Phụ lục này liệt kê toàn bộ 87 dữ kiện của nhánh Ngủ chung và giấc ngủ trong gia đình đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, chế phẩm và nhóm chứng, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b2-047) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương.
Dùng ở chương: Giờ giấc và thời lượng ngủ ở châu Á#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-047 | Ở 737 học sinh 15–17 tuổi tại một trường THPT ở Đà Nẵng năm 2024, 47,5% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI; tỉ lệ theo khối (chênh lệch không có ý nghĩa thống kê): 43,4% lớp 10, 49,6% lớp 11, 54,4% lớp 12; giờ đi ngủ tập trung quanh 23:00. | 47,5% ngủ kém (PSQI ≥ 5); lớp 10–12: 43,4% / 49,6% / 54,4% | Người | Cắt ngang mô tả, chọn mẫu ngẫu nhiên đơn; PSQI tự báo cáo, ngưỡng ≥ 5 · n = 737, THPT Hoà Vang, Đà Nẵng (4–10/2024) | Tran Danh Tien Thinh và cs., 2024 |
| b2-048 | Trong cùng nghiên cứu Đà Nẵng, nữ giới đi kèm OR 1,44 và dùng điện thoại trên 30 phút trước khi ngủ đi kèm OR 1,37 cho chất lượng ngủ kém; áp lực thành tích (bạn bè, bài tập, học thêm) đi kèm tỉ số chênh khoảng 1,2–1,9. | Nữ OR 1,44 (1,03–2,03); điện thoại > 30 phút OR 1,37 (1,0–1,87); áp lực học tập 1,2–1,9 lần | Người | Cắt ngang; hồi quy logistic đa biến hiệu chỉnh giới, tập thể dục, vệ sinh giấc ngủ, áp lực học tập; PSQI tự báo cáo · n = 737 | Tran Danh Tien Thinh và cs., 2024 |
| b2-063 | Ở 651 học sinh một trường THPT tại quận Tân Phú (TP.HCM) năm 2023–2024, 50,38% có chất lượng ngủ kém (PSQI > 5); thời gian dùng màn hình trên 180 phút đi kèm tỉ số hiện mắc (PR) 1,25 và nữ giới PR 1,16. | Ngủ kém 50,38% (328/651); màn hình > 180 phút PR 1,25 (1,07–1,45); nữ PR 1,16 (1,02–1,33); lớp 12 so với lớp 10 PR 1,22 (1,02–1,46) | Người | Cắt ngang mô tả, chọn lớp ngẫu nhiên phân tầng theo khối; bảng hỏi tự điền dựa PSQI (Cronbach α 0,789) và bộ câu hỏi Khảo sát Sức khoẻ Học sinh Toàn cầu (Global School-based Student Health Survey, GSHS); phân tích hai biến (PR), chưa hiệu chỉnh đa biến · n = 651, THPT Tây Thạnh, TP.HCM | Nguyễn Văn Khanh và cs., 2025 |
Dùng ở chương: Ngủ chung cha mẹ và con: tỉ lệ và giấc ngủ của trẻ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-001 | Trong khảo sát 17 nước/vùng lãnh thổ của Mindell và cộng sự, Việt Nam có tỉ lệ trẻ 0–36 tháng ngủ chung giường với cha mẹ (bed-sharing) cao nhất: 83,2%; thấp nhất là Anh (5,0%) và New Zealand (5,8%) theo Bảng 5 (phần văn bản của bài ghi New Zealand là thấp nhất). | Ngủ chung giường: Việt Nam 83,2%; Anh 5,0%; New Zealand 5,8% (Bảng 5) | Người | Khảo sát cắt ngang bằng bảng hỏi Brief Infant Sleep Questionnaire (BISQ) mở rộng, cha mẹ tự báo cáo; Việt Nam và Thái Lan dùng bản giấy phỏng vấn trực tiếp, các nước khác trả lời qua internet; dữ liệu Việt Nam thu tháng 4/2008 · n = 29.287 trẻ 0–36 tháng ở 17 nước/vùng; Việt Nam n = 1.000 | Mindell và cs., 2010b |
| b2-002 | Tại Việt Nam, 94,3% trẻ 0–36 tháng ngủ chung phòng với cha mẹ (room-sharing, bao gồm cả ngủ chung giường) và chỉ 2,1% ngủ phòng riêng. | Chung phòng 94,3%; phòng riêng 2,1% | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ mở rộng, cha mẹ báo cáo; bản giấy phỏng vấn trực tiếp tại Việt Nam · Việt Nam n = 1.000 trẻ 0–36 tháng | Mindell và cs., 2010b |
| b2-003 | Gộp theo nhóm, ở 12 nước/vùng chủ yếu châu Á, 64,65% trẻ ngủ chung giường và 86,47% ngủ chung phòng với cha mẹ, so với 11,8% và 21,95% ở 5 nước chủ yếu da trắng; tỉ lệ ngủ phòng riêng là 7,03% so với 62,54%. | Ngủ chung giường: châu Á 64,65% so với phương Tây 11,8%; chung phòng 86,47% so với 21,95%; phòng riêng 7,03% so với 62,54% | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ mở rộng; so sánh nhóm predominantly-Asian (P-A) và predominantly-Caucasian (P-C) · n = 29.287 trẻ 0–36 tháng, 17 nước/vùng | Mindell và cs., 2010b |
| b2-004 | Trong cùng khảo sát, tỉ lệ ngủ chung giường ở Nhật là 69,72%, Hàn Quốc 61,39%, Trung Quốc 67,59%, Thái Lan 77,23%, trong khi Hồng Kông chỉ 27,55% và Singapore 35,86% — hai nơi này thường đặt trẻ trên bề mặt ngủ riêng trong cùng phòng. | Nhật 69,72%; Hàn 61,39%; Trung Quốc 67,59%; Thái Lan 77,23%; Đài Loan 60,16%; Hồng Kông 27,55% (chung phòng 67,05%); Singapore 35,86% (chung phòng 73,73%) | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ mở rộng, cha mẹ báo cáo · n = 29.287 trẻ 0–36 tháng, 17 nước/vùng | Mindell và cs., 2010b |
| b2-005 | Trẻ 0–36 tháng ở Việt Nam có giờ đi ngủ trung bình khoảng 21:44, ngủ đêm 9,32 giờ, ngủ ngày 3,67 giờ (trung bình 2,02 giấc), tổng thời gian ngủ 12,99 giờ/24 giờ và thức giấc ban đêm 1,54 lần. | Giờ ngủ 21,73 giờ (độ lệch chuẩn, ĐLC 1,12); ngủ đêm 9,32 giờ; ngủ ngày 3,67 giờ; tổng 12,99 giờ (ĐLC 2,19); thức đêm 1,54 lần; dậy 7,18 giờ | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ, cha mẹ tự báo cáo (không đo khách quan) · Việt Nam n = 1.000 | Mindell và cs., 2010b |
| b2-006 | Cha mẹ Việt Nam ít coi con mình có vấn đề giấc ngủ nhất trong 17 nước: 10,1%, so với 75,9% ở Trung Quốc, dù tỉ lệ ngủ chung cao nhất. | Vấn đề giấc ngủ theo cha mẹ: Việt Nam 10,1% (thấp nhất) – Trung Quốc 75,9% (cao nhất); 73,7% cha mẹ Việt nói con "ngủ tốt" | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ; câu hỏi cảm nhận chủ quan của cha mẹ · n = 29.287; Việt Nam n = 1.000 | Mindell và cs., 2010b |
| b2-007 | Trẻ ở nhóm nước châu Á đi ngủ muộn hơn (trung bình khoảng 21:26 so với 20:25) và có tổng thời gian ngủ ngắn hơn (12,31 so với 13,02 giờ) so với nhóm nước phương Tây. Giờ đi ngủ dao động từ 19:27 (New Zealand) tới 22:17 (Hồng Kông), tổng thời gian ngủ từ 11,6 giờ (Nhật) tới 13,3 giờ (New Zealand). | Giờ ngủ 21,44 so với 20,42 giờ; tổng ngủ 12,31 so với 13,02 giờ; thức đêm 1,69 so với 1,13 lần | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ, cha mẹ báo cáo; so sánh P-A với P-C · n = 29.287 trẻ 0–36 tháng | Mindell và cs., 2010b |
| b2-008 | Ở nhóm nước phương Tây, trẻ ngủ chung giường thức đêm trung bình 1,82 lần và ngủ đêm 9,33 giờ, so với 0,90 lần và 10,33 giờ ở trẻ ngủ phòng riêng. Nhưng trong mô hình hồi quy, sự có mặt của cha mẹ lúc trẻ vào giấc cùng với tuổi trẻ giải thích 11,8% phương sai số lần thức đêm, còn bản thân việc ngủ chung chỉ thêm dưới 1%. | Thức đêm: chung giường 1,82; chung phòng 1,52; phòng riêng 0,90 lần (P-C). Ngủ đêm: 9,33 / 9,30 / 10,33 giờ. Ngủ chung giải thích < 1% phương sai | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ mở rộng; ANOVA, hồi quy từng bước; cha mẹ báo cáo · n = 29.287 trẻ 0–36 tháng, 17 nước/vùng | Mindell và cs., 2010a |
| b2-009 | Chỉ khoảng 3,58% trẻ ở nhóm nước châu Á tự ngủ một mình trong cũi/giường riêng lúc bắt đầu ngủ, so với 56,98% ở nhóm phương Tây. Trong nhóm nước phương Tây, tỉ lệ cha mẹ có mặt lúc trẻ vào giấc là 97,4% ở trẻ ngủ chung giường, 83,9% ở trẻ chung phòng và khoảng 41% ở trẻ ngủ phòng riêng. | Tự ngủ một mình: châu Á 3,58% so với phương Tây 56,98%; cha mẹ có mặt (nhóm phương Tây): 97,4% / 83,9% / 41,9% (văn bản; Hình 1 ghi 40,9%) | Người | Khảo sát cắt ngang BISQ mở rộng, cha mẹ báo cáo · n = 29.287 trẻ 0–36 tháng | Mindell và cs., 2010a |
| b2-032 | Trong nhóm chứng của nghiên cứu Hồng Kông 1999–2003, 18,9% trẻ ngủ chung giường với ít nhất một cha/mẹ và 5,4% ngủ chung giường với người khác; 75,7% không ngủ chung giường. | Chung giường cha mẹ 18,9% (42/223); với người khác 5,4% (12/223); không chung giường 75,7% | Người | Nhóm chứng chọn từ sổ sinh bệnh viện công và tư Hồng Kông; phỏng vấn bằng bảng hỏi · 223 trẻ chứng | Nelson và cs., 2006 |
| b2-042 | Phỏng vấn bán cấu trúc 21 bà mẹ có con 0–6 tháng và 3 bà nội/ngoại ở Thừa Thiên Huế cho thấy trẻ khóc được người chăm sóc giải thích bằng đói, cô đơn và các niềm tin truyền thống. Tác giả đề xuất giáo dục về tín hiệu của trẻ, nhu cầu ngủ và ngủ chung giường, có tính tới nhiều thế hệ cùng chăm trẻ. | 24 cuộc phỏng vấn (21 mẹ, 3 bà) | Người | Nghiên cứu định tính, phỏng vấn bán cấu trúc, phân tích chủ đề; 1 điểm thành thị, 1 điểm nông thôn · n = 24, Thừa Thiên Huế | Murray và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b2-053 | Nghiên cứu Chăm sóc Trẻ Quốc tế (International Child Care Practices Study) ở 21 trung tâm thuộc 17 nước ghi nhận tỉ lệ ngủ chung giường lúc 3 tháng dao động 2–88% và chung phòng 58–100%; ngủ chung giường phổ biến hơn ở nơi ít nhận thức về hội chứng đột tử trẻ sơ sinh (SIDS) nhưng không nhất thiết đi kèm tỉ lệ SIDS cao. | Ngủ chung giường 2–88%; chung phòng 58–100%; dùng gối 4–95% | Người | Nghiên cứu mô tả đa trung tâm theo quy trình chuẩn; phỏng vấn lúc sinh, bảng hỏi gửi bưu điện lúc 3 tháng · 5.488 gia đình lúc sinh; 4.656 (85%) trả lời lúc 3 tháng; có các trung tâm ở Nhật, Hồng Kông, Trung Quốc | Nelson và cs., 2001 (tóm tắt) |
| b2-054 | Ở 47 trẻ 5 tuổi tại Kurume (Nhật) đo bằng actigraphy cổ tay 1 tuần, không trẻ nào ngủ một mình: 41 trẻ ngủ chung phòng với cha mẹ, trong đó 23 trẻ ngủ chung chỗ (co-sleeping); bản thân việc ngủ chung không đi kèm giấc ngủ kém hơn ở trẻ hay cha mẹ. | Chung phòng 41/47; ngủ chung 23/41; trẻ ngủ 9,5 giờ, cha mẹ 7,0 giờ (ngày thường); hiệu quả ngủ của trẻ 90,3% | Người | Cắt ngang thăm dò; actigraphy cổ tay ở trẻ 7 đêm kèm nhật ký; cha mẹ trả lời ESS, PSQI; ANOVA, tương quan; không hiệu chỉnh so sánh bội · n = 47 trẻ 5 tuổi và 47 cha/mẹ, 2 nhà trẻ ở Kurume | Iwata và cs., 2013 |
| b2-055 | Trong nghiên cứu Kurume, khi giờ đi ngủ của cha mẹ và con sát nhau hơn, trẻ đi ngủ muộn hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn vào ngày thường, còn cha mẹ ngủ ngắn và vụn hơn; giờ đi ngủ ngày thường trung bình của trẻ là khoảng 21:30, của cha mẹ khoảng 23:06. | Giờ ngủ trẻ 21,5 giờ (ĐLC 0,6); cha mẹ 23,1 giờ (ĐLC 1,3); 34% cha mẹ PSQI > 5 | Người | Cắt ngang; actigraphy ở trẻ; phân tích chênh lệch giờ đi ngủ cha mẹ–con (ΔBT) · n = 47 cặp cha/mẹ–con | Iwata và cs., 2013 |
| b2-056 | Khảo sát dựa dân số ở 6 tỉnh Trung Quốc (2019) cho thấy 69,9–78,3% trẻ 0–35 tháng ngủ chung giường với cha mẹ, không khác biệt theo nhóm tuổi; lý do chính dưới 6 tháng là cho bú (44,9%), sau 6 tháng là tiện lợi (55,4–70,2%). | Chung giường 69,9% (0–5 tháng) – 78,3% (6–11 tháng); lý do cho bú 44,9%; tiện lợi 55,4% (6–11 tháng) – 70,2% (24–35 tháng) | Người | Cắt ngang, chọn mẫu 3 giai đoạn ở 6 cộng đồng và 6 thị trấn thuộc 6 tỉnh; BISQ và bảng hỏi tự thiết kế, người chăm sóc báo cáo · n = 1.195 trẻ 0–35 tháng | Feng và cs., 2022 |
| b2-057 | Trong cùng nghiên cứu Trung Quốc, ngủ chung giường không đi kèm thức đêm nhiều hay khó vào giấc; ngược lại, ngủ thiếp đi khi đang bú/bình đi kèm thức đêm thường xuyên (OR 3,50), còn được bế ru hoặc nằm cạnh cha mẹ để vào giấc đi kèm khó ngủ (OR 2,72 và 2,89). | Bú để ngủ → thức đêm ≥ 3 lần: OR 3,50 (1,87–6,54); bế ru → khó vào giấc OR 2,72 (1,21–6,12); nằm cạnh cha mẹ OR 2,89 (1,33–6,28); thức đêm thường xuyên 22,5% | Người | Cắt ngang; hồi quy logistic hiệu chỉnh tuổi, giới của trẻ, khu vực, tuổi và học vấn người chăm sóc, thu nhập; BISQ · n = 1.195 | Feng và cs., 2022 |
| b2-059 | Phác đồ 2019 của Viện Hàn lâm Y học Nuôi con bằng Sữa mẹ (Academy of Breastfeeding Medicine, ABM) dẫn: so với mẹ chỉ ngủ chung phòng, mẹ ngủ chung giường có khả năng cho con bú mẹ hoàn toàn cao hơn (aOR 2,46) và bú một phần cao hơn (aOR 1,75); trẻ ngủ chung giường có số cữ bú gấp đôi đến gấp ba trẻ ngủ một mình. | Bú mẹ hoàn toàn aOR 2,46 (1,76–3,45); bú một phần aOR 1,75 (1,33–2,31); số cữ bú gấp 2–3 lần | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn tổng hợp nghiên cứu quan sát (mức bằng chứng 2–3) · Không áp dụng | Blair và cs., 2020 |
| b2-071 | Ở 1.452 học sinh đầu tuổi dậy thì (trung vị 10,83 tuổi) tại 10 trường tiểu học Thượng Hải, 16,8% vẫn ngủ chung giường với người lớn. Yếu tố đi kèm mạnh nhất là thái độ tích cực của cha mẹ với ngủ chung (OR 9,87), tiếp đến hen suyễn (OR 2,15), nhà chật (OR 1,90), gia đình mở rộng nhiều thế hệ (OR 1,59). | Ngủ chung giường 16,8%; thái độ cha mẹ OR 9,87; nhà chật OR 1,90; gia đình mở rộng OR 1,59 | Người | Cắt ngang, bảng hỏi; hồi quy logistic · n = 1.452, Thượng Hải | Chưa rõ tác giả, 2016 (tóm tắt) |
| b2-072 | Cũng trong nghiên cứu Thượng Hải, trẻ ngủ chung giường có tỉ số chênh cao hơn về chống đối giờ đi ngủ (OR 12,20), lo âu khi ngủ (OR 3,76) và chất lượng ngủ kém (OR 3,21), buồn ngủ ban ngày (OR 1,53), nhưng không khác về thời lượng ngủ. | Chống đối giờ ngủ OR 12,20; lo âu khi ngủ OR 3,76; ngủ kém OR 3,21; buồn ngủ ban ngày OR 1,53 | Người | Cắt ngang, bảng hỏi; hồi quy logistic · n = 1.452 | Chưa rõ tác giả, 2016 (tóm tắt) |
| b2-073 | Ở 1.049 trẻ dưới 36 tháng tại Hồng Kông, trẻ ngủ chung phòng hoặc chung giường đi ngủ muộn hơn nhưng có thời lượng ngủ tương tự trẻ ngủ chỗ riêng; tự vào giấc độc lập đi kèm ngủ đêm dài hơn và ít thức đêm hơn, còn vị trí ngủ thì không. | n = 1.049; không có tỉ lệ chung giường trong tóm tắt | Người | Cắt ngang, BISQ mở rộng qua internet, cha mẹ báo cáo · n = 1.049 trẻ < 36 tháng, Hồng Kông | Yu và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b2-078 | Phân tích thứ cấp thử nghiệm INSIGHT (Mỹ, con đầu lòng) cho thấy trẻ ngủ phòng riêng trước 4 tháng có giấc ngủ dài nhất dài hơn 46 phút lúc 4 tháng so với trẻ ngủ chung phòng. Lúc 9 tháng ngủ đêm nhiều hơn 40 phút và giấc dài nhất dài hơn 100 phút; trẻ ngủ chung phòng có tỉ số chênh chuyển sang ngủ chung giường trong đêm khoảng 4. | 4 tháng: giấc dài nhất +46 phút (p = 0,02); 9 tháng: +40 phút/đêm (p = 0,008), giấc dài nhất +100 phút (p = 0,01); 30 tháng: +45 phút (p = 0,004); chuyển sang chung giường OR ~4 | Người | Phân tích thuần tập thứ cấp từ thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) phòng béo phì; BISQ mẹ báo cáo lúc 4, 9, 12, 30 tháng · Cặp mẹ–con đầu lòng trong INSIGHT (cỡ mẫu chưa đọc được) | Paul và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b2-079 | Nghiên cứu dọc ở Israel đo actigraphy và nhật ký 5 đêm cho thấy mẹ ngủ chung với con có rối loạn giấc ngủ khách quan và chủ quan nhiều hơn mẹ cho con ngủ riêng. Giấc ngủ kém của mẹ khi mang thai và lúc 3 tháng dự báo mức ngủ chung cao hơn lúc 6 tháng; sau khi hiệu chỉnh cách cho ăn, giấc ngủ đo khách quan của trẻ không khác giữa hai nhóm. | n = 153 gia đình; không có số liệu chi tiết trong phần đọc được | Người | Thuần tập tiến cứu (quý 3 thai kỳ, 3 và 6 tháng sau sinh); actigraphy + nhật ký 5 đêm cho mẹ và trẻ; hiệu chỉnh phương thức nuôi ăn · n = 153 gia đình | Volkovich và cs., 2015 (tóm tắt) |
| b2-081 | Trong Nghiên cứu Chăm sóc Trẻ Quốc tế (1995–1997), lúc 3 tháng tuổi 37% trẻ Nhật và 37% trẻ Hồng Kông ngủ chung giường; 46% trẻ Nhật ngủ trên nệm futon; 93% trẻ Nhật và 83% trẻ Hồng Kông có ít nhất một người lớn ngủ cùng phòng. | Chung giường: Nhật 37%, Hồng Kông 37%; futon (Nhật) 46%; có người lớn cùng phòng: 93% so với 83% | Người | Khảo sát tiến cứu theo quy trình chuẩn quốc tế: phỏng vấn lúc sinh, bảng hỏi lúc 3 tháng; tuyển từ 4 bệnh viện ở Nhật · Nhật n = 289 (4 bệnh viện); Hồng Kông n = 251 (198 trả lời lúc 3 tháng); Bắc Kinh n = 306; Trùng Khánh n = 250 | Nelson và cs., 1999 |
| b2-087 | Bài tổng quan văn hoá về ngủ chung ở Hàn Quốc mô tả cha mẹ thường ngủ với con trên sàn nhà (không phải giường), và các bà mẹ Hàn thường cho rằng ngủ chung nên kéo dài tới 3–6 năm sau sinh. Bài cũng nhận định tỉ lệ SIDS ở các nền văn hoá châu Á thấp hơn nhưng lưu ý khả năng báo cáo thiếu ca tử vong trẻ ở các nước châu Á. | Thời gian ngủ chung mong muốn 3–6 năm | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Chung và An, 2014 |
Dùng ở chương: Đột tử trẻ sơ sinh và ngủ chung giường#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-010 | Viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) năm 2022 khuyến nghị trẻ ngủ chung phòng (room-sharing) nhưng trên bề mặt riêng, lý tưởng ít nhất 6 tháng đầu, và nêu rằng cách sắp xếp này giảm nguy cơ SIDS tới 50%. | Giảm nguy cơ SIDS tới 50%; chung phòng ít nhất 6 tháng | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Báo cáo kỹ thuật kèm khuyến nghị chính thức của Nhóm đặc trách SIDS và Uỷ ban Thai nhi–Sơ sinh AAP, tổng hợp nghiên cứu bệnh–chứng · Không áp dụng (tổng hợp) | Moon và cs., 2022a |
| b2-011 | AAP 2022 tuyên bố không thể khuyến nghị ngủ chung giường trong bất kỳ hoàn cảnh nào; phân tích gộp 11 nghiên cứu được trích dẫn cho tỉ số chênh (odds ratio, OR) tổng hợp của SIDS khi ngủ chung giường là 2,88. | OR 2,88 (KTC 95% 1,99–4,18) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn chính thức dẫn phân tích gộp 11 nghiên cứu bệnh–chứng · 11 nghiên cứu | Moon và cs., 2022a |
| b2-012 | AAP 2022 xếp các tình huống ngủ chung giường có nguy cơ cao hơn 10 lần mức nền gồm: ngủ cùng người đang hút thuốc (kể cả khi không hút trên giường) hoặc mẹ hút thuốc khi mang thai; người ngủ cùng đã uống rượu hay dùng chất gây suy giảm tỉnh táo; ngủ chung trên bề mặt mềm. | > 10 lần nguy cơ nền của ngủ chung giường | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn chính thức tổng hợp nghiên cứu bệnh–chứng · Không áp dụng | Moon và cs., 2022a |
| b2-013 | Theo AAP 2022, ngủ chung giường với trẻ dưới 4 tháng có nguy cơ gấp 5–10 lần mức nền, kể cả khi trẻ đủ tháng, cân nặng bình thường, bú mẹ và cha mẹ không hút thuốc; sinh non/nhẹ cân và chăn gối mềm gấp 2–5 lần. | Trẻ < 4 tháng: 5–10 lần; sinh non/nhẹ cân, bề mặt mềm: 2–5 lần | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn chính thức tổng hợp nghiên cứu bệnh–chứng · Không áp dụng | Moon và cs., 2022a |
| b2-014 | AAP 2022 nêu ngủ trên sofa hoặc ghế bành (kể cả cùng người lớn) đi kèm nguy cơ tử vong tăng 22–67 lần — mức cao nhất trong các tình huống được liệt kê. | Tăng 22–67 lần | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn chính thức tổng hợp nghiên cứu bệnh–chứng · Không áp dụng | Moon và cs., 2022a |
| b2-015 | AAP 2022: tư thế nằm sấp đi kèm OR 2,3–13,1 cho SIDS; trẻ thường nằm ngửa nhưng bị đặt nằm sấp (không quen) có aOR 8,7–45,4. | Nằm sấp OR 2,3–13,1; nằm sấp không quen aOR 8,7–45,4 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn tổng hợp nghiên cứu bệnh–chứng · Không áp dụng | Moon và cs., 2022a |
| b2-016 | Tại Mỹ, tỉ lệ SIDS giảm từ 120/100.000 trẻ sinh sống năm 1992 xuống 56 năm 2001 và 33 năm 2019; năm 2019 có 1.248 trẻ tử vong do SIDS, mỗi năm khoảng 3.500 ca tử vong trẻ liên quan giấc ngủ. | 120 (1992) → 56 (2001) → 33 (2019)/100.000; 1.248 ca SIDS năm 2019; ~3.500 ca tử vong liên quan giấc ngủ/năm | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Số liệu thống kê sinh tử quốc gia Mỹ (Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia, NCHS) dẫn trong báo cáo kỹ thuật · Toàn bộ trẻ sinh sống ở Mỹ | Moon và cs., 2022a |
| b2-017 | AAP 2022 phân biệt: SIDS là chẩn đoán cho tử vong không giải thích được sau điều tra đầy đủ (hiện trường, khám nghiệm tử thi, tiền sử). Ngạt hoặc thắt nghẹt do tai nạn trên giường (accidental suffocation and strangulation in bed, ASSB, mã ICD-10 W75) là tử vong được giải thích; đột tử không rõ nguyên nhân ở trẻ (sudden unexpected infant death, SUID) là khái niệm bao trùm, mã R95, R99, W75. | SUID = R95 + R99 + W75 (ICD-10) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Bảng định nghĩa trong báo cáo kỹ thuật AAP · Không áp dụng | Moon và cs., 2022a |
| b2-018 | Theo báo cáo kỹ thuật AAP 2022, tỉ lệ SUID ở trẻ gốc châu Á–Thái Bình Dương tại Mỹ là 54/100.000 trẻ sinh sống, thấp hơn nhiều so với trẻ da trắng không gốc Tây Ban Nha (85/100.000, giai đoạn 2010–2013). | 54/100.000 (châu Á–Thái Bình Dương); 34/100.000 (gốc Tây Ban Nha); 85/100.000 (da trắng không gốc Tây Ban Nha, 2010–2013) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Thống kê sinh tử Mỹ dẫn trong báo cáo AAP; câu văn không nêu giai đoạn của các tỉ lệ 54 và 34 · Toàn bộ trẻ sinh sống ở Mỹ | Moon và cs., 2022a |
| b2-020 | AAP 2022 thừa nhận tranh luận vẫn tiếp diễn về độ an toàn của ngủ chung giường với trẻ bú mẹ, nguy cơ thấp. Blair và Carpenter phân tích cùng loại dữ liệu bệnh–chứng gộp nhưng đi tới kết luận trái ngược, nên nhóm đặc trách đã nhờ một chuyên gia độc lập (Robert Platt) thẩm định. Ông kết luận dữ liệu không cho phép khẳng định ngủ chung an toàn ở trẻ nhỏ nhất. | Không có số | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Thẩm định độc lập các phân tích bệnh–chứng gộp · Không áp dụng | Moon và cs., 2022a |
| b2-021 | AAP 2022 dẫn tổng quan của Cơ quan Nghiên cứu và Chất lượng Y tế Mỹ (AHRQ): từng bú mẹ đi kèm nguy cơ SIDS thấp hơn (OR hiệu chỉnh tổng hợp 0,64); một phân tích gộp 18 nghiên cứu cho OR hiệu chỉnh gộp 0,55. | aOR 0,64; aOR gộp 0,55 (KTC 95% 0,44–0,69) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn dẫn tổng quan hệ thống và phân tích gộp 18 nghiên cứu bệnh–chứng · 18 nghiên cứu | Moon và cs., 2022a |
| b2-022 | Thuật ngữ hội chứng đột tử trẻ sơ sinh (sudden infant death syndrome, SIDS) được bác sĩ Bruce Beckwith đặt ra và định nghĩa năm 1969 tại Mỹ: cái chết đột ngột của trẻ nhũ nhi hoặc trẻ nhỏ, không lường trước theo tiền sử, mà khám nghiệm tử thi kỹ không tìm ra nguyên nhân thoả đáng. | Năm 1969; không giới hạn tuổi dưới 1 năm | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tổng quan lịch sử thuật ngữ của Nhóm đặc trách SIDS AAP · Không áp dụng | Shapiro-Mendoza và cs., 2021 |
| b2-023 | Năm 1989 (công bố 1991, Willinger và cộng sự), hội đồng 12 chuyên gia do Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH/NICHD) triệu tập giới hạn SIDS ở trẻ dưới 1 tuổi và bắt buộc điều tra đầy đủ gồm khám nghiệm tử thi, khám hiện trường tử vong và xem lại tiền sử lâm sàng. | Năm 1989/1991; dưới 1 tuổi; 3 thành phần điều tra | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tổng quan lịch sử thuật ngữ · Không áp dụng | Shapiro-Mendoza và cs., 2021 |
| b2-024 | Năm 2004, nhóm chuyên gia quốc tế họp tại San Diego (California, Mỹ) do Henry Krous dẫn dắt bổ sung điều kiện "khởi phát cơn tử vong dường như xảy ra trong lúc ngủ" vào định nghĩa SIDS cho trẻ dưới 1 tuổi. | Năm 2004; dưới 1 tuổi; khởi phát trong lúc ngủ | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Định nghĩa đồng thuận chuyên gia (thuật lại qua tổng quan 2021) · Không áp dụng | Krous và cs., 2004 (tóm tắt) |
| b2-025 | Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (MHLW) mô tả SIDS là bệnh không rõ nguyên nhân khiến trẻ nhũ nhi tử vong mà không có dấu hiệu báo trước hay tiền sử bệnh. Năm 2021 có 81 trẻ tử vong do SIDS ở Nhật (nguyên nhân tử vong thứ 3 ở trẻ dưới 1 tuổi), năm 2018 có 60 trẻ (thứ 4). | 2018: 60 ca (hạng 4); 2021: 81 ca (hạng 3) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tài liệu truyền thông chính thức của Bộ MHLW, số liệu thống kê sinh tử quốc gia · Toàn bộ trẻ dưới 1 tuổi ở Nhật | Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật, 2021 |
| b2-026 | Ba khuyến nghị giảm SIDS của Bộ MHLW Nhật Bản là: cho trẻ nằm ngửa khi ngủ tới 1 tuổi, nuôi con bằng sữa mẹ nếu có thể, và bỏ thuốc lá — không có khuyến nghị cấm ngủ chung giường như AAP 2022; phần phòng ngạt khuyên dùng cũi có thành luôn dựng, nệm gối cứng, chăn nhẹ. | 3 khuyến nghị; nằm ngửa tới 1 tuổi | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tài liệu truyền thông chính thức của Bộ MHLW · Không áp dụng | Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật, 2021 |
| b2-027 | Theo Bộ MHLW Nhật, năm 2009 có 157 trẻ tử vong do SIDS, giảm còn dưới một nửa so với khi bắt đầu chiến dịch phòng SIDS năm 1999; SIDS thường xảy ra ở trẻ 2–6 tháng và hay gặp hơn từ tháng 12, mùa lạnh. | 157 ca năm 2009; giảm > 50% so với 1999 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tài liệu chính thức MHLW, số liệu thống kê sinh tử · Toàn bộ trẻ ở Nhật | Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật, 2010 |
| b2-028 | Nghiên cứu tiến cứu tại Hồng Kông 12/1986–11/1987 ghi nhận tỉ lệ SIDS 0,3/1.000 trẻ sinh sống (21 ca trên 70.519 ca sinh), thấp hơn nhiều so với nhiều nước phương Tây thời đó; 44% trẻ tử vong thường nằm sấp so với 6% trẻ nhóm chứng. | 0,3/1.000 (21/70.519); nằm sấp 7/16 ca (44%) so với 2/32 chứng (6%), p = 0,004 | Người | Nghiên cứu tiến cứu kèm bệnh–chứng (2 chứng/ca, ghép giới và ngày sinh); khám nghiệm tử thi bắt buộc với tử vong ngoài bệnh viện; phỏng vấn tại nhà · 21 ca SIDS; 16 ca có phỏng vấn, 32 chứng | Lee và cs., 1989 |
| b2-029 | Nhóm Lee 1989 đưa ra giả thuyết (không kiểm chứng) rằng điều kiện sống chật chội tạo nhiều kích thích môi trường, cộng truyền thống cho trẻ nằm ngửa, có thể ảnh hưởng sự trưởng thành kiểm soát hô hấp; đồng thời thừa nhận khác biệt tiêu chí chẩn đoán khi khám nghiệm cũng góp phần. | Không có số | Người | Bàn luận trong nghiên cứu tiến cứu–bệnh chứng · 21 ca | Lee và cs., 1989 |
| b2-030 | Giai đoạn 1999–2002, tỉ lệ SIDS ở Hồng Kông là 0,09–0,16/1.000 trẻ sinh sống (tuỳ tính 18 ca theo phân loại pháp y hay 33 ca có thể là SIDS sau rà soát), giảm từ 0,29/1.000 năm 1987; 7 trong 33 ca không phải người gốc Hoa nên tỉ lệ ở người gốc Hoa có thể còn thấp hơn. | 0,09–0,16/1.000 (1999–2002) so với 0,29/1.000 (1987) | Người | Kiểm toán tử vong báo cáo pháp y kèm nghiên cứu bệnh–chứng; bảng hỏi chuẩn hoá phỏng vấn tại nhà · 183 ca tử vong bất ngờ báo pháp y; 16 ca SIDS phân tích, 223 chứng | Nelson và cs., 2006 |
| b2-031 | Tại Hồng Kông, ngủ chung giường với cha mẹ đi kèm OR 2,6 nhưng không có ý nghĩa thống kê (KTC 95% 0,7–9,5), trong khi ngủ chung giường với người khác (không phải cha mẹ) đi kèm OR 6,6; mẹ hút thuốc ở quý 2 thai kỳ OR 18,6; trẻ bị trùm kín đầu và người OR 108. | Chung giường cha mẹ OR 2,6 (0,7–9,5); chung giường người khác OR 6,6 (1,5–29,3); mẹ hút thuốc OR 18,6 (3,0–117); nằm sấp lúc đặt ngủ OR 9,1 (1,8–45,1); trùm kín OR 108 (7–1.666) | Người | Bệnh–chứng; OR hiệu chỉnh giới và tình trạng kinh tế–xã hội · 16 ca, 223 chứng | Nelson và cs., 2006 |
| b2-033 | Trong 259 ca đột tử bất ngờ ở trẻ (SUDI) do 8 khoa pháp y đại học Nhật thu thập 2013–2018, 61% ghi nhận đang ngủ chung và 40% được phát hiện ở tư thế nằm sấp; mẹ ≤ 19 tuổi đi kèm OR 11,1, con thứ tư trở đi OR 5,2, mẹ hút thuốc OR 4,5. | Ngủ chung 61%; nằm sấp 40%; mẹ ≤ 19 tuổi OR 11,1 (6,9–17,7); con thứ ≥ 4 OR 5,2 (3,4–7,9); mẹ hút thuốc OR 4,5 (2,9–5,8); hay gặp nhất ở trẻ 1 tháng (18%) | Người | Hồi cứu hồ sơ khám nghiệm pháp y của 8 khoa pháp y đại học; OR tính so với số liệu dân số chung (theo tóm tắt), không có nhóm chứng ghép cặp · 259 ca SUDI (145 nam, 114 nữ) | Osawa và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b2-034 | Phân tích gộp cấp cá thể 5 nghiên cứu bệnh–chứng lớn (châu Âu, Scotland, New Zealand, Ireland, Đức) của Carpenter và cộng sự cho thấy ngủ chung giường đi kèm aOR 2,7 cho SIDS chung mọi tuổi dưới 1 năm; 22,2% ca SIDS ngủ chung giường so với 9,6% trẻ nhóm chứng. | aOR 2,7 (KTC 95% 1,4–5,3); 22,2% ca so với 9,6% chứng | Tổng quan | Phân tích gộp dữ liệu cá thể 5 nghiên cứu bệnh–chứng (1987–2003); hồi quy logistic đa tầng; hiệu chỉnh tư thế ngủ, cách nuôi dưỡng, hút thuốc, tuổi mẹ, số lần sinh, tình trạng hôn nhân; ngủ chung giường = ngủ trên giường cha mẹ, so với chung phòng không chung giường · 1.472 ca SIDS, 4.679 chứng | Carpenter và cs., 2013 |
| b2-035 | Theo Carpenter 2013, với trẻ bú mẹ dưới 3 tháng, cha mẹ không hút thuốc, không rượu hay ma tuý và không có yếu tố nguy cơ khác, ngủ chung giường vẫn đi kèm aOR 5,1 so với chung phòng; tỉ lệ SIDS ước tính tăng từ 0,08 lên 0,23/1.000 trẻ sinh sống. | aOR 5,1 (KTC 95% 2,3–11,4); 0,08 → 0,23/1.000 | Tổng quan | Phân tích gộp dữ liệu cá thể 5 nghiên cứu bệnh–chứng; biến rượu và ma tuý chỉ có ở 2/5 bộ dữ liệu và được ước lượng bù (imputation) cho phần còn lại · 1.472 ca SIDS, 4.679 chứng | Carpenter và cs., 2013 |
| b2-036 | Trong Carpenter 2013, ngủ chung giường khi cả cha và mẹ hút thuốc ở trẻ dưới 3 tháng đi kèm aOR 21,6 so với chung phòng ở gia đình không hút. Ở trẻ 2 tuần tuổi ngủ chung với mẹ uống ≥ 2 đơn vị rượu trong 24 giờ, aOR lên 89,7; ước tính 87,7% ca SIDS khi ngủ chung giường có thể quy cho việc ngủ chung. | Cha mẹ hút thuốc aOR 21,6 (11,1–42,3); rượu ≥ 2 đơn vị aOR 89,7 (25,3–317,7); phần quy thuộc 87,7% | Tổng quan | Phân tích gộp dữ liệu cá thể 5 nghiên cứu bệnh–chứng; mô hình đa tầng · 1.472 ca SIDS, 4.679 chứng | Carpenter và cs., 2013 |
| b2-037 | Phân tích gộp 2 nghiên cứu bệnh–chứng ở Anh của Blair và cộng sự cho thấy ngủ chung giường khi không có hoàn cảnh nguy hiểm (không rượu, không hút thuốc, không sofa) không đi kèm tăng nguy cơ SIDS rõ rệt: OR 1,1; ở trẻ dưới 3 tháng OR 1,6 (KTC chứa 1); trên 3 tháng OR 0,1. | OR 1,1 (0,6–2,0); < 3 tháng OR 1,6 (0,96–2,7); > 3 tháng OR 0,1 (0,01–0,5) | Người | Phân tích gộp cá thể 2 nghiên cứu bệnh–chứng dựa dân số (1993–1996, 5 vùng y tế nước Anh; 2003–2006, Tây Nam nước Anh); nhóm chứng ghép theo tuổi và thời điểm ngủ (ngày/đêm). Hồi quy logistic đa biến lùi từng bước, hiệu chỉnh các yếu tố của trẻ, mẹ và giấc ngủ cuối (cân nặng sơ sinh thấp, sinh non, bú mẹ, tư thế, quấn chặt, núm vú giả, đầu bị che phủ…). "Không yếu tố nguy hiểm" = không ngủ sofa, không uống > 2 đơn vị rượu, không hút thuốc · 400 ca SIDS, 1.386 chứng | Blair và cs., 2014 |
| b2-038 | Cũng trong Blair 2014, 36% trẻ SIDS ngủ cùng người lớn so với 15% nhóm chứng (OR 3,9); ngủ chung trên sofa đi kèm OR 18,3; ngủ chung với cha/mẹ uống hơn 2 đơn vị rượu OR 18,3; ngủ chung với người hút thuốc ở trẻ dưới 3 tháng OR 8,9. | Ngủ cùng người lớn OR 3,9 (2,7–5,6); sofa OR 18,3 (7,1–47,4); rượu > 2 đơn vị OR 18,3 (7,7–43,5); người hút thuốc, < 3 tháng OR 8,9 (5,3–15,1) | Người | Phân tích gộp cá thể 2 nghiên cứu bệnh–chứng dựa dân số ở Anh; hồi quy logistic đa biến · 400 ca SIDS, 1.386 chứng | Blair và cs., 2014 |
| b2-039 | Phân tích gộp 11 nghiên cứu của Vennemann và cộng sự cho OR 2,89 cho SIDS khi ngủ chung giường; nguy cơ rõ nhất ở con của mẹ hút thuốc (OR 6,27) và trẻ dưới 12 tuần (OR 10,37). | Chung: OR 2,89 (1,99–4,18); mẹ hút thuốc OR 6,27 (3,94–9,99); < 12 tuần OR 10,37 (4,44–24,21) | Tổng quan | Phân tích gộp 11 nghiên cứu bệnh–chứng (bản tóm tắt hội nghị GMDS 2011; bài đầy đủ trên J Pediatr 2012;160(1):44–48.e2) · 11 nghiên cứu | Vennemann và cs., 2011 (tóm tắt) |
| b2-052 | So sánh mã tử vong ICD-10 ở 8 nước thu nhập cao giai đoạn 2002–2010 cho thấy Nhật là nước duy nhất dùng đều đặn mã R96 (tử vong đột ngột khác, không rõ nguyên nhân) cho 44,8% ca đột tử bất ngờ ở trẻ (SUDI). Chỉ 32,6% SUDI ở Nhật được mã là SIDS (R95), so với 72,5% ở Đức. | Nhật: R96 44,8%, R95 32,6% SUDI; Đức R95 72,5%; W75 (ngạt trên giường) 1,1% (Đức) – 31,7% (New Zealand); SUDI thấp nhất Hà Lan 0,19/1.000, cao nhất New Zealand 1,00/1.000 | Người | So sánh thống kê sinh tử quốc gia, 6 mã ICD-10 bao trùm phần lớn SUDI, 8 nước, 2002–2010 · Toàn bộ tử vong trẻ dưới 1 tuổi ở 8 nước | Taylor và cs., 2015 (tóm tắt) |
| b2-058 | Phác đồ số 6 bản sửa đổi 2019 của Viện Hàn lâm Y học Nuôi con bằng Sữa mẹ (Academy of Breastfeeding Medicine, ABM) kết luận (mức bằng chứng 3) rằng bằng chứng hiện có không ủng hộ nhận định ngủ chung giường ở trẻ bú mẹ gây SIDS khi không có yếu tố nguy hiểm đã biết. Phác đồ khuyến nghị nhân viên y tế thảo luận về an toàn ngủ chung với mọi cha mẹ và cung cấp thông tin ngủ chung an toàn cả cho những gia đình được khuyên không nên ngủ chung. | Không yếu tố nguy hiểm: OR 1,08 (0,58–2,01); < 3 tháng OR 1,6 (0,96–2,7); trẻ lớn hơn OR 0,08 (0,01–0,52) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn lâm sàng, phân mức bằng chứng theo Oxford CEBM (1–5) · Không áp dụng | Blair và cs., 2020 |
| b2-060 | ABM 2019 liệt kê các yếu tố nguy hiểm khi ngủ chung: ngủ sofa hoặc ghế cùng người lớn đang ngủ, người lớn bị suy giảm do rượu hoặc ma tuý, người lớn hút thuốc, trẻ nằm sấp, không bao giờ cho bú mẹ, bề mặt mềm, trẻ sinh non/nhẹ cân. Ngủ chung giường với mẹ hút thuốc đi kèm OR 4,55, trong khi nằm cạnh mẹ không hút thuốc không tăng nguy cơ (OR 0,98). | Mẹ hút thuốc OR 4,55 (2,63–7,88); mẹ không hút OR 0,98; sofa hoặc người lớn uống > 2 đơn vị rượu trong 24 giờ: tăng khoảng 18 lần | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn lâm sàng, Bảng 1 · Không áp dụng | Blair và cs., 2020 |
| b2-061 | Bản phác đồ ABM số 6 năm 2008 nêu tỉ lệ SIDS thấp ở các nền văn hoá châu Á nơi ngủ chung phổ biến, và ghi nhận ở Hồng Kông trẻ thường ngủ "cách mẹ một sải tay" trên bề mặt cứng. Trẻ ngủ chung giường với mẹ bú đêm lâu hơn khoảng 3 lần, số cữ bú gấp đôi và mỗi cữ dài hơn 39%. | Bú đêm lâu hơn ~3 lần; số cữ gấp 2; cữ dài hơn 39% | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn lâm sàng (tổng hợp, bản 2008) · Không áp dụng | Academy of Breastfeeding Medicine Protocol Committee, 2008 |
| b2-082 | Cùng nghiên cứu 4 mẫu châu Á: tỉ lệ nằm ngửa lúc 3 tháng là 89% ở Nhật và 82% ở Hồng Kông; nằm sấp 6% ở Nhật và 1% ở Hồng Kông; mẹ hút thuốc lúc 3 tháng chỉ 9% (Nhật) và 6% (Hồng Kông). | Nằm ngửa 89% (Nhật), 82% (Hồng Kông); nằm sấp 6% so với 1%; mẹ hút thuốc 9% so với 6%; cha hút thuốc 50% so với 33% | Người | Khảo sát tiến cứu, bảng hỏi lúc 3 tháng · Nhật n = 289; Hồng Kông n = 251 (198 trả lời lúc 3 tháng) | Nelson và cs., 1999 |
| b2-083 | Cùng nghiên cứu: lúc 3 tháng, 81% trẻ Nhật còn được bú sữa mẹ nhưng chỉ 12% trẻ người Hoa ở Hồng Kông — SL trong khi tỉ lệ SIDS ở Hồng Kông thấp (theo Lee 1989, Nelson 2006) dù tỉ lệ bú mẹ thấp; 56% trẻ Nhật và 80% trẻ Hồng Kông dùng gối. | Bú mẹ lúc 3 tháng: Nhật 81% (bảng) hoặc 79% (văn bản), Hồng Kông 12%; dùng gối 56% so với 80% | Người | Khảo sát tiến cứu, bảng hỏi lúc 3 tháng · Nhật n = 289 | Nelson và cs., 1999 |
| b2-085 | Rà soát 355 ca SIDS được khám nghiệm tử thi ở Hàn Quốc (1996–2008): trong 204 ca có ghi thông tin, 59,3% tử vong khi đang ngủ chung giường, và 44,6% ca ngủ chung giường là trẻ dưới 3 tháng — trẻ hơn đáng kể so với ca không ngủ chung. Tỉ lệ ngủ chung trong các ca tăng dần theo thời gian. | Ngủ chung giường 121/204 (59,3%); < 3 tháng 44,6% (p = 0,0279); xu hướng tăng OR 1,087/năm (1,004–1,177) | Người | Hồi cứu báo cáo khám nghiệm tử thi (Viện Pháp y Quốc gia và Đại học Quốc gia Seoul); không có nhóm chứng · 355 ca SIDS | Yoo và cs., 2013 (tóm tắt) |
| b2-086 | Trong cùng loạt ca Hàn Quốc, 44,7% trẻ (75/168 ca có thông tin tư thế) tử vong sau khi được đặt nằm sấp hoặc nằm nghiêng; tỉ lệ này không thay đổi trong giai đoạn 1996–2008. | 75/168 (44,7%) nằm sấp hoặc nghiêng | Người | Hồi cứu báo cáo khám nghiệm tử thi, không nhóm chứng · 355 ca (168 có thông tin tư thế) | Yoo và cs., 2013 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Võng, quấn trẻ, vợ chồng ngủ chung và người cao tuổi#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-019 | AAP 2022 nhận định chưa đủ bằng chứng công bố để khuyến nghị dùng hay không dùng các bề mặt ngủ thay thế (trong đó có võng được nhắc tới). AAP cũng dẫn quy định tháng 6/2021 của Uỷ ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Mỹ (CPSC): mọi sản phẩm ngủ cho trẻ từ 5 tháng tuổi trở xuống phải đạt tiêu chuẩn an toàn liên bang hiện hành cho cũi, nôi, quây và nôi kê cạnh giường. | Không có số | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố trong hướng dẫn chính thức · Không áp dụng | Moon và cs., 2022a |
| b2-040 | Phân tích gộp 4 nghiên cứu bệnh–chứng (Anh, Mỹ, Úc) của Pease và cộng sự: quấn chặt trẻ (swaddling) đi kèm OR 1,4 cho SIDS; 17,5% ca SIDS được quấn so với 10,8% chứng. | OR 1,4; 17,5% ca so với 10,8% chứng | Tổng quan | Phân tích gộp 4 nghiên cứu bệnh–chứng quan sát trong 2 thập kỷ, 3 khu vực; hiệu chỉnh khác biệt giữa nghiên cứu · 760 ca SIDS, 1.759 chứng | Pease và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b2-041 | Trong phân tích gộp của Pease và cộng sự, so với trẻ nhóm chứng cùng tư thế, nguy cơ SIDS đi kèm việc quấn chặt khoảng 13 lần khi trẻ nằm sấp, 3 lần khi nằm nghiêng và 2 lần khi nằm ngửa; ở trẻ trên 6 tháng tuổi là khoảng 2,5 lần so với trẻ chứng cùng tuổi. | Nằm sấp ~13 lần; nằm nghiêng ~3 lần; nằm ngửa ~2 lần; > 6 tháng ~2,5 lần | Tổng quan | Phân tích gộp 4 nghiên cứu bệnh–chứng, phân tầng theo tư thế và tuổi · 760 ca, 1.759 chứng | Pease và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b2-043 | Tài liệu dành cho nhân viên y tế của trang ISIS (Anh) ghi nhận mối lo về an toàn võng em bé xuất phát từ 2 ca trẻ tử vong trong võng. Các nghiên cứu ở Đông Nam Á (Ng 1997, Ramdzan 2014) ghi nhận các chấn thương liên quan nôi vải đều ở đầu, có ca nặng (Ramdzan 2014 dẫn lại Ng 1997; không có tỉ lệ), còn các quảng cáo võng giảm SIDS hay méo đầu không có bằng chứng. | 2 ca tử vong được nêu; không có tỉ lệ | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tài liệu tổng hợp dành cho nhân viên y tế (không phải tổng quan hệ thống) · Không áp dụng | Infant Sleep Information Source (ISIS), không ghi năm |
| b2-044 | Uỷ ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Mỹ (CPSC) thu hồi khoảng 500 võng em bé tháng 8/2010 vì võng có thể nghiêng làm trẻ lăn và bị kẹt vào vải hoặc đệm, gây nguy cơ ngạt; có 3 báo cáo võng mất cân bằng, một trẻ 2 tháng được phát hiện nằm úp mặt. | ~500 chiếc; 3 sự cố; 0 thương tích | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Thông báo thu hồi sản phẩm của cơ quan quản lý · Không áp dụng | U.S. Consumer Product Safety Commission, 2010 |
| b2-045 | Thử nghiệm ngẫu nhiên chéo ở 20 trẻ sinh non trong khoa hồi sức sơ sinh (Brasília) không thấy khác biệt có ý nghĩa giữa nằm võng và nằm "tổ" về nhịp tim, độ bão hoà oxy hay trạng thái ngủ sau thay tã. | Nhịp tim p = 0,62; trạng thái ngủ p = 0,35–0,81 giữa hai điều kiện | Người | RCT chéo, thứ tự ngẫu nhiên, nghỉ 24 giờ; trạng thái ngủ–thức mã hoá từ video theo thang Prechtl; người đánh giá không làm mù; theo dõi ~16 phút quanh thay tã · n = 20 trẻ sinh non (tuổi thai hiệu chỉnh 32–37 tuần, 1.300–2.000 g) hoàn tất/28 tham gia | Costa KSF và cs., 2019 |
| b2-046 | Khảo sát 403 người chăm sóc chính trẻ nhũ nhi tại một phòng khám cộng đồng ở Petaling Jaya (Malaysia) ghi nhận nhiều người dùng nôi vải treo (sarong cradle, buaian); tác giả dẫn Ng 1997 rằng mọi chấn thương liên quan nôi vải đều ở đầu, có ca tụ máu ngoài màng cứng và vỡ xương sọ. | n = 403 (tỉ lệ đáp ứng 97,8%); không có tỉ lệ sử dụng nôi vải cụ thể | Người | Cắt ngang mô tả, phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi tự thiết kế (2012–2013) · 403 người chăm sóc | Ramdzan và cs., 2014 |
| b2-049 | Ở 12 cặp đôi trẻ (24 người, tuổi trung bình 23,5) đo đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) đồng thời, ngủ cùng nhau đi kèm tỉ lệ giấc ngủ cử động mắt nhanh (REM) cao hơn (23,0% so với 21,0%) và REM ít bị ngắt quãng hơn (5,4 so với 8,5 lần) so với ngủ riêng. Tổng thời gian ngủ không đổi (467,1 so với 467,6 phút). | REM 23,0% so với 21,0% (p = 0,005); ngắt REM 5,4 so với 8,5 lần; tổng ngủ 467,1 so với 467,6 phút (khác biệt không ý nghĩa) | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, thiết kế trong-cá-thể, đối trọng thứ tự; 4 đêm (bỏ đêm thích nghi); PSG đồng thời, chấm giai đoạn bởi 1 người làm mù; điều kiện ngủ chung là 2 giường đơn kê sát · n = 12 cặp dị tính (24 người), Đức | Drews và cs., 2020 |
| b2-050 | Cũng trong nghiên cứu Drews 2020, các giai đoạn giấc ngủ của hai người đồng bộ trong 46,9% thời gian đêm khi ngủ chung so với 36,6% khi ngủ riêng; mức độ gắn bó của mối quan hệ đi kèm mức đồng bộ cao hơn. | Đồng bộ 46,9% so với 36,6% (p = 0,005); quan hệ: F(1,10) = 6,0, p = 0,035 | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, trong-cá-thể; PSG đồng thời; phân tích tái diễn chéo (cross-recurrence quantification analysis) · n = 12 cặp | Drews và cs., 2020 |
| b2-051 | Ở 404 người bệnh ngoại trú ≥ 60 tuổi tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình (2023–2024), 88,6% có chất lượng ngủ kém (PSQI > 7) và mỗi điểm PSQI tăng đi kèm khả năng thuộc nhóm nguy cơ té ngã cao theo bảng hỏi STEADI (OR 1,16). | Ngủ kém 88,6% (358/404); PSQI và nguy cơ té ngã OR 1,16 (1,02–1,32); nguy cơ té ngã 19,6% | Người | Cắt ngang, mẫu thuận tiện (10/2023–6/2024); PSQI (ngưỡng > 7), bảng hỏi nguy cơ té ngã (FRQ) STEADI-CDC 2017 (điểm cắt 4); hồi quy đa biến hiệu chỉnh tuổi, giới, té ngã năm trước, học vấn, hút thuốc, uống rượu, hoạt động giải trí, bệnh kèm · n = 404, Thái Bình | Diep và cs., 2025 |
| b2-062 | Đo actigraphy cổ tay ở 46 cặp vợ chồng ở Anh trong 8 đêm cho thấy khoảng một phần ba cử động trong giấc ngủ xảy ra cùng lúc (cùng khoảng 30 giây) ở cả hai người. Người ngủ chung cử động nhiều hơn người ngủ một mình, nhưng phần lớn người tham gia lại tự nhận ngủ tốt hơn khi có bạn đời bên cạnh. | ~1/3 cử động trùng thời điểm; cử động rời rạc chiếm 5–6% các khoảng 30 giây | Người | Quan sát tại nhà; actigraphy cổ tay đồng bộ ±5 giây, khoảng 30 giây; nhật ký giấc ngủ buổi sáng; nghiên cứu 2 so sánh người ngủ một mình với người có bạn đời vắng mặt ≥ 1 đêm (15 đêm) · 46 cặp (23–67 tuổi); nghiên cứu chính 400 người | Pankhurst và Horne, 1994 (tóm tắt) |
| b2-064 | Theo bài quan điểm chỉnh hình của Clarke, Nhật Bản từng triển khai chương trình giáo dục (ban đầu nhắm vào các bà) để bỏ tập quán quấn chặt chân trẻ truyền thống; tỉ lệ trật khớp háng ở trẻ giảm từ 1,1–3,5% xuống 0,2% sau chương trình. | Trật khớp háng 1,1–3,5% → 0,2% | Người | Bài quan điểm/tổng quan tường thuật dẫn dữ liệu quan sát trước–sau (không có nhóm chứng) · Không nêu trong phần đọc được | Clarke, 2014 |
| b2-065 | Clarke ghi nhận khoảng 90% trẻ ở Bắc Mỹ được quấn trong vài tháng đầu, nhu cầu khăn quấn ở Anh tăng 61% năm 2010/2011, và khuyến nghị "quấn an toàn" sao cho chân trẻ có thể co lên và dạng ra ở khớp háng. | ~90% trẻ Bắc Mỹ được quấn; +61% nhu cầu khăn quấn ở Anh 2010/2011; Thổ Nhĩ Kỳ: 88% nhóm nghiên cứu được quấn | Tổng quan | Bài quan điểm chuyên gia · Không áp dụng | Clarke, 2014 |
| b2-066 | Theo Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (LSAHV) 2018, mẫu đại diện quốc gia, người ≥ 60 tuổi tự báo cáo ngủ trung bình 5,36 giờ/đêm; nam 5,52 giờ, nữ 5,23 giờ; giảm theo tuổi: 5,51 giờ (60–69), 5,15 giờ (70–79), 5,02 giờ (≥ 80). | 5,36 giờ/đêm (n = 5.009); nam 5,52; nữ 5,23; 80+ 5,02 giờ | Người | Khảo sát hộ gia đình đại diện quốc gia (đợt nền 2018); thời lượng ngủ tự báo cáo (câu hỏi số giờ ngủ trung bình mỗi đêm), không đo khách quan · n = 6.050 người ≥ 60 tuổi (câu hỏi thời lượng ngủ n = 5.009) | Chen và Saito, 2020 |
| b2-067 | LSAHV 2018: 56,5% người cao tuổi Việt Nam hài lòng với giấc ngủ (nam 61,6%, nữ 52,4%; nhóm ≥ 80 tuổi chỉ 45,0%); khoảng một phần tư "thường xuyên" khó vào giấc (26,1%), thức giấc ban đêm (27,4%) hoặc dậy quá sớm không ngủ lại được (24,4%). | Hài lòng 56,5%; khó vào giấc thường xuyên 26,1%; thức đêm 27,4%; dậy sớm 24,4%; thường xuyên thấy khoẻ khi dậy 37,8% | Người | Khảo sát đại diện quốc gia; 4 câu hỏi triệu chứng mất ngủ thang 4 mức (hầu hết thời gian → không bao giờ), tự báo cáo · n ≈ 5.200–5.337 tuỳ câu | Chen và Saito, 2020 |
| b2-068 | LSAHV 2018: 8,1% người cao tuổi Việt Nam đã dùng thuốc hoặc biện pháp khác để dễ ngủ trong 2 tuần qua (nam 6,9%, nữ 9,1%). | 8,1% (n = 6.031) | Người | Khảo sát đại diện quốc gia, tự báo cáo; câu hỏi gộp thuốc và "biện pháp khác", không tách loại thuốc · n = 6.031 | Chen và Saito, 2020 |
| b2-069 | LSAHV 2018: 34,6% người cao tuổi Việt Nam ngủ trưa đều đặn (nam 42,9%, nữ 28,4%), mỗi giấc trung bình 58,89 phút; nhóm ≥ 80 tuổi ngủ trưa dài nhất (67,18 phút). | Ngủ trưa đều đặn 34,6%; 58,89 phút; ≥ 80 tuổi 67,18 phút | Người | Khảo sát đại diện quốc gia, tự báo cáo · n = 6.036 (độ dài giấc trưa n = 4.119) | Chen và Saito, 2020 |
| b2-070 | LSAHV 2018: 61,3% người ≥ 60 tuổi ở Việt Nam sống cùng ít nhất một người con, 19,4% chỉ sống với vợ/chồng và 8,6% sống một mình (nữ 11,6%, nam 4,4%); quy mô hộ trung bình 3,87 người. | Sống với con 61,3%; chỉ với vợ/chồng 19,4%; một mình 8,6%; hộ trung bình 3,87 người | Người | Khảo sát hộ gia đình đại diện quốc gia, đợt nền 2018 · 6.050 người cao tuổi; 23.409 thành viên hộ | Tran và cs., 2020 |
| b2-074 | Khảo sát 170 cha mẹ có con dưới 6 tháng (Hàn Quốc, công bố 2006): 4,7% cho trẻ nằm sấp, 7,1% nằm nghiêng, 45,3% nằm ngửa, 34,7% nghiêng hoặc ngửa; chỉ 6% được bác sĩ nhi tư vấn về tư thế ngủ. | Sấp 4,7%; nghiêng 7,1%; ngửa 45,3%; được tư vấn 6% | Người | Cắt ngang, bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp · n = 170 cha mẹ | Lee và cs., 2006 (tóm tắt) |
| b2-075 | Khuyến nghị số 15 của AAP 2022 (mức C): không có bằng chứng để khuyến nghị quấn chặt như biện pháp giảm SIDS; khăn quấn có trọng lượng hoặc đặt vật nặng trong khăn quấn không an toàn. Khi trẻ có dấu hiệu tập lật (thường 3–4 tháng, có thể sớm hơn) thì không nên quấn nữa vì có thể tăng nguy cơ ngạt. | Dừng quấn khi trẻ tập lật, thường 3–4 tháng; mức khuyến nghị C | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố chính sách AAP, phân mức khuyến nghị A–C · Không áp dụng | Moon và cs., 2022b |
| b2-076 | AAP 2022 khuyến nghị (mức A) cho trẻ ngậm núm vú giả khi ngủ trưa và ngủ đêm để giảm nguy cơ SIDS; ngủ chung phòng không chung giường được khuyến nghị, lý tưởng ít nhất 6 tháng đầu, và chưa có bằng chứng cụ thể về thời điểm an toàn để chuyển trẻ sang phòng riêng trước 1 tuổi. | Mức A; chung phòng lý tưởng ≥ 6 tháng | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố chính sách AAP · Không áp dụng | Moon và cs., 2022b |
| b2-077 | Khuyến nghị 2 của AAP 2022 (mức A, bề mặt ngủ chắc, phẳng, không nghiêng), mục 2g: võng, sản phẩm ngủ nghiêng, hộp giấy, nôi đặt trong giường không đạt tiêu chuẩn an toàn liên bang nên nhiều khả năng không an toàn cho trẻ ngủ; bề mặt nghiêng quá 10 độ là không an toàn (mục 2a). Ghế ô tô, xe đẩy, xích đu, địu không được khuyến nghị làm chỗ ngủ thường xuyên (mục 2l). | Nghiêng > 10 độ không an toàn; khuyến nghị 2 mức A (mục 2g không có mức riêng) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố chính sách AAP · Không áp dụng | Moon và cs., 2022b |
| b2-080 | Theo thông cáo báo chí của Mayo Clinic về một nghiên cứu ở 10 cặp vợ chồng (người chồng ngáy), 43% số lần vi thức giấc (arousal) của người vợ liên quan tiếng ngáy của chồng. Sau khi chồng dùng máy thở áp lực dương liên tục (CPAP), vi thức giấc của vợ giảm 39% (so sánh trước–sau, không nhóm chứng) và phần trăm thời gian vợ ngủ tăng từ 74% lên 87%. | 43% vi thức giấc liên quan tiếng ngáy; giảm 39%; thời gian ngủ 74% → 87% (thêm hơn 1 giờ ngủ/đêm theo thông cáo) | Người | PSG đồng thời bệnh nhân và vợ; so sánh trước–sau CPAP, không nhóm chứng · n = 10 cặp | Mayo Clinic, 1999 (tóm tắt) |
| b2-084 | Theo bài viết của Wendy Troxel (RAND) trên trang Hội Nghiên cứu Giấc ngủ Mỹ (SRS), dẫn Meadows và cộng sự 2009, có tới 30% chất lượng giấc ngủ của một người chịu ảnh hưởng bởi giấc ngủ của bạn đời. | Tới 30% | Tổng quan | Bài tổng quan phổ thông dẫn nghiên cứu actigraphy cặp đôi (Meadows 2009, Chronobiology International) · Không nêu | Troxel, 2024 |
Viết tắt trong trang
- AAP
- Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
- ABM
- Viện Hàn lâm Y học Nuôi con bằng Sữa mẹ (Academy of Breastfeeding Medicine)
- AHRQ
- Cơ quan Nghiên cứu và Chất lượng Y tế Mỹ (Agency for Healthcare Research and Quality)
- aOR
- tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
- CPAP
- thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure)
- CPSC
- Uỷ ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Mỹ (Consumer Product Safety Commission)
- ESS
- thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- LSAHV
- Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam)
- MHLW
- Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (Ministry of Health, Labour and Welfare)
- NIH
- Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- SIDS
- hội chứng đột tử trẻ sơ sinh (sudden infant death syndrome)
- SUDI
- đột tử bất ngờ ở trẻ (sudden unexpected death in infancy)
- SUID
- đột tử bất ngờ ở trẻ nhũ nhi (sudden unexpected infant death)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục B. Dữ kiện: ngủ chung và gia đình. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/phu-luc-b-du-kien-b2/