% người bán (112/160) bán không cần đơn. | Có sẵn 91%; bán không đơn 70% (112/160 người bán) | Người | Cắt ngang, khách đóng giả (sinh viên dược năm cuối), chọn ngẫu nhiên nhà thuốc · 178 nhà thuốc | Mikomangwa và cs., 2019 |
| b3-060 | Ở 207 bệnh nhân nằm viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ (2019–2020), 41,1% (85/207) có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI (bài ghi ngưỡng lúc ≥ 5, lúc > 5) sau khi nhập viện; cao nhất ở khoa nội thần kinh (46,7%), thấp nhất ở khoa sản (25,8%). | 41,06% (85/207); nội thần kinh 46,7%; sản 25,8% | Người | Cắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; PSQI (ngưỡng ghi không nhất quán ≥ 5 / > 5) · n = 207 bệnh nhân nội trú | Lê Văn Minh và cs., 2020 |
| b3-063 | Năm 2019 Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) yêu cầu cảnh báo đóng khung (boxed warning) cho eszopiclone, zaleplon và zolpidem sau khi ghi nhận 66 ca hành vi phức tạp khi ngủ (mộng du, lái xe khi ngủ…) gây thương tích nghiêm trọng trong khoảng 26 năm, trong đó 20 ca tử vong; đồng thời chống chỉ định cho người từng có hành vi này khi dùng thuốc. | 66 ca, 20 tử vong, 46 thương tích nặng (~26 năm) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Thông báo an toàn thuốc của cơ quan quản lý dựa trên hệ thống báo cáo biến cố bất lợi và y văn · 66 ca | U.S. Food and Drug Administration, 2019 |
| b3-070 | Khảo sát trực tuyến toàn quốc 1.056 người Việt đã khỏi COVID-19 không nhập viện trong vòng 6 tháng (2022, đã loại người có chẩn đoán mất ngủ hay rối loạn tâm thần trước đó): 76,1% đạt ngưỡng mất ngủ ISI ≥ 10; mất ngủ đi kèm triệu chứng lo âu (OR 3,93), trầm cảm (OR 3,45) và bệnh mạn tính có sẵn (OR 2,96). | 76,1% (804/1.056) với ISI ≥ 10; OR lo âu 3,93 (2,52–6,13); trầm cảm 3,45 (1,87–6,34); bệnh mạn 2,96 (1,50–5,84) | Người | Cắt ngang trực tuyến, mẫu thuận tiện qua mạng lưới bệnh nhân COVID-19 (email, Facebook, Zalo); ISI bản tiếng Việt, ngưỡng ≥ 10; DASS-14; hồi quy đa biến · n = 1.056 | Hoang và cs., 2024 |
| b3-072 | Tổng quan các nghiên cứu Việt Nam 2020–2024 về mất ngủ ghi zolpidem là thuốc được nhắc nhiều nhất (3 nghiên cứu), ngoài ra có thuốc chống trầm cảm (amitriptyline, mirtazapine…) và chống loạn thần (quetiapine, olanzapine); tác giả nhận xét cách xử trí hiện vẫn chủ yếu dựa vào dùng một loại thuốc. | Zolpidem: 3 nghiên cứu; số nghiên cứu gộp ghi 10 (tóm tắt Anh) hoặc 16 (tóm tắt Việt) | Tổng quan | Tổng quan tường thuật/phạm vi (bài tự mô tả không nhất quán) · 10 hoặc 16 nghiên cứu | Nguyễn Thanh Lâm và cs., 2025 |
| b3-073 | Theo tổng quan Du và cộng sự (2022), dữ liệu an toàn trên người có đối chứng của THP được nêu là một RCT mù đôi có giả dược ở người dùng cocaine (Hassan và cộng sự, 2017), trong đó đợt THP 3,5 ngày được dung nạp tốt — thời gian quá ngắn để đánh giá độc tính gan khi dùng kéo dài. | Đợt dùng 3,5 ngày | Tổng quan | Tổng quan tường thuật thuật lại một RCT (Hassan và cộng sự, 2017) · Không nêu trong phần đọc được | Du và cs., 2022 |
| b3-074 | Danh mục dược chất hướng thần (Phụ lục II, Thông tư 20/2017/TT-BYT) liệt kê diazepam, alprazolam, lorazepam, phenobarbital và zolpidem — tức phải kê đơn "H" và quản lý đặc biệt; rotundin (tetrahydropalmatine) không có trong danh mục này. Thông tư 20/2017 đã hết hiệu lực từ 16/7/2026, thay bằng Thông tư 18/2026/TT-BYT (Phụ lục II vẫn là danh mục hướng thần); văn bản mới bổ sung etomidate và carisoprodol vào nhóm hướng thần; chúng tôi chưa đọc được Phụ lục II của văn bản mới nên chưa xác nhận được rotundin có trong danh mục hướng thần mới hay không. | 5/5 thuốc ngủ kiểm tra có trong danh mục 2017; rotundin: không có (danh mục 2017); văn bản thay thế: Thông tư 18/2026/TT-BYT, hiệu lực 16/7/2026 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Văn bản quy phạm pháp luật (bản sao trên trang hiệp hội quản lý dược) · Không áp dụng | Bộ Y tế, 2026 |
| b3-075 | Ở 306 bệnh nhân ≥ 60 tuổi tăng huyết áp nằm khoa lão Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ (2020), 83,3% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI) và 27,5% (84 người) cho biết đã dùng thuốc ngủ trong tháng qua (thành phần "sử dụng thuốc ngủ" của PSQI). | Dùng thuốc ngủ trong tháng: 27,5% (84/306); ngủ kém 83,3% (255/306) | Người | Cắt ngang mô tả; PSQI tự báo cáo, thành phần 6 (dùng thuốc ngủ trong tháng qua) · n = 306 nội trú ≥ 60 tuổi | Nguyễn Văn Tuấn và cs., 2021 |
| b3-076 | Ở 248 người ≥ 60 tuổi đái tháo đường típ 2 khám tại Bệnh viện TP Thủ Đức (2024), 75,4% có rối loạn giấc ngủ theo PSQI > 5, phần lớn mức nhẹ (57,3%). | 75,4% (187/248); nhẹ 57,3%, trung bình 16,9%, nặng 1,2% | Người | Cắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện liên tiếp; PSQI tự báo cáo, ngưỡng > 5 · n = 248 | Trần Hoàng Hải và cs., 2024 |
| b3-079 | Một bài tư vấn sức khoẻ của hệ thống bệnh viện tư lớn (cập nhật 7/2024) viết "rotundin được chứng minh là có tác dụng gây ngủ" và bình vôi có "tác dụng chữa mất ngủ rất tốt" mà không dẫn nghiên cứu nào; bài cảnh báo liều cao có thể gây kích thích thần kinh trung ương, co giật và ngộ độc khi tự dùng, nhưng không nhắc độc tính gan hay tim. | 0 nghiên cứu được dẫn; 0 đề cập gan/tim | Tài liệu ngành | Phân tích nội dung một bài thông tin sức khoẻ trực tuyến · 1 bài | Vinmec, 2024 |
Dùng ở chương: Thảo dược, châm cứu và dưỡng sinh#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-006 | Phân tích gộp năm 2019 (nhóm tác giả có người Việt) gồm 12 thử nghiệm ngẫu nhiên và gần ngẫu nhiên: hoa cúc liên quan cải thiện chất lượng giấc ngủ (sleep quality) có ý nghĩa, nhưng thử nghiệm duy nhất về mất ngủ (insomnia) không thấy thay đổi có ý nghĩa về mức độ mất ngủ; chỉ 3 thử nghiệm báo cáo biến cố bất lợi, đều nhẹ. | 12 RCT; mất ngủ: 1 RCT, không khác biệt; biến cố bất lợi nhẹ ở 3 RCT có báo cáo | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp RCT/gần RCT; kết cục lo âu (HAM-A), chất lượng giấc ngủ (thang tự báo cáo), mức độ mất ngủ · 12 thử nghiệm (tổng số người không có trong bản tóm tắt đọc được) | Hieu và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b3-007 | Phân tích gộp năm 2024 gồm 10 thử nghiệm lâm sàng (772 người): hoa cúc đi kèm giảm điểm PSQI trung bình 1,88 điểm so với nhóm chứng nhưng dị biệt rất cao (I² 88,4%); hiệu suất giấc ngủ không đổi ở 2 nghiên cứu và xấu đi ở 1; chức năng ban ngày không đổi ở cả 3 nghiên cứu đo; chỉ 1 nghiên cứu kiểm tra thành công làm mù và độ tinh khiết/hàm lượng sản phẩm. | PSQI: chênh lệch trung bình có trọng số (WMD) −1,88 (KTC 95% −3,46 đến −0,31), I² 88,4%, 5 nghiên cứu | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên các thử nghiệm lâm sàng ở người lớn khoẻ hoặc có bệnh; tìm đến 8/2023; kết cục PSQI (tự báo cáo), thời lượng ngủ · 10 nghiên cứu, n = 772 | Kazemi và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b3-008 | Thử nghiệm thí điểm ngẫu nhiên mù đôi có giả dược ở 34 người lớn mất ngủ nguyên phát mạn tính (DSM-IV, ≥ 6 tháng): chiết xuất hoa cúc chuẩn hoá 270 mg × 2 lần/ngày trong 28 ngày không khác giả dược về các chỉ số nhật ký giấc ngủ (tổng thời gian ngủ, hiệu suất, thời gian vào giấc, thức giấc sau khi ngủ, chất lượng, số lần thức). | Không khác biệt có ý nghĩa ở mọi chỉ số nhật ký giấc ngủ; hiệu ứng nhỏ–trung bình | Người | RCT song song, mù đôi, giả dược, 28 ngày; kết cục chính: nhật ký giấc ngủ; phụ: chức năng ban ngày · n = 34, tuổi 18–65 | Zick và cs., 2011 (tóm tắt) |
| b3-009 | Tổng quan hệ thống 2020 về rễ valerian gồm 60 nghiên cứu (6.894 người, gồm RCT và nghiên cứu quan sát, không loại theo nguy cơ sai lệch): trong 23 nghiên cứu đơn vị thuốc về vấn đề giấc ngủ, 13 thấy hiệu quả và 10 không khác nhóm chứng; tác giả cho rằng kết quả không nhất quán có thể do chất lượng chiết xuất khác nhau. | 13/23 nghiên cứu dương tính; 10/23 không khác biệt; phân tích gộp chất lượng giấc ngủ chủ quan: 10 nghiên cứu, 1.065 người | Tổng quan | Tổng quan hệ thống + phân tích gộp; PubMed 1980–11/2019, ScienceDirect, Cochrane; gồm 36 RCT đơn thuốc, 13 RCT phối hợp và 8 nghiên cứu quan sát · 60 nghiên cứu, n = 6.894 | Shinjyo và cs., 2020 |
| b3-010 | Cùng tổng quan ghi không có biến cố bất lợi nghiêm trọng nào liên quan valerian ở người 7–80 tuổi trong các nghiên cứu gộp, và đề nghị chuẩn hoá chất lượng vì một số hoạt chất kém bền. | 0 biến cố bất lợi nghiêm trọng được báo cáo (7–80 tuổi) | Tổng quan | Như trên · 60 nghiên cứu, n = 6.894 | Shinjyo và cs., 2020 |
| b3-011 | Phân tích gộp 2015 gồm 14 RCT (1.602 người) về valerian, hoa cúc, kava và wuling: không thảo dược nào khác biệt có ý nghĩa so với giả dược hoặc thuốc đối chứng ở bất kỳ chỉ số nào trong 13 chỉ số hiệu quả; valerian có nhiều biến cố bất lợi/người hơn giả dược. | 0/13 chỉ số hiệu quả khác biệt có ý nghĩa; 14 RCT, n = 1.602 | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp RCT, tìm trên 17 cơ sở dữ liệu; người mất ngủ · 14 RCT, n = 1.602 | Leach và Page, 2015 (tóm tắt) |
| b3-012 | Phân tích gộp 18 RCT có giả dược (2010): valerian không khác giả dược về thời gian vào giấc (chênh 0,70 phút) hay thang nhìn VAS (SMD −0,02), nhưng có tỉ số nguy cơ "chất lượng giấc ngủ cải thiện (có/không)" 1,37; tác giả kết luận hiệu quả chưa được chứng minh bằng đo định lượng hay khách quan. | Thời gian vào giấc: +0,70 phút (KTC 95% −3,44 đến 4,83); VAS SMD −0,02 (−0,35 đến 0,31); RR cải thiện 1,37 (1,05–1,78) | Tổng quan | Phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên RCT có giả dược; Medline, Cochrane, Embase, Biosis; có dị biệt ở cả 3 phân tích; không phát hiện sai lệch xuất bản · 18 RCT (8 đạt Jadad 5) | Fernández-San-Martín và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b3-013 | Phân tích gộp 16 RCT có giả dược (1.093 người, 2006): ở 6 nghiên cứu có kết cục nhị phân, valerian đi kèm tỉ số nguy cơ "ngủ cải thiện" 1,8; nhưng có bằng chứng sai lệch xuất bản (Kendall tau, p = 0,01) và tác giả nêu các vấn đề phương pháp. | RR 1,8 (KTC 95% 1,2–2,9); sai lệch xuất bản p = 0,01 | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp RCT có giả dược · 16 RCT, n = 1.093 | Bent và cs., 2006 |
| b3-014 | Thử nghiệm chéo mù đôi có giả dược ở 41 người lớn khoẻ 18–35 tuổi (Úc): uống một cốc trà Passiflora incarnata liều thấp mỗi tối trong 7 ngày; trong 6 chỉ số nhật ký giấc ngủ, chỉ "chất lượng giấc ngủ" tự đánh giá tốt hơn giả dược; 10 người được đo đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) đêm cuối. | 1/6 chỉ số nhật ký khác biệt: chất lượng giấc ngủ t(40) = 2,70, p < 0,01 | Người | RCT chéo, mù đôi, giả dược là trà; mỗi giai đoạn 7 ngày, rửa thuốc 1 tuần; kết cục: nhật ký giấc ngủ, STAI; PSG ở phân nhóm 10 người · n = 41 (PSG: 10) | Ngan và Conduit, 2011 (tóm tắt) |
| b3-015 | RCT mù đôi có giả dược ở 110 người lớn Hàn Quốc mắc rối loạn mất ngủ (DSM-5): sau 2 tuần, nhóm dùng chiết xuất Passiflora incarnata tăng tổng thời gian ngủ đo bằng PSG 23 phút so với gần 0 ở nhóm giả dược (p = 0,049); hiệu suất giấc ngủ và thời gian thức sau khi ngủ chỉ cải thiện trong nhóm, không khác giả dược. | Thay đổi TST: +23,05 ± 54,26 phút so với −0,16 ± 53,12 phút; p = 0,049 | Người | RCT song song, mù đôi, giả dược, 2 tuần; kết cục PSG, nhật ký giấc ngủ, ISI, PSQI · n = 110; tuổi TB 40,5; 53,6% nữ | Lee và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b3-016 | Cây lạc tiên dùng ở Việt Nam được định danh là Passiflora foetida L. (họ Lạc tiên), khác loài Passiflora incarnata được dùng trong các thử nghiệm lâm sàng phương Tây và Hàn Quốc; bài báo dược học Việt Nam mô tả cây được dùng rộng rãi "như thuốc an thần, gây ngủ". | Định tính: khác loài (P. foetida so với P. incarnata) | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Nghiên cứu hoá học phân lập chất chuẩn vitexin (độ tinh khiết 99,79% theo diện tích pic) từ cây lạc tiên; phần mô tả công dụng là thông tin nền · Không áp dụng | Lữ Thị Kim Chi và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b3-017 | Phân tích gộp 2022 gồm 12 RCT Trung Quốc (1.311 người mất ngủ mạn tính) so sánh thang Toan táo nhân (Suanzaoren decoction) với thuốc Tây (benzodiazepine, Z-drug), không có nhóm giả dược: tỉ lệ "hiệu quả lâm sàng" RR 1,22; PSQI giảm thêm 2,74 điểm nhưng dị biệt rất cao (I² 94%); chỉ 1 nghiên cứu mô tả làm mù. | Hiệu quả lâm sàng RR 1,22 (1,16–1,29), I² 19%; PSQI chênh lệch trung bình (MD) −2,74 (−4,00 đến −1,49), I² 94%; biến cố bất lợi RR 0,30 (0,22–0,40) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp 12 RCT; đối chứng: estazolam, alprazolam, diazepam, eszopiclone… hoặc thuốc Tây đơn thuần khi dùng phối hợp; kết cục tỉ lệ hiệu quả (tiêu chí không thống nhất), PSQI · 12 RCT, n = 1.311 (theo tóm tắt) | Liu và cs., 2022 |
| b3-018 | Tổng quan hệ thống 2018 chỉ lấy RCT có ≥ 4/7 tiêu chí nguy cơ sai lệch thấp: 13 RCT (1.454 người), tất cả xuất bản bằng tiếng Trung; bài thuốc chứa táo nhân đơn trị tốt hơn giả dược (p < 0,01), phối hợp với diazepam tốt hơn diazepam đơn thuần (p < 0,05), còn so trực tiếp với diazepam cho kết quả lẫn lộn; chất lượng bằng chứng GRADE trung bình cho PSQI. | 13 RCT, n = 1.454; GRADE trung bình (PSQI, 5 RCT) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống/phân tích gộp RCT; kết cục chính PSG và PSQI; cơ chế (GABA, serotonin) từ dữ liệu chuột và tế bào · 13 RCT, n = 1.454 | Zhou và cs., 2018 |
| b3-019 | Trên chuột cống, chiết xuất nước hạt sen liều cao 160 mg/kg làm tăng tổng thời gian ngủ và giấc NREM, giảm thời gian thức và REM (đo điện não EEG); chiết xuất chứa GABA 2,33 mg/g và L-tryptophan 2,00 mg/g. | Liều 160 mg/kg (chuột); GABA 2,33 mg/g chiết xuất | Động vật | Thực nghiệm trên chuột cống: phép thử giấc ngủ do pentobarbital, EEG, mô hình thức do caffeine; đo biểu hiện thụ thể GABA-A, GABA-B, serotonin · Không rõ số chuột trong tóm tắt | Jo và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b3-020 | Trên ruồi giấm (Drosophila melanogaster), chiết xuất nước hạt sen 1,0% làm giảm 52% hoạt động ban đêm và tăng tổng thời gian ngủ 10–27% (60% khi có caffeine). | Hoạt động đêm −52%; thời gian ngủ +10% đến +27% | Động vật | Thực nghiệm trên ruồi giấm; theo dõi hoạt động bằng video; đo GABA bằng HPLC · Không rõ | Jo và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b3-021 | Trên chuột nhắt, chiết xuất cồn vỏ thân Erythrina variegata 800 mg/kg uống làm tăng số lần vào nhánh mở của mê lộ chữ thập nâng (11,2 so với 3,7 ở chứng) — một phép thử hành vi về lo âu; không có phép thử thời gian ngủ; không gây chết tới 2.000 mg/kg. | Vào nhánh mở 11,16 ± 0,79 so với 3,66 ± 0,55 (p < 0,001); liều gây chết: không tử vong tới 2.000 mg/kg | Động vật | Thực nghiệm trên chuột nhắt Swiss albino; mê lộ chữ thập nâng, open field, sáng–tối, co giật PTZ, sốc điện; đối chứng dương diazepam · Số chuột mỗi nhóm không ghi rõ trong phần đọc được | Pitchaiah và cs., 2008 |
| b3-022 | Tổng quan Cochrane về châm cứu cho mất ngủ (bản đăng Issue 3/2022, dữ liệu tìm kiếm đến 10/2011) gồm 33 RCT (2.293 người, 15–98 tuổi): mọi thử nghiệm đều bị đánh giá nguy cơ sai lệch cao, có khả năng sai lệch xuất bản; so sánh bấm huyệt với bấm huyệt giả chỉ có 2 thử nghiệm (112 người); kết luận bằng chứng chưa đủ chặt để ủng hộ hay bác bỏ châm cứu cho mất ngủ. | 33 RCT, n = 2.293; bấm huyệt so với giả: OR 6,62 (KTC 95% 1,78–24,55; 2 RCT, 112 người); châm cứu bổ sung so với can thiệp khác đơn thuần: OR 3,08 (1,93–4,90; 13 RCT, 883 người) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống Cochrane các RCT; kết cục: cải thiện chất lượng giấc ngủ (nhị phân); phân tích độ nhạy giả định người bỏ cuộc có kết cục xấu làm kết quả bấm huyệt mất ý nghĩa · 33 RCT, n = 2.293 | Cheuk và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b3-023 | Phân tích gộp 13 RCT châm cứu so với châm giả (1.061 người, tất cả ở Trung Quốc): châm thật giảm PSQI thêm 3,60 điểm và ISI thêm 1,93 điểm so với châm giả, dị biệt rất cao; nhưng các chỉ số khách quan (PSG/actigraphy) như tổng thời gian ngủ, thức sau khi ngủ, hiệu suất giấc ngủ không khác châm giả. | PSQI MD −3,60 (−4,88 đến −2,33), I² 91%; ISI MD −1,93 (−2,89 đến −0,98), I² 90%; TST p = 0,09; hiệu suất p = 0,47 | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp RCT có châm giả (tối thiểu hoặc kim giả); kết cục PSQI, ISI (tự báo cáo) và PSG/actigraphy · 13 RCT, n = 1.061 | Liu và cs., 2020 |
| b3-024 | Phân tích gộp 2025 gồm 10 RCT châm cứu so với châm giả ở người mất ngủ mạn tính (757 người; 9/10 thử nghiệm ở Trung Quốc, 1 ở Hàn Quốc): châm thật giảm PSQI thêm 2,60 điểm và ISI thêm 2,04 điểm, dị biệt 92–96%; biến cố liên quan (tụ máu, chảy máu dưới da, đau đầu, tê) được mô tả nhẹ. | PSQI MD −2,60 (−3,24 đến −1,97), I² 92%; ISI MD −2,04 (−3,18 đến −0,90), I² 96% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống + phân tích gộp + phân tích tuần tự thử nghiệm; chỉ RCT có châm giả (kim cùn không xuyên, kim Streitberger, châm điểm không phải huyệt) · 10 RCT, n = 757 | Yu và cs., 2025 |
| b3-025 | RCT 3 nhánh ở Hồng Kông (320 người ≥ 60 tuổi mất ngủ mạn tính): sau 12 tuần (3 buổi × 1 giờ/tuần), cả thái cực quyền (Dương thức 24 thế) và tập thể dục thông thường đều tăng hiệu suất giấc ngủ đo bằng actigraphy khoảng 3,4–3,5 điểm phần trăm và giảm thời gian thức sau khi ngủ 13–17 phút so với nhóm chứng; tổng thời gian ngủ không đổi; thái cực quyền và thể dục không khác nhau trên actigraphy. | Hiệu suất ngủ: thái cực +3,4 điểm phần trăm (1,6–5,1), thể dục +3,5 điểm phần trăm (1,8–5,2); WASO: thái cực −13,3 phút, thể dục −17,0 phút; ISI thái cực −4,1 (−5,2 đến −3,0) | Người | RCT song song 3 nhánh, người đánh giá được làm mù; chứng: chăm sóc thường lệ + gọi điện hàng tháng; kết cục chính actigraphy, phụ PSQI, ISI, nhật ký · n = 320; tuổi TB 67,3; 80% nữ | Siu và cs., 2021 |
| b3-026 | Ở lần theo dõi 24 tháng sau can thiệp trong cùng RCT Hồng Kông, hiệu suất giấc ngủ (actigraphy) vẫn cao hơn chứng: thái cực quyền +6,2 điểm phần trăm, thể dục +3,3; đây là thời điểm duy nhất thái cực quyền hơn thể dục có ý nghĩa (+2,9 điểm phần trăm). | Hiệu suất ngủ 24 tháng: thái cực +6,2 điểm phần trăm (4,4–8,1); thể dục +3,3 điểm phần trăm (1,4–5,2); thái cực − thể dục +2,9 điểm phần trăm (1,1–4,8) | Người | Như trên; theo dõi 24 tháng · n = 320 | Siu và cs., 2021 |
| b3-027 | RCT so sánh hiệu quả ở 123 người cao tuổi mất ngủ nguyên phát mạn tính (Los Angeles): liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) đạt tỉ lệ thuyên giảm mất ngủ do bác sĩ đánh giá cao hơn thái cực (Tai Chi Chih) và nhóm giáo dục giấc ngủ (p < 0,01); thái cực cải thiện chất lượng giấc ngủ tự báo cáo so với nhóm giáo dục; các chỉ số PSG không thay đổi. | CBT-I > thái cực về thuyên giảm (p < 0,01); PSG: không thay đổi | Người | RCT 3 nhánh song song: CBT-I, Tai Chi Chih, hội thảo giáo dục giấc ngủ (chứng); buổi nhóm 2 giờ/tuần × 4 tháng; theo dõi 7 và 16 tháng; kết cục: thuyên giảm do bác sĩ xác định, tự báo cáo, PSG, CRP · n = 123 | Irwin và cs., 2014 (tóm tắt) |
| b3-028 | Phân tích gộp 2025 gồm 15 RCT khí công ở người cao tuổi (1.074 người; 14/15 thử nghiệm ở Trung Quốc): khí công đi kèm giảm PSQI 2,47 điểm so với nhóm chứng (chủ yếu chăm sóc thường lệ, chỉ 1 thử nghiệm có chứng là bài tập khác); Bát đoạn cẩm (Baduanjin) −2,89 điểm, Ngũ cầm hí không khác biệt; độ chắc chắn GRADE thấp; 8/15 thử nghiệm nguy cơ sai lệch cao. | PSQI MD −2,47 (−3,09 đến −1,85), I² 82,3%; Baduanjin MD −2,89; GRADE thấp | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên; công cụ Cochrane RoB; GRADE · 15 RCT, n = 1.074 | Xiong và cs., 2025 |
| b3-029 | Phân tích gộp 2024 gồm 23 RCT xoa bóp kiểu Trung Hoa (tuina) cho mất ngủ (1.780 người; 22/23 bài bằng tiếng Trung): tuina đi kèm PSQI thấp hơn 2,34 điểm so với thuốc ngủ hoặc châm cứu đơn thuần; không có nhóm chứng giả; chỉ 1 nghiên cứu nhắc làm mù; độ chắc chắn GRADE thấp đến rất thấp. | PSQI MD −2,34 (−2,94 đến −1,74), I² 79%, 14 nghiên cứu; tỉ lệ hiệu quả OR 4,12 (2,80–6,06) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp RCT; chứng: benzodiazepine/non-benzodiazepine, thuốc đông dược thành phẩm hoặc châm cứu đơn thuần · 23 RCT, n = 1.780 | Wang và cs., 2024b |
| b3-030 | RCT ở 46 nam giới cao tuổi (Tabriz, Iran): ngâm chân nước 41–42 °C trong 20 phút trước khi ngủ, liên tục 6 tuần, đi kèm cải thiện điểm PSQI tổng và thời lượng ngủ tự báo cáo so với nhóm không ngâm chân. | Cải thiện có ý nghĩa PSQI tổng (số cụ thể không có trong tóm tắt) | Người | RCT 2 nhóm, ghi "blinded" nhưng không rõ ai được làm mù; chứng: không can thiệp; PSQI phỏng vấn trước–sau · n = 46 nam cao tuổi | Seyyedrasooli và cs., 2013 (tóm tắt) |
| b3-031 | RCT mù đơn ở 50 người cao tuổi (Thổ Nhĩ Kỳ, 2022): ngâm chân nước 41–42 °C trong 20 phút, bắt đầu 50 phút trước giờ ngủ thường lệ, đi kèm giảm điểm PSQI tổng và hầu hết thành phần, trừ hiệu suất giấc ngủ thói quen. | PSQI tổng thay đổi có ý nghĩa (p < 0,05); hiệu suất giấc ngủ: không đổi | Người | RCT song song mù đơn; chứng: chỉ điền bảng hỏi; kết cục PSQI; kiểm định phi tham số · n = 50 | Demirağ và cs., 2025 (tóm tắt) |
| b3-047 | Nghiên cứu can thiệp ở 50 bệnh nhân mất ngủ không thực tổn tại Bệnh viện Xanh Pôn (2024–2025) kết hợp điện châm và phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng trong 15 ngày: PSQI giảm từ 15,04 xuống 7,74 điểm, thời lượng ngủ tự báo cáo tăng từ 3,64 lên 5,34 giờ — nhưng không có nhóm chứng, không ngẫu nhiên, không làm mù. | PSQI 15,04 ± 2,20 → 7,74 ± 3,21; ngủ 3,64 → 5,34 giờ; vào giấc 75,1 → 47,5 phút | Người | Can thiệp lâm sàng so sánh trước–sau một nhóm (không nhóm chứng), mẫu thuận tiện bệnh nhân nội trú; PSQI và chỉ số tự báo cáo; không PSG/actigraphy · n = 50 nội trú (18–80 tuổi; TB 67,5; 82% nữ), mất ngủ không thực tổn thể tâm tỳ hư | Đặng Thị Hạnh và Bùi Tiến Hưng, 2025 |
| b3-048 | Nghiên cứu trước–sau tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương (4–8/2017) với điện châm huyệt Nội quan, Thái xung 20 ngày ở 30 bệnh nhân rối loạn giấc ngủ thể can đởm hoả vượng: PSQI giảm từ 18,69 xuống 3,89 và thời lượng ngủ tự báo cáo tăng từ 2,29 lên 6,93 giờ; 100% đạt hiệu suất giấc ngủ > 85% — không có nhóm chứng, ngẫu nhiên hay làm mù. | PSQI 18,69 → 3,89; ngủ 2,29 → 6,93 giờ; 100% hiệu suất > 85% | Người | Can thiệp tiến cứu so sánh trước–sau một nhóm; chỉ số tự báo cáo, PSQI, điện não đồ (sóng alpha/beta); không PSG · n = 30 (tóm tắt ghi 60), 45–75 tuổi, nội trú | Nguyễn Đức Minh, 2018 |
| b3-049 | Nghiên cứu có nhóm chứng ở 60 bệnh nhân rối loạn giấc ngủ thể tâm tỳ hư (Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Bình, 1–5/2025): cấy chỉ kết hợp xoa bóp bấm huyệt 15 ngày so với xoa bóp bấm huyệt đơn thuần; theo tóm tắt, tỉ lệ đạt hiệu suất giấc ngủ ≥ 85% là 26,7% so với 16,7% (tóm tắt báo cáo p < 0,05); PSQI nhóm can thiệp giảm từ 13,87 xuống 4,53. | Hiệu suất ≥ 85%: 26,7% so với 16,7% (p < 0,05 theo tóm tắt; 30 người/nhóm); PSQI 13,87 → 4,53 (nhóm can thiệp) | Người | Can thiệp lâm sàng có nhóm chứng (không nêu ngẫu nhiên, làm mù); 30 + 30 người; PSQI và chỉ số tự báo cáo; 15 ngày · n = 60 | Mai Đức Hân và cs., 2026 (tóm tắt) |
| b3-051 | RCT có người đánh giá được làm mù ở 200 người lớn mất ngủ (Hồng Kông): tự bấm huyệt học qua khoá ngắn (2 buổi × 2 giờ, tập mỗi tối) giảm ISI nhiều hơn nhóm giáo dục vệ sinh giấc ngủ 2,89 điểm ở tuần 8 (d = 0,67); 24,7% so với 5,3% đạt thuyên giảm (ISI < 8); nhưng actigraphy không khác giữa hai nhóm. | ISI chênh −2,89 điểm (d = 0,67); thuyên giảm 24,7% so với 5,3%; actigraphy: không khác biệt | Người | RCT song song, người đánh giá mù; chứng: giáo dục vệ sinh giấc ngủ (không có bấm huyệt giả); kết cục chính ISI; phụ: HADS, actigraphy; 8 tuần · n = 200 | Yeung và cs., 2022 |
| b3-052 | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp (17 nghiên cứu, 13 vào phân tích gộp): tắm hoặc tắm vòi sen nước 40–42,5 °C trước khi ngủ đi kèm chất lượng giấc ngủ tự đánh giá và hiệu suất giấc ngủ tốt hơn; làm 1–2 giờ trước giờ ngủ, dù chỉ khoảng 10 phút, đi kèm rút ngắn thời gian vào giấc; cơ chế đề xuất là tăng lưu lượng máu ở lòng bàn tay, bàn chân giúp thải nhiệt và hạ thân nhiệt lõi. | Nhiệt độ nước 40–42,5 °C; 1–2 giờ trước ngủ; ≥ 10 phút (độ lớn hiệu ứng không có trong tóm tắt) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp; 6 cơ sở dữ liệu; 5.322 bài sàng lọc · 17 nghiên cứu (13 gộp) | Haghayegh và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b3-055 | Nghiên cứu quan sát tiến cứu 229.230 bệnh nhân châm cứu do bác sĩ thực hiện ở Đức (trung bình 10 lần châm): 8,6% có ít nhất một tác dụng bất lợi, 2,2% cần xử trí; hay gặp nhất là chảy máu/tụ máu (6,1%) và đau (1,7%); có 2 ca tràn khí màng phổi. | 8,6% có tác dụng bất lợi; 2,2% cần xử trí; 2 ca tràn khí màng phổi / 229.230 | Người | Thuần tập quan sát tiến cứu, bệnh nhân tự báo cáo tác dụng bất lợi; không riêng mất ngủ · n = 229.230 | Witt và cs., 2009 (tóm tắt) |
| b3-059 | Phân tích gộp 2024 gồm 23 RCT nhĩ áp (dán hạt lên huyệt ở tai, 1.689 người mất ngủ) so với chăm sóc thường lệ hoặc estazolam: nhĩ áp đi kèm giảm PSQI với hiệu ứng chuẩn hoá rất lớn (SMD −1,30) nhưng dị biệt 90%; không thấy nhóm chứng giả. | PSQI SMD −1,30 (KTC 95% −1,65 đến −0,96), I² 90% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp RCT; chứng: chăm sóc thường lệ, estazolam · 23 RCT, n = 1.689 | Li và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b3-061 | Tổng quan phạm vi 2025 về y học cổ truyền cho mất ngủ không thực tổn ở Việt Nam (7 cơ sở dữ liệu trong nước, đến 12/2024) tìm được 28 nghiên cứu can thiệp (2009–2023; 10 là luận văn/luận án): 16 có nhóm chứng, 12 so sánh trước–sau, và không nghiên cứu có nhóm chứng nào được ngẫu nhiên hoá hay làm mù. | 28 nghiên cứu; 0/16 nghiên cứu có chứng được ngẫu nhiên hoá hoặc làm mù; cỡ mẫu 25–105 (bảng có 1 nghiên cứu 205); 14–30 ngày | Tổng quan | Tổng quan phạm vi theo JBI và PRISMA-ScR; 7 cơ sở dữ liệu trong nước (sti.vista.gov.vn và 6 thư viện đại học), tìm đến 31/12/2024; 839 bản ghi tìm được · 28 nghiên cứu | Lê Thùy Chi và Nguyễn Duy Tuân, 2025 |
| b3-062 | Cùng tổng quan: 6 nghiên cứu thử chế phẩm y học cổ truyền (2 thuốc sắc, 4 thành phẩm), trong đó 3 nghiên cứu dùng Rotunda (rotundin) làm thuốc đối chứng. Ở phần đặt vấn đề, tác giả viết các liệu pháp y học cổ truyền "không gây ra các vấn đề nghiện thuốc hay hội chứng cai nghiện" — đây là nhận định chung, không phải kết quả đo trong các nghiên cứu được tổng quan (vốn kéo dài 14–30 ngày). | 3/6 nghiên cứu thảo dược dùng rotundin làm chứng; thời gian 14–30 ngày | Tổng quan | Như trên · 6 nghiên cứu thảo dược | Lê Thùy Chi và Nguyễn Duy Tuân, 2025 |
| b3-064 | Tổng quan hệ thống 2012 về thuốc thảo dược Trung Hoa cho mất ngủ xét 217 nghiên cứu (tiếng Trung và tiếng Anh): chỉ 8 nghiên cứu đạt Jadad ≥ 3; khi gộp các thử nghiệm này (7/8 vẫn có ít nhất một miền nguy cơ sai lệch cao), thảo dược không khác giả dược; táo nhân (suan zao ren) là vị thuốc đơn dùng nhiều nhất và Quy tỳ thang là bài chuẩn hoá hay dùng nhất. | 217 nghiên cứu; 8 đạt Jadad ≥ 3 (7/8 có ≥ 1 miền nguy cơ sai lệch cao); so với giả dược: không khác (3 so sánh) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống RCT, phân tích gộp các nghiên cứu Jadad ≥ 3 · 217 nghiên cứu | Yeung và cs., 2012 (tóm tắt) |
| b3-065 | Phân tích gộp 2020 về bài Zao Ren An Shen (chứa táo nhân) gồm 19 nghiên cứu có đối chứng (1.780 người): chỉ 1 nghiên cứu có giả dược, cho PSQI giảm thêm 0,90 điểm; so với thuốc chủ vận thụ thể benzodiazepine thì PSQI không khác (0,17; p = 0,46) nhưng biến cố bất lợi ít hơn (RR 0,16); nguy cơ sai lệch nhìn chung cao. | So giả dược (1 nghiên cứu): PSQI −0,90 (−1,56 đến −0,24); so thuốc chủ vận thụ thể benzodiazepine (BzRA): +0,17 (−0,29 đến 0,64); biến cố RR 0,16 (0,12–0,23) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp; chứng: BzRA, giả dược, chăm sóc thường quy, không can thiệp · 19 nghiên cứu, n = 1.780 | Birling và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b3-066 | Phân tích gộp 2022 gồm 21 RCT thái cực quyền ở người mất ngủ (2.022 người; phần lớn từ Mỹ và Trung Quốc): thái cực quyền đi kèm giảm PSQI 1,16 điểm so với nhóm chứng (không can thiệp, giáo dục sức khoẻ, thể dục hoặc CBT); chỉ PSQI gộp được, không gộp được số đo khách quan. | PSQI MD −1,16 (−1,62 đến −0,71), I² 61%; sau loại 3 nghiên cứu ngoại lai: −1,17 (−1,42 đến −0,92), I² 0% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp RCT (đến 10/2021); 13/21 làm mù người đánh giá · 21 RCT, n = 2.022 | Han và cs., 2022 |
| b3-067 | Một phân tích gộp RCT khác (2023, có tìm cả cơ sở dữ liệu Trung Quốc CNKI, WanFang, CBM, VIP) báo cáo thái cực quyền đi kèm giảm PSQI 1,75 điểm ở người mất ngủ, với khoảng tin cậy rất hẹp; tác giả ghi nhiều thử nghiệm không mô tả đầy đủ cách phân bổ ngẫu nhiên và khó làm mù người tham gia. | PSQI WMD −1,75 (−1,88 đến −1,62), p < 0,001 | Tổng quan | Phân tích gộp RCT; 8 cơ sở dữ liệu · Số RCT và người không có trong tóm tắt đọc được | Yang và cs., 2023 (tóm tắt) |
| b3-068 | RCT duy nhất ở Việt Nam mà chúng tôi tìm được về thực hành truyền thống và giấc ngủ: 96 người 60–79 tuổi ở thành phố Vinh tập thái cực quyền 24 thế 60 phút × 2 buổi/tuần trong 6 tháng; PSQI nhóm tập giảm từ 9,38 xuống 3,59, nhóm chứng (sinh hoạt bình thường) gần như không đổi (8,06 → 7,97). | PSQI tập: 9,38 ± 4,99 → 3,59 ± 1,56; chứng: 8,06 ± 4,09 → 7,97 ± 3,78; F(1,71) = 43,69, p < 0,001 | Người | RCT song song 2 nhóm (không mô tả cách ngẫu nhiên, không báo cáo làm mù); chứng: sinh hoạt thường ngày; PSQI tự báo cáo; 24 tuần; phân tích theo người hoàn thành (39 + 34) · n = 96 ngẫu nhiên (tóm tắt ghi 102, gồm 6 người bị loại); phân tích 73 (39 tập + 34 chứng); tuổi TB ~69 | Nguyen và Kruse, 2012 |
| b3-069 | RCT mù đơn ở 60 người Hồng Kông mất ngủ nguyên phát (ISI ≥ 15, xác nhận bằng PSG): điện châm 3 lần/tuần × 3 tuần so với châm giả kim Streitberger tại cùng huyệt — cả hai nhóm đều cải thiện; ISI không khác giữa hai nhóm, nhưng hiệu suất giấc ngủ theo nhật ký và actigraphy cải thiện nhiều hơn ở nhóm điện châm. | ISI: không khác biệt giữa nhóm; hiệu suất giấc ngủ (nhật ký, actigraphy): điện châm > châm giả (ANCOVA) | Người | RCT song song mù đơn có châm giả (kim Streitberger); kết cục chính ISI; phụ: nhật ký 1 tuần, actigraphy 3 ngày; đánh giá 1 tuần sau can thiệp · n = 60 | Yeung và cs., 2009 (tóm tắt) |
| b3-071 | Phân tích gộp mạng lưới (network meta-analysis) 122 RCT ở người lớn mất ngủ (1990–2022) xếp điện châm và châm cứu đứng đầu về giảm PSQI, kế đến kích thích từ xuyên sọ; nhưng cũng ghi nhận nhóm giả dược tốt hơn nhóm chứng không can thiệp, và khác biệt giữa các biện pháp cùng loại hầu như không có ý nghĩa thống kê. | 122 RCT; thứ hạng PSQI: điện châm > châm cứu > kích thích từ xuyên sọ lặp lại (rTMS) (không có số hiệu ứng trong tóm tắt) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp mạng lưới RCT; kết cục chính PSQI, ISI · 122 RCT | Wang và cs., 2023b (tóm tắt) |
| b3-077 | Phân tích gộp 2018 về bấm huyệt (32 RCT; gộp 13 thử nghiệm, 968 người lớn): so với bấm giả (7 thử nghiệm, 385 người), bấm huyệt đi kèm giảm PSQI 3,41 điểm với dị biệt thấp (I² 12%); tác giả vẫn đánh giá nguy cơ sai lệch cao do không làm mù người bệnh và người thực hiện. | So bấm giả: PSQI MD −3,41 (−4,08 đến −2,75), I² 12%; 0 biến cố bất lợi được báo cáo | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên; 10 cơ sở dữ liệu tiếng Anh + 5 tiếng Trung; kết cục chính PSQI · 32 RCT; gộp 13 RCT, n = 968 | Waits và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b3-078 | Thực nghiệm đo đa ký giấc ngủ ở 9 phụ nữ khoẻ (Nhật Bản, mùa đông): cả tắm bồn và ngâm chân nước nóng trước khi ngủ đều rút ngắn thời gian vào giấc so với không can thiệp; tắm bồn làm nhiệt độ trực tràng tăng khoảng 1,0 °C còn ngâm chân thì không; ngâm chân đi kèm giấc ngủ sóng chậm (giai đoạn 3) nhiều hơn chứng. | Nhiệt độ trực tràng +~1,0 °C khi tắm bồn, không tăng khi ngâm chân; vào giấc ngắn hơn ở cả hai (số phút không có trong tóm tắt) | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, thiết kế chéo 3 điều kiện (tắm, ngâm chân, chứng); PSG (EEG, EOG, EMG), nhiệt độ da và trực tràng · n = 9 nữ khoẻ | Sung và Tochihara, 2000 (tóm tắt) |
| b3-080 | Trong phân tích gộp Liu 2022, 3 RCT báo cáo tái phát cho thấy nhóm dùng thang Toan táo nhân có tỉ lệ tái phát mất ngủ thấp hơn nhóm thuốc Tây (RR 0,47); biến cố bất lợi ở nhóm thảo dược cũng thấp hơn (RR 0,30; chóng mặt, đau đầu, khó chịu tiêu hoá…). | Tái phát RR 0,47 (0,28–0,80), I² 0%, 3 RCT; biến cố bất lợi RR 0,30 (0,22–0,40), 7 RCT | Tổng quan | Phân tích gộp hiệu ứng cố định; RCT không mù, so với benzodiazepine/Z-drug · 3 RCT (tái phát); 7 RCT (biến cố) | Liu và cs., 2022 |
Viết tắt trong trang
- AASM
- Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
- CBT-I
- liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- FDA
- Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- NREM
- giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- RR
- nguy cơ tương đối (relative risk)
- SMD
- chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)
- TST
- tổng thời gian ngủ (total sleep time)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục C. Dữ kiện: thuốc, thảo dược và thực hành truyền thống. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/phu-luc-c-du-kien-b3/