Phụ lục này liệt kê toàn bộ 85 dữ kiện của nhánh Ngủ trưa, giờ giấc và thời lượng ngủ đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, chế phẩm và nhóm chứng, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b1-001) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương.
Dùng ở chương: Ngủ trưa: ai ngủ, ngủ bao lâu, và giấc ngắn làm gì#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-001 | Trong mẫu người cao tuổi sống tại cộng đồng ở Việt Nam, khoảng hai phần ba có ngủ trưa đều đặn hoặc khi cần. | ≈ 2/3 người cao tuổi có ngủ trưa (đều đặn hoặc khi cần) | Người | Thuần tập dọc Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam (LSAHV) 2018–2023; ngủ trưa tự báo cáo, phân nhóm theo tần suất (đều đặn / khi cần) và độ dài (<30, 30–59, ≥60 phút); giấc ngủ đêm theo khung SATED · n = 4.447 người cao tuổi; tuổi trung bình 69,74; 55,5% nữ | Chen và cs., 2026 (tóm tắt) |
| b1-006 | Thói quen ngủ trưa có thành phần di truyền: nghiên cứu liên kết toàn bộ hệ gen (genome-wide association study, GWAS) tìm thấy 123 vùng gen liên quan tần suất ngủ trưa tự báo cáo. | 123 locus; 61 locus lặp lại ở 23andMe; mỗi bậc tăng tần suất ngủ trưa theo điểm đa gen đi kèm thêm 18,9 phút bất động ban ngày đo bằng gia tốc kế (KTC 95% 13,6–24,2) | Người | GWAS trên UK Biobank (ngủ trưa tự báo cáo: không bao giờ/hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên), lặp lại ở 23andMe; kiểm tra bằng gia tốc kế cổ tay ở 85.499 người · UK Biobank n = 452.633; 23andMe n = 541.333; người gốc châu Âu | Dashti và cs., 2021 |
| b1-008 | Trong UK Biobank, phần lớn người trung niên Anh hiếm khi ngủ trưa, chỉ khoảng 5% ngủ trưa thường xuyên — thấp hơn nhiều so với 34,6% ngủ trưa đều đặn ở người cao tuổi Việt Nam (LSAHV 2018), dù khác tuổi và cách hỏi. | UK Biobank: 38,2% thỉnh thoảng, 5,3% thường xuyên; 23andMe: 43,0% thỉnh thoảng, 7,6% thường xuyên | Người | Câu hỏi tự báo cáo tần suất ngủ trưa · UK Biobank n = 452.633 (40–69 tuổi); 23andMe n = 541.333 | Dashti và cs., 2021 |
| b1-016 | Quán tính giấc ngủ (sleep inertia) — trạng thái lơ mơ, giảm hiệu suất ngay sau khi thức dậy — mạnh nhất trong khoảng 30 phút đầu; hiệu suất thường trở về mức trước khi ngủ trong 15–30 phút nhưng hồi phục hoàn toàn cần ít nhất 1 giờ. | Phần lớn ảnh hưởng trong 15–30 phút đầu; hồi phục hoàn toàn ≥ 60 phút; một nghiên cứu: suy giảm làm tính đến 3,5 giờ; ngay khi thức, suy giảm có thể ngang hoặc hơn thức trắng tới 40 giờ | Tổng quan | Tổng quan tường thuật các nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm · Không áp dụng | Hilditch và McHill, 2019 |
| b1-017 | Giấc ngủ trưa từ 30 phút trở xuống ít gây quán tính giấc ngủ hơn, một phần vì giấc ngủ sóng chậm thường bắt đầu khoảng 30 phút sau khi ngủ; tuy vậy mối liên hệ giữa ngủ sâu và quán tính không nhất quán. | Ngưỡng ~30 phút (giấc ngủ sóng chậm thường bắt đầu sau ~30 phút); Stampi: thức từ giấc ngủ sóng chậm hiệu suất thấp hơn 41% so với trước ngủ; Lovato: dù 91% người tham gia thức dậy từ giấc ngủ sóng chậm, không quan sát thấy suy giảm hiệu suất sau giấc ngủ trưa trong ca đêm mô phỏng | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Hilditch và McHill, 2019 |
| b1-018 | Sau một đêm ngủ chỉ khoảng 5 giờ, giấc ngủ trưa 10 phút lúc 15 giờ cải thiện ngay mọi chỉ số đo (độ trễ vào giấc, buồn ngủ, mệt mỏi, hiệu suất nhận thức), một số lợi ích kéo dài tới 155 phút; giấc 5 phút gần như không có lợi. | 10 phút: cải thiện ngay, một số lợi ích kéo dài đến 155 phút; 20 phút: cải thiện xuất hiện sau ~35 phút, kéo dài đến 125 phút; 5 phút: ít lợi ích so với không ngủ trưa | Người | Thực nghiệm lặp lại trên cùng người, 5 điều kiện (không ngủ trưa; ngủ 5, 10, 20, 30 phút), giấc ngủ trưa đo bằng điện não (EEG); ngủ đêm hạn chế ~5 giờ tại nhà; kết cục: độ trễ vào giấc, buồn ngủ chủ quan, mệt mỏi, hiệu suất nhận thức trong 3 giờ · n = 24 người trẻ khoẻ, ngủ tốt, không có thói quen ngủ trưa (Úc) | Brooks và Lack, 2006 (tóm tắt) |
| b1-019 | Trong cùng thử nghiệm, giấc ngủ trưa 30 phút gây giảm tỉnh táo và hiệu suất ngay sau khi dậy (quán tính giấc ngủ), sau đó mới cải thiện. | 30 phút: suy giảm ngay sau thức, rồi cải thiện kéo dài đến 155 phút | Người | Như trên · n = 24 | Brooks và Lack, 2006 (tóm tắt) |
| b1-020 | Phân tích gộp 11 nghiên cứu có nhóm chứng cho thấy ngủ trưa đi kèm hiệu suất nhận thức tốt hơn ở mức nhỏ, rõ nhất ở độ tỉnh táo; trí nhớ không khác có ý nghĩa. | Tổng thể cỡ hiệu ứng (effect size, ES) 0,18 (KTC 95% 0,09–0,27; I² 4,3%); tỉnh táo 0,29 (0,10–0,48); chức năng điều hành 0,23 (0,00–0,47); trí nhớ 0,11 (−0,01–0,24) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 11 nghiên cứu (6 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT), 5 có nhóm chứng không ngẫu nhiên; 2 thiết kế chéo), hầu hết trong phòng thí nghiệm; độ dài ngủ trưa trung bình 55,4 ± 29,4 phút (15–90 phút) · 381 người (209 ngủ trưa, 188 chứng; SL tổng hai nhóm vượt 381 có thể do 2 thiết kế chéo); tuổi trung bình ~30–34 | Dutheil và cs., 2021 |
| b1-021 | Gần như toàn bộ bằng chứng về lợi ích nhận thức của ngủ trưa đến từ phòng thí nghiệm; chính nhóm tác giả cho rằng cần thêm nghiên cứu trong điều kiện làm việc thật trước khi áp dụng ngủ trưa tại nơi làm việc. | Cả 11 nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm; 1 nghiên cứu có thêm phân nhóm trong điều kiện làm việc thật (bác sĩ nội trú năm nhất) | Tổng quan | Như trên · 381 người | Dutheil và cs., 2021 |
| b1-026 | Hướng dẫn Nhật 2023 khuyên người cao tuổi tránh ngủ trưa dài vì cản trở giấc ngủ đêm, dẫn dữ liệu ngủ trưa từ 30 phút trở lên đi kèm nguy cơ tử vong cao gấp 1,27 lần; với trẻ khó ngủ buổi tối, tránh ngủ trưa có thể tốt hơn. | Ngủ trưa ≥ 30 phút: nguy cơ tử vong ×1,27 (dữ liệu dẫn trong hướng dẫn); nhu cầu ngủ trưa của trẻ giảm sau 4–5 tuổi | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn quốc gia · Không áp dụng | Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật, 2024 |
| b1-028 | Ở một xã nông thôn Hoà Bình, 40% người cao tuổi ngủ trưa trên 30 phút mỗi ngày. | Ngủ trưa > 30 phút/ngày: 40,0% (102/255); ≤ 30 phút: 60,0% | Người | Cắt ngang, chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống; ngủ trưa tự báo cáo; mất ngủ đo bằng Insomnia Severity Index (ISI) bản tiếng Việt, ngưỡng ≥ 10 · n = 255 người ≥ 60 tuổi (tuổi trung bình 68 ± 7), xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, Hoà Bình, 2024 | Tran Thi Hai Anh và Hoang Thi Xuan Huong, 2024 |
| b1-029 | Trong cùng nghiên cứu ở Hoà Bình, ngủ trưa trên 30 phút đi kèm mất ngủ (ISI ≥ 10) với tỉ số chênh hiệu chỉnh khoảng 3,9. | OR hiệu chỉnh 3,9 (bài không nêu KTC 95%); tỉ lệ mất ngủ chung 77,3% | Người | Cắt ngang; hồi quy logistic đa biến; ISI tự báo cáo · n = 255 | Tran Thi Hai Anh và Hoang Thi Xuan Huong, 2024 |
| b1-030 | Một tổng quan hệ thống tổng hợp tỉ lệ ngủ trưa ở người cao tuổi từ các nghiên cứu khác: khoảng 55% ở Trung Quốc, 40–53% ở Mỹ và chỉ 25,8% ngủ trưa đều đặn ở Nhật. | Nhật: 25,8% người ≥ 60 tuổi ngủ trưa đều đặn (≥ 4 ngày/tuần); Trung Quốc: ~50% trung niên, ~55% cao tuổi; Mỹ (NIH-AARP): 40,3–52,6% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống PRISMA (PROSPERO CRD42022299805) gồm 15 thử nghiệm ngủ trưa ở người cao tuổi (đo bằng đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG), EEG, actigraphy); các tỉ lệ trên được dẫn từ nghiên cứu dịch tễ khác trong phần mở đầu · 15 nghiên cứu, 326 người 60–78 tuổi (Mỹ, Canada, Nhật, Đức, Israel) | Souabni và cs., 2022 |
| b1-034 | Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) ở Chennai (Ấn Độ), cho người lao động ngủ trưa 30 phút mỗi ngày tại nơi làm việc yên tĩnh làm năng suất tăng 2,3% và thu nhập tăng so với nhóm không được ngủ trưa; giấc ngủ trưa có hiệu quả giấc ngủ cao hơn giấc ngủ đêm ở nhà. | Năng suất +2,3%; thu nhập/ngày +4,1% so với chỉ nghỉ giải lao; hiệu quả giấc ngủ: ngủ trưa 85% so với đêm 66% | Người | RCT; nhánh ngủ trưa 30 phút/ngày trong phòng riêng yên tĩnh, so với nghỉ giải lao · Một phân nhóm ngẫu nhiên trong n = 452 | Bessone và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-035 | Trái với kỳ vọng, tăng thêm khoảng 27 phút ngủ đêm không cải thiện được nhận thức, năng suất, ra quyết định hay sức khoẻ tinh thần ở người lao động Chennai, trong khi giấc ngủ trưa thì có. | Ngủ đêm +27 phút: không phát hiện hiệu quả lên nhận thức, năng suất, quyết định, an sinh; lao động và thu nhập giảm nhẹ | Người | RCT như trên · n = 452 | Bessone và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-036 | Trong mẫu đa trung tâm người Hán từ 60 tuổi ở 7 thành phố Trung Quốc, khoảng 69% có ngủ trưa. | 1.534/2.214 người ngủ trưa (~69,3%) | Người | Cắt ngang; ngủ trưa tự báo cáo (5 phút đến 2 giờ sau bữa trưa), 4 mức tần suất · n = 2.214 người ≥ 60 tuổi tại Thượng Hải, Bắc Kinh, Hợp Phì, Nam Xương, Ninh Ba, Tây An, Hàng Châu (2011–2012) | Cai và cs., 2021 |
| b1-048 | Trong mẫu quốc gia CHARLS của Trung Quốc, khoảng một nửa người từ 45 tuổi có ngủ trưa, và khoảng 1/7 ngủ trưa từ 60 phút trở lên. | Không ngủ trưa 46,8%; ngủ trưa ≥ 60 phút 14,1% (số đếm Bảng 1: 7.272 / 2.612 / 3.440 / 2.200 người cho 0, 0–< 30, 30–< 60, ≥ 60 phút) | Người | Thuần tập quốc gia China Health and Retirement Longitudinal Study (CHARLS); ngủ trưa sau bữa trưa tự báo cáo (phút) · n = 15.524 người ≥ 45 tuổi, 28 tỉnh; tuổi trung bình 59 | Wang và cs., 2023a |
| b1-060 | Trong thực nghiệm đo bằng đa ký giấc ngủ, một giấc ngủ trưa ở người 55–85 tuổi khoẻ mạnh hầu như không ảnh hưởng đến chất lượng hay thời lượng giấc ngủ đêm sau đó, làm tăng tổng ngủ 24 giờ và cải thiện hiệu suất nhận thức. | Ảnh hưởng không đáng kể lên giấc ngủ đêm; tổng ngủ 24 giờ tăng có ý nghĩa (tóm tắt không nêu số phút) | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, hai phiên trên cùng người (có/không ngủ trưa); đa ký giấc ngủ (PSG); trắc nghiệm nhận thức và tâm vận động · n = 32 người khoẻ 55–85 tuổi (Mỹ) | Campbell và cs., 2005 (tóm tắt) |
| b1-061 | Trong mẫu CHARLS người trên 60 tuổi có đủ 4 đợt dữ liệu, chỉ 16,7% không ngủ trưa; bài báo xếp 45,7% vào nhóm ngủ trưa "dài" (trên 90 phút). | Không ngủ trưa 16,7%; ngắn (≤ 30 phút) 25,6%; vừa (30–90 phút) 12,0%; dài (> 90 phút) 45,7% | Người | Thuần tập CHARLS 2011–2018 (4 đợt); ngủ trưa tự báo cáo (phút/ngày); điểm nhận thức tổng (0–32) · n = 4.024 người > 60 tuổi | Li và Yan, 2022 |
| b1-064 | Ở người cao tuổi Nhật, nhóm ngủ trưa trên 30 phút có hiệu quả giấc ngủ đêm (đo bằng actigraphy) thấp hơn nhóm ngủ trưa dưới 30 phút và nhóm không ngủ trưa. | Hiệu quả giấc ngủ đêm: nhóm < 30 phút cao hơn nhóm > 31 phút (p = 0,0164); nhóm không ngủ trưa cao hơn nhóm > 31 phút (p = 0,005); cỡ nhóm 31/41/27 người (nhãn nhóm không đọc chắc chắn được) | Người | Quan sát cắt ngang; giấc ngủ đêm và ngủ trưa đo bằng actigraphy (Actiwatch-L) · n = 99 người cao tuổi (tuổi trung bình 73,9), Nhật | Saito và Matsuda, 2013 |
| b1-069 | Khảo sát dân số chung toàn Nhật năm 2007 cho thấy khoảng 1/5 nam và 1/6 nữ ngủ trưa từ 4 ngày/tuần trở lên; rất ít người ngủ trưa từ 2 giờ trở lên. | Ngủ trưa ≥ 4 ngày/tuần: nam 21,2%, nữ 17,1%; ngủ trưa ≥ 2 giờ/lần: nam 2,9%, nữ 2,6% | Người | Khảo sát cắt ngang chọn ngẫu nhiên từ 300 khu vực toàn Nhật (11/2007); ngủ trưa tự báo cáo · n = 7.664 (3.527 nam, 4.137 nữ), 20–99 tuổi | Furihata và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-070 | Ở người Nhật, ngủ trưa thường xuyên (≥ 4 ngày/tuần) đi kèm nam giới, tuổi cao, hút thuốc, triệu chứng mất ngủ, ngủ đêm dài, buồn ngủ ban ngày quá mức và cả cảm giác được nghỉ ngơi đủ nhờ giấc ngủ; uống rượu đi kèm ít ngủ trưa hơn. | Liên quan dương: nam, tuổi cao, hút thuốc, triệu chứng mất ngủ, ngủ dài, buồn ngủ ban ngày quá mức, nghỉ ngơi đủ nhờ giấc ngủ; liên quan âm: uống rượu (tóm tắt không nêu OR). Ngủ trưa dài (≥ 2 giờ): liên quan âm với tuổi cao; dương với sống ở đô thị lớn, hút thuốc, ngủ dài, buồn ngủ ban ngày, căng thẳng tâm lý | Người | Như trên; hồi quy logistic · n = 7.664 | Furihata và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-072 | Ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo tại TP.HCM, ngủ trưa đi kèm mất ngủ với tỉ số chênh khoảng 2,1; gần một nửa bệnh nhân mất ngủ. | Ngủ trưa: OR 2,122 (KTC 95% 1,159–3,885); mất ngủ 48,1% | Người | Cắt ngang; mất ngủ chẩn đoán theo tiêu chuẩn DSM-5 qua phỏng vấn lâm sàng chuẩn hoá do 2 bác sĩ tâm thần thực hiện; ngủ trưa (ngủ hoặc chợp mắt ban ngày) tự báo cáo qua bảng hỏi cấu trúc, không ghi độ dài · n = 216 bệnh nhân chạy thận, Bệnh viện Quân y 175, TP.HCM | Tran và cs., 2025 |
| b1-073 | Ở bà mẹ cho con bú tại TP.HCM, thời lượng giấc ngủ ngắn ban ngày và tổng thời gian ngủ ghi bằng Fitbit chỉ tương quan yếu với phỏng vấn tự báo cáo — SL gợi ý số liệu giấc ngủ ngắn ban ngày tự kể ở nhóm này có độ tin cậy hạn chế. | Giấc ngủ ngắn ban ngày: r = 0,25; tổng thời gian ngủ: r = 0,28; điểm ngủ Fitbit với hài lòng giấc ngủ: đồng thuận 79,9%, kappa 0,02 | Người | Cắt ngang; Fitbit Charge 6 đeo 4 ngày 3 đêm, sau đó phỏng vấn bảng hỏi có cấu trúc · n = 208 bà mẹ cho con bú 1 tháng sau sinh, TP.HCM | Vo và cs., 2026 (tóm tắt) |
| b1-076 | Trong phân tích gộp, lợi ích nhận thức sau ngủ trưa vẫn còn khi đo lại hơn 2 giờ sau khi thức dậy; lợi ích không phụ thuộc tuổi, giới hay độ dài giấc ngủ trưa. | ES đo < 30 phút sau ngủ: 0,22 (0,03–0,42); 61–120 phút: 0,28 (0,09–0,48); > 120 phút: 0,20 (0,04–0,37) | Tổng quan | Phân tích gộp 11 nghiên cứu (như trên); phân nhóm theo thời điểm đo sau ngủ trưa; hồi quy meta · 381 người | Dutheil và cs., 2021 |
| b1-077 | Trong khảo sát đại diện quốc gia người từ 60 tuổi ở Philippines (LSAHP 2018), 35,7% ngủ trưa đều đặn và khoảng 1/4 ngủ trưa từ 60 phút trở lên. | Ngủ trưa đều đặn 35,7%; 1–59 phút 10,5%; ≥ 60 phút 25,2% | Người | Cắt ngang, đại diện quốc gia (Longitudinal Study on Ageing and Health in the Philippines, LSAHP 2018); tần suất và độ dài ngủ trưa tự báo cáo · n = 5.209 người ≥ 60 tuổi (phân tích), từ 5.985 người của LSAHP 2018 | Pengpid và Peltzer, 2024 (tóm tắt) |
| b1-078 | Ở người cao tuổi Philippines, ngủ trưa dài đi kèm tuổi cao hơn, giàu hơn, sống ở thành thị và hạn chế hoạt động hằng ngày; người còn đi làm ít ngủ trưa dài hơn. | Liên quan dương: tuổi, giàu, thành thị, hạn chế hoạt động hằng ngày, vận động thể lực; liên quan âm: đang đi làm, tự đánh giá sức khoẻ kém, uống rượu (tóm tắt không nêu OR) | Người | Như trên; hồi quy đa biến · n = 5.209 | Pengpid và Peltzer, 2024 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Ngủ trưa dài và sức khoẻ: tử vong, tim mạch, chuyển hoá, nhận thức#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-002 | Ở người cao tuổi Việt Nam, ngủ trưa dài đều đặn đi kèm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn trong 4 năm theo dõi, dù ngủ trưa là thói quen phổ biến. | 514 ca tử vong (12%) sau 4 năm; ngủ trưa dài (≥ 60 phút) đều đặn: OR 1,39 (KTC 95% 1,05–1,86) so với không ngủ trưa; ngủ trưa ngắn hoặc trung bình (đều đặn hay khi cần) không khác nhóm không ngủ trưa; tương tác ngủ trưa dài khi cần × sức khoẻ giấc ngủ đêm kém: OR 1,32 (1,01–1,72) | Người | Thuần tập tiến cứu LSAHV 2018–2023; phơi nhiễm ngủ trưa tự báo cáo (tần suất × độ dài); kết cục tử vong mọi nguyên nhân sau 4 năm; hồi quy logistic hiệu chỉnh sức khoẻ giấc ngủ đêm (SATED) và các đồng biến (tóm tắt không liệt kê) · n = 4.447; 514 ca tử vong | Chen và cs., 2026 (tóm tắt) |
| b1-007 | Phân tích ngẫu nhiên hoá Mendel (Mendelian randomization, MR) gợi ý ngủ trưa thường xuyên hơn có thể là nguyên nhân làm huyết áp và vòng eo cao hơn. | Mỗi bậc tăng tần suất ngủ trưa: huyết áp tâm trương +0,25 SD (KTC 95% 0,15–0,34); tâm thu +0,18 SD (0,09–0,27); vòng eo +0,28 SD (0,11–0,45) | Người | MR hai mẫu dùng biến thể gen ngủ trưa làm công cụ; kết cục từ các nghiên cứu GWAS lớn · Công cụ từ UK Biobank n = 452.633 | Dashti và cs., 2021 |
| b1-011 | Phân tích gộp 21 thuần tập cho thấy người có ngủ trưa đi kèm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn người không ngủ trưa; mối liên quan nằm ở nhóm ngủ trưa từ 1 giờ trở lên. | Mọi nguyên nhân: có ngủ trưa HR 1,28 (KTC 95% 1,18–1,38); < 1 giờ HR 1,00 (0,90–1,11); ≥ 1 giờ HR 1,22 (1,12–1,33) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 21 thuần tập (hiệu ứng ngẫu nhiên DerSimonian–Laird); ngủ trưa tự báo cáo; I² = 38,8% (có ngủ trưa), 62,6% (< 1 giờ), 40,0% (≥ 1 giờ) · 371.306 người (phần Kết quả ghi 374.306) | Wang và cs., 2024a |
| b1-012 | Trong cùng phân tích gộp, ngủ trưa từ 1 giờ trở lên đi kèm nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn khoảng 37%, còn ngủ trưa dưới 1 giờ không có liên quan. | Bệnh tim mạch: có ngủ trưa HR 1,18 (1,02–1,38); < 1 giờ HR 1,03 (0,87–1,12); ≥ 1 giờ HR 1,37 (1,09–1,71); I² 68–88% | Tổng quan | Như trên · 21 thuần tập | Wang và cs., 2024a |
| b1-013 | Theo bản tin Healio thuật lại một tóm tắt phân tích gộp trình bày tại Hội nghị Tim mạch châu Âu 2020, ngủ trưa trên 1 giờ đi kèm nguy cơ bệnh tim mạch và tử vong cao hơn; ngủ trưa nói chung và ngủ trưa ngắn không liên quan có ý nghĩa với bệnh tim mạch. Với bệnh tim mạch, đường liều–đáp ứng có dạng chữ J (giảm từ 0 đến khoảng 25 phút rồi tăng); với tử vong mọi nguyên nhân, quan hệ được mô tả là tuyến tính. | Ngủ trưa > 1 giờ: bệnh tim mạch HR 1,34 (1,05–1,63); tử vong HR 1,30 (1,12–1,47); 38,9% người tham gia có ngủ trưa | Tổng quan | Phân tích gộp 20 thuần tập tiến cứu; ngủ trưa tự báo cáo · 313.651 người, ~58% nữ | Pan và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-014 | Phân tích gộp liều–đáp ứng cho thấy ngủ trưa dài (≥ 60 phút/ngày) đi kèm nguy cơ đái tháo đường típ 2 cao hơn 46%, còn ngủ trưa dưới 60 phút không có liên quan. | Ngủ trưa dài OR 1,46 (KTC 95% 1,23–1,74); ngủ trưa ngắn OR 0,96 (0,75–1,23); buồn ngủ ban ngày quá mức OR 2,00 (1,58–2,53) | Tổng quan | Phân tích gộp liều–đáp ứng 10 nghiên cứu (14 thuần tập); ngủ trưa tự báo cáo; I² = 89% (ngủ trưa dài), 96% (ngủ trưa ngắn) · 288.883 người; 4 nghiên cứu từ Trung Quốc, còn lại Mỹ, Thuỵ Điển, Đức, Tây Ban Nha, Phần Lan | Yamada và cs., 2016 |
| b1-015 | Đường liều–đáp ứng: nguy cơ đái tháo đường giảm nhẹ từ 0 đến 30 phút ngủ trưa, gần như phẳng đến khoảng 40 phút, rồi tăng mạnh; ngủ trưa 90 phút đi kèm nguy cơ cao hơn tới khoảng 50%. Hội chứng chuyển hoá có hình dạng tương tự. | Ngưỡng ~40 phút/ngày; ~90 phút: nguy cơ tăng tới ~50%; hội chứng chuyển hoá: ngủ trưa dài OR 1,19 (1,09–1,31), ngắn OR 0,98 (0,89–1,07) | Tổng quan | Hồi quy liều–đáp ứng phi tuyến trên các nghiên cứu như trên · 288.883 người | Yamada và cs., 2016 |
| b1-022 | Trong thuần tập Kim Đàn (Jintan, Trung Quốc), học sinh lớp 4–6 ngủ trưa thường xuyên đi kèm mức hạnh phúc, sự bền bỉ (grit), tự chủ, IQ ngôn ngữ và kết quả học tập cao hơn; không thấy liên quan với IQ thực hành và chỉ số chuyển hoá. | Liên quan dương với hạnh phúc, grit, tự chủ, IQ ngôn ngữ, thành tích học tập; không liên quan với IQ thực hành, BMI/đường huyết (tóm tắt không nêu cỡ hiệu ứng) | Người | Cắt ngang trong thuần tập China Jintan Cohort; tần suất và độ dài ngủ trưa mỗi tuần tự báo cáo (2011); hành vi và học lực do giáo viên đánh giá; hiệu chỉnh giới, khối lớp, vị trí trường, học vấn cha mẹ, thời gian nằm giường ban đêm · n = 3.819 học sinh lớp 4–6 | Liu và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b1-037 | Người cao tuổi Trung Quốc có ngủ trưa đạt điểm MMSE cao hơn và tốt hơn ở định hướng, ngôn ngữ, trí nhớ so với người không ngủ trưa; triglycerid cao hơn nhưng vẫn trong giới hạn bình thường. | Khác biệt định hướng/ngôn ngữ MMSE và định hướng MoCA p < 0,01; nhớ dãy số F = 6,80 (p = 0,009); lưu loát ngôn ngữ F = 5,40 (p = 0,020); triglycerid F = 7,307 (p = 0,001) | Người | Cắt ngang; thang Đánh giá Nhận thức Montreal (Montreal Cognitive Assessment, MoCA) bản Bắc Kinh, MMSE, bộ trắc nghiệm thần kinh tâm lý (NTB); hồi quy hiệu chỉnh giới, tuổi, học vấn, đái tháo đường, tăng huyết áp; ngủ trưa và ngủ đêm tự báo cáo · n = 2.214; xét nghiệm máu 739 người (chỉ ở Thượng Hải) | Cai và cs., 2021 |
| b1-038 | Trong thuần tập Rush Memory and Aging, thời gian ngủ trưa đo bằng thiết bị tăng dần theo tuổi, và tăng nhanh hơn rõ rệt sau khi người cao tuổi được chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ hoặc Alzheimer. | Mức tăng thời lượng ngủ trưa hằng ngày mỗi năm: nhận thức bình thường 11,31 ± 0,69 phút/năm; sau chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ tổng 24,66 ± 1,49 phút/năm; sau chẩn đoán Alzheimer tổng 68,35 ± 6,47 phút/năm | Người | Thuần tập tiến cứu tới 14 năm; actigraphy đeo cổ tay mỗi năm tới 14 ngày; ngủ trưa = khoảng bất động kéo dài 09:00–19:00 · n = 1.401 (tuổi trung bình 81, ~3/4 nữ), Chicago, Mỹ | Li và cs., 2022 |
| b1-039 | Người cao tuổi ngủ trưa trên 1 giờ mỗi ngày (đo bằng thiết bị) đi kèm nguy cơ mắc Alzheimer cao hơn khoảng 40% so với người ngủ trưa dưới 1 giờ. | ≥ 1 giờ/ngày: nguy cơ Alzheimer ×1,4 so với < 1 giờ/ngày; ≥ 1 lần/ngày: cao hơn 40% so với < 1 lần/ngày (không nêu KTC); mỗi 1 SD thời lượng ngủ trưa HR 1,20 (KTC 95% 1,06–1,35), tần suất HR 1,23 (1,08–1,39) | Người | Như trên · n = 1.401 | Li và cs., 2022 |
| b1-040 | Phân tích MR trên UK Biobank gợi ý thói quen ngủ trưa có thể là nguyên nhân dẫn đến tổng thể tích não lớn hơn ở mức khiêm tốn, nhưng không thấy tác động lên thể tích hồi hải mã, thời gian phản ứng hay trí nhớ thị giác. | Tổng thể tích não β = 15,80 cm³ (KTC 95% 0,25–31,34); hồi hải mã β = −0,03 cm³ (−0,13–0,06); thời gian phản ứng expβ 1,01 (1,00–1,03); trí nhớ thị giác expβ 0,99 (0,94–1,05) | Người | Mendelian randomization dùng biến thể gen ngủ trưa (từ Dashti 2021); thể tích não đo bằng MRI · Tối đa n = 378.932; tuổi trung bình 57; UK Biobank | Paz và cs., 2023 (tóm tắt) |
| b1-041 | Trong UK Biobank, người thường xuyên ngủ trưa đi kèm nguy cơ tăng huyết áp mới mắc cao hơn 12% và đột quỵ cao hơn 24% so với người không bao giờ ngủ trưa, sau khi loại người đã có bệnh lúc đầu. | Tăng huyết áp HR 1,12 (KTC 95% 1,08–1,17); đột quỵ HR 1,24 (1,10–1,39); đột quỵ thiếu máu HR 1,20 (1,05–1,36); dưới 60 tuổi: tăng huyết áp cao hơn 20% | Người | Thuần tập tiến cứu, theo dõi trung bình ~11 năm; tần suất ngủ trưa tự báo cáo (không bao giờ/hiếm, thỉnh thoảng, thường xuyên); loại người có tăng huyết áp hoặc đột quỵ lúc đầu · n = 358.451, chủ yếu trung niên gốc châu Âu | Yang và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b1-042 | Phân tích MR trong cùng nghiên cứu cho kết quả cùng chiều: mỗi bậc tăng tần suất ngủ trưa do gen đi kèm nguy cơ tăng huyết áp cao hơn khoảng 40% và đột quỵ thiếu máu cao hơn 29%. | Tăng huyết áp: OR 1,43 (1,06–1,92) (FinnGen), OR 1,40 (1,28–1,58) (UK Biobank); đột quỵ thiếu máu OR 1,29 (1,04–1,62) (MEGASTROKE) | Người | MR một mẫu và hai mẫu, 123 SNP ngủ trưa làm công cụ · UK Biobank, FinnGen, MEGASTROKE | Yang và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b1-046 | Ở người trưởng thành khoẻ mạnh trong thuần tập EPIC Hy Lạp, ngủ trưa đi kèm nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành thấp hơn, đặc biệt ở nam giới đang đi làm — ngược chiều với nhiều nghiên cứu châu Á. | Ngủ trưa bất kỳ: thấp hơn 34%; ngủ trưa có hệ thống (≥ 30 phút, ≥ 3 lần/tuần): thấp hơn 37%; nam đang đi làm: thấp hơn 64%; nam không đi làm: thấp hơn 36% | Người | Thuần tập tiến cứu EPIC-Hy Lạp, theo dõi trung bình 6,32 năm; ngủ trưa tự báo cáo (có/không, tần suất, độ dài); loại người có bệnh tim hoặc bệnh nặng lúc đầu; hiệu chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch · n = 23.681 người 20–86 tuổi; 792 tử vong, 133 do bệnh tim | Naska và cs., 2007 (tóm tắt) |
| b1-047 | Trong thuần tập JACC của Nhật, người có ngủ trưa đi kèm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn 19% và tử vong tim mạch cao hơn 31%, dù đã loại người có bệnh tim, đột quỵ, ung thư lúc đầu. | Mọi nguyên nhân HR 1,19 (1,14–1,24); tim mạch HR 1,31 (1,22–1,42); ung thư HR 1,03 (0,96–1,10); 9.643 tử vong, 2.852 do tim mạch | Người | Thuần tập tiến cứu JACC, 1988–1990 đến 2003 (879.244 người-năm); ngủ trưa tự báo cáo trong bảng hỏi lối sống; hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu (tóm tắt không liệt kê) · n = 67.129 người 40–79 tuổi không làm ca đêm (27.755 nam, 39.374 nữ) | Tanabe và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b1-049 | Trong CHARLS, chỉ ngủ trưa từ 60 phút trở lên đi kèm nguy cơ tử vong cao hơn; ngủ trưa dưới 30 phút và 30–59 phút không khác người không ngủ trưa. | ≥ 60 phút HR 1,30 (1,12–1,52); 0–< 30 phút HR 1,08 (0,92–1,26); 30–< 60 phút HR 1,14 (0,99–1,31); 1.745 tử vong; trung vị theo dõi 7,1 năm | Người | Thuần tập tiến cứu 2011–2018; Cox có hệ số chặn ngẫu nhiên theo tỉnh; hiệu chỉnh giới, tuổi, BMI, hôn nhân, vùng, học vấn, hoạt động xã hội, hút thuốc, rượu, bệnh mạn tính · n = 15.524 | Wang và cs., 2023a |
| b1-050 | Trong CHARLS, nhóm vừa ngủ trưa ≥ 60 phút vừa ngủ đêm dưới 6 giờ có nguy cơ tử vong cao nhất; ngủ đêm quá ngắn hay quá dài đều đi kèm nguy cơ cao hơn, nhưng không có tương tác cộng có ý nghĩa giữa ngủ trưa và ngủ đêm. | Ngủ trưa ≥ 60 phút + đêm < 6 giờ: HR 1,79 (1,34–2,38); + đêm ≥ 8 giờ: HR 1,58 (1,22–2,03); đêm < 6 giờ HR 1,21 (1,05–1,38); đêm ≥ 8 giờ HR 1,26 (1,10–1,44) | Người | Như trên; tham chiếu: không ngủ trưa + ngủ đêm 6–< 8 giờ; tương tác cộng đánh giá bằng RERI, AP · n = 15.524 | Wang và cs., 2023a |
| b1-058 | Ở người trưởng thành Tây Ban Nha đến phòng khám giảm cân, siesta dài (> 30 phút) đi kèm khả năng hội chứng chuyển hoá và huyết áp cao hơn so với không ngủ trưa; liên quan với béo phì ở mức xu hướng. | Siesta dài: hội chứng chuyển hoá OR 1,41 (1,07–1,86); huyết áp tâm thu ≥ 130 OR 1,35 (1,01–1,80); tâm trương ≥ 80 OR 1,54 (1,20–1,97); béo phì OR 1,23 (0,99–1,51); BMI +0,648 kg/m²; 35% có ngủ trưa (20% ngắn, 16% dài) | Người | Cắt ngang (nghiên cứu ONTIME, Murcia); siesta tự báo cáo; nhân trắc, huyết áp, xét nghiệm máu đo trực tiếp; hiệu chỉnh giới, tuổi, trung tâm, năm tuyển; phân tích trung gian · n = 3.275 người 18–65 tuổi, 78% nữ, BMI trung bình 31,1 | Vizmanos và cs., 2023 |
| b1-059 | Trong cùng nghiên cứu, siesta ngắn (≤ 30 phút) không liên quan với béo phì hay hội chứng chuyển hoá, và đi kèm khả năng huyết áp tâm thu ≥ 120 mmHg thấp hơn. | Siesta ngắn: huyết áp tâm thu ≥ 120 OR 0,79 (0,63–0,99); béo phì OR 0,90 (0,74–1,09); hội chứng chuyển hoá OR 0,98 (0,76–1,27) | Người | Như trên · n = 3.275 | Vizmanos và cs., 2023 |
| b1-062 | Trong CHARLS, người trên 60 tuổi ngủ trưa dưới 30 phút có điểm nhận thức cao hơn người không ngủ trưa trong 7 năm theo dõi; ngủ trưa vừa và dài không khác biệt có ý nghĩa. | Ngắn: β = 0,901 (KTC 95% 0,495–1,344); vừa: β = 0,327 (−0,053–0,707); dài: β = −0,032 (−0,519–0,455) điểm nhận thức (thang 0–32) | Người | Thuần tập; phương trình ước lượng tổng quát (generalized estimating equations, GEE) hiệu chỉnh tuổi, giới, học vấn, vận động, BMI, trầm cảm, thuốc hướng thần (tranquilizer), hút thuốc, rượu, thời lượng ngủ đêm, bệnh mạn tính · n = 4.024 | Li và Yan, 2022 |
| b1-063 | Một phân tích CHARLS khác theo dõi 2 năm cho thấy người ngủ trưa kéo dài (trên 90 phút) suy giảm nhận thức nhiều hơn so với người không ngủ trưa, ngủ ngắn và ngủ vừa (30–90 phút); tác giả gợi ý ngủ trưa vừa phải có thể giữ được nhận thức. | Nhóm > 90 phút có thay đổi nhận thức tổng kém hơn có ý nghĩa (tóm tắt không nêu cỡ hiệu ứng) | Người | Thuần tập CHARLS, lúc đầu và sau 2 năm; ngủ trưa tự báo cáo: 0, < 30, 30–90, > 90 phút · n = 3.037 người ≥ 60 tuổi | Li và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b1-065 | Trong nhánh Đồng Hương (Chiết Giang) của China Kadoorie Biobank, người có thói quen ngủ trưa đi kèm nguy cơ mắc đái tháo đường cao hơn 39% sau khoảng 9,4 năm, trừ phụ nữ tiền mãn kinh. | HR 1,39 (1,21–1,59); nam 1,45 (1,20–1,74); nữ 1,30 (1,05–1,59); nữ sau mãn kinh 1,41 (1,08–1,80); nữ tiền mãn kinh 1,13 (0,78–1,59); chỉ 5,11% có thói quen ngủ trưa | Người | Thuần tập tiến cứu, trung vị theo dõi 9,4 năm (488.233 người-năm); ngủ trưa thói quen tự báo cáo; hiệu chỉnh kinh tế–xã hội, lối sống, BMI, vòng eo, ngáy · n = 53.916 người 30–79 tuổi; 3.333 ca đái tháo đường mới | Wang và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-066 | Một nghiên cứu CHARLS báo ngủ trưa đi kèm nguy cơ ung thư thấp hơn, trong khi phân tích MR trong chính bài lại gợi ý chiều ngược lại (tăng nguy cơ); với chỉ 68 ca ung thư, tác giả tự nhận hiệu ứng có thể bị phóng đại. | Cox: 1–30 phút HR 0,690; > 60 phút HR 0,586 (KTC hẹp bất thường, ví dụ 0,583–0,590); MR: liên quan dương; 68 ca ung thư | Người | Thuần tập CHARLS + MR hai mẫu; ngủ trưa sau bữa trưa tự báo cáo; ung thư tự báo cáo · n = 6.166; 68 ca ung thư | Li và cs., 2025 |
| b1-067 | Trong thuần tập CoLaus (Lausanne), người ngủ trưa 1–2 lần mỗi tuần đi kèm nguy cơ biến cố tim mạch thấp hơn khoảng một nửa so với người không ngủ trưa. | 1–2 lần/tuần: HR 0,52 (KTC 95% 0,28–0,95); 6–7 lần/tuần: HR thô 1,67 (1,10–2,55), sau hiệu chỉnh HR 0,89 (0,58–1,38); 155 biến cố trong 5,3 năm | Người | Thuần tập tiến cứu, theo dõi 5,3 năm; tần suất và độ dài ngủ trưa tự báo cáo; biến cố tim mạch tử vong và không tử vong; loại người có bệnh tim mạch lúc đầu; xét thêm ngưng thở khi ngủ và buồn ngủ ban ngày · n = 3.462 người trưởng thành Thuỵ Sĩ (tuổi trung bình 57,1) | Häusler và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b1-068 | Trong CoLaus, độ dài giấc ngủ trưa không liên quan với biến cố tim mạch; điều này khác các phân tích gộp thấy nguy cơ tăng ở giấc ngủ trưa trên 60 phút. | Độ dài ngủ trưa: không liên quan (tóm tắt không nêu HR) | Người | Như trên · n = 3.462 | Häusler và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b1-083 | Phân tích gộp 25 nghiên cứu quan sát không thấy ngủ trưa liên quan rõ với nhận thức tổng quát hay trí nhớ ở người cao tuổi khi xét các nghiên cứu theo dõi dọc. | Dọc: nhận thức tổng OR 1,00 (0,85–1,18); trí nhớ OR 1,08 (0,98–1,19). Cắt ngang: nhận thức tổng OR 1,03 (1,01–1,06) theo DerSimonian–Laird nhưng 1,10 (0,99–1,20) theo HKSJ | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 25 nghiên cứu (18 cắt ngang, 7 dọc); ngủ trưa chủ yếu đo bằng bảng hỏi; theo dõi 6 tháng–11 năm; ước tính DerSimonian–Laird và Hartung–Knapp–Sidik–Jonkman · 95.719 người (cắt ngang 82.757 người > 60 tuổi; dọc 12.962 người > 64 tuổi) | Álvarez-Bueno và cs., 2022 |
| b1-084 | Cùng phân tích gộp không thể kiểm chứng giả thuyết đường cong chữ U (ngủ trưa vừa phải có lợi, dài có hại) cho nhận thức vì nhiều nghiên cứu không báo độ dài ngủ trưa. | Không có phân nhóm theo độ dài; không phân tích châu Á so với phương Tây | Tổng quan | Như trên · 25 nghiên cứu | Álvarez-Bueno và cs., 2022 |
Dùng ở chương: Giờ giấc và thời lượng ngủ ở châu Á#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-003 | Dữ liệu Fitbit cho thấy người dùng ở Singapore, Hồng Kông và Hàn Quốc ngủ ngắn hơn người dùng ở Úc và New Zealand 32–43 phút vào ngày thường. | Chênh 32–43 phút/đêm ngày thường; 22–42 phút cuối tuần | Người | Phân tích dữ liệu thiết bị đeo tiêu dùng (Fitbit), chỉ giai đoạn ngủ chính mỗi ngày, thuật toán cử động độc quyền; 1/3–1/4/2017; ANOVA ba chiều (nước, nhóm tuổi, giới) · 23.680 người dùng, 553.559 đêm; tuổi 15–80; 5 nước (Úc, New Zealand, Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc) | Ong và cs., 2019 |
| b1-004 | Tỉ lệ người dùng Fitbit ngủ đủ 7 giờ trở lên vào ngày thường ở Đông Á chỉ bằng khoảng một nửa so với Úc và New Zealand. | Ngày thường ≥ 7 giờ: Singapore 27%, Hàn Quốc 29%, Hồng Kông 34%, Úc 61%, New Zealand 66%. Cuối tuần: Singapore 51%, Hàn Quốc 52%, Hồng Kông 58%, Úc 74%, New Zealand 79% | Người | Như trên; thời lượng giai đoạn ngủ chính đo bằng Fitbit (không ghi được giấc ngủ trưa dưới 1 giờ) · 23.680 người dùng, 553.559 đêm | Ong và cs., 2019 |
| b1-005 | Khác biệt thời lượng ngủ giữa Đông Á và châu Đại Dương chủ yếu do người Đông Á đi ngủ muộn hơn, trong khi giờ dậy chỉ muộn hơn một chút. Người dùng ở mọi nước đều ngủ bù cuối tuần 8–54 phút, nhưng mức chênh về ngủ bù giữa hai vùng (2–35 phút) không đủ để người Đông Á bù lại phần thiếu ngày thường. | Giờ đi ngủ ở Đông Á muộn hơn 59–84 phút (ngày thường), 54–79 phút (cuối tuần); giờ dậy muộn hơn 18–50 phút (ngày thường); kéo dài giấc ngủ cuối tuần 8–54 phút (theo nhóm tuổi và nước); chênh lệch mức ngủ bù giữa các nước trong cùng vùng 3–9 phút, giữa hai vùng 2–35 phút | Người | Như trên; giờ đi ngủ và giờ dậy theo thuật toán Fitbit · 23.680 người dùng, 553.559 đêm | Ong và cs., 2019 |
| b1-009 | Ở một trường THPT tại Đà Nẵng, phần lớn học sinh 15–17 tuổi đi ngủ trong khoảng 22–24 giờ, đỉnh quanh 23 giờ, nhiều em ngủ sau nửa đêm; 47,5% có chất lượng ngủ kém theo PSQI. | Đi ngủ chủ yếu 22:00–24:00, đỉnh ~23:00; PSQI ≥ 5: 47,5% (lớp 10: 43,4%; lớp 11: 49,6%; lớp 12: 54,4%) | Người | Cắt ngang; Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) tự báo cáo, ngưỡng ≥ 5; hồi quy logistic hiệu chỉnh giới, tập thể dục, vệ sinh giấc ngủ, áp lực học tập · n = 737 học sinh 15–17 tuổi, THPT Hoà Vang, Đà Nẵng, 4–10/2024 | Tran Danh Tien Thinh và cs., 2024 |
| b1-010 | Ở trường THPT chuyên Hoàng Lê Kha (Tây Ninh), 61,4% học sinh có chất lượng ngủ kém; là thành viên đội tuyển học sinh giỏi và lo âu vì bài vở đi kèm tỉ lệ ngủ kém cao hơn. | PSQI > 5: 61,4% (175/285); đội tuyển học sinh giỏi OR 2,50 (1,02–6,34); lo âu vì bài vở OR 2,20 (1,20–3,89); ít được giám sát OR 3,16 (1,51–6,61) | Người | Cắt ngang, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khối; PSQI tự điền; hồi quy logistic đa biến · n = 285 học sinh trường chuyên, 2–6/2023 | Tran Gia Huy và cs., 2025 |
| b1-023 | Năm 2021 Bộ Giáo dục Trung Quốc ra thông tư đặt mức ngủ tối thiểu cho học sinh và giờ đi ngủ muộn nhất theo cấp học. | Ngủ tối thiểu: tiểu học 10 giờ, THCS 9 giờ, THPT 8 giờ; đi ngủ không muộn hơn 21:20 (tiểu học), 22:00 (THCS), 23:00 (THPT); chặn trò chơi điện tử cho trẻ vị thành niên 22:00–08:00 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Văn bản chính sách; họp báo Bộ Giáo dục 2/4/2021 · Không áp dụng | Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, 2021 |
| b1-024 | Khảo sát ở 10 tỉnh/thành Trung Quốc được Bộ Giáo dục dẫn năm 2021 cho thấy học sinh tiểu học ngủ trung bình 9,5 giờ và THCS 8,4 giờ — thấp hơn mức tối thiểu mà thông tư đặt ra. | Tiểu học 9,5 giờ/ngày; THCS 8,4 giờ/ngày | Người | Khảo sát do Bộ Giáo dục dẫn; phương pháp đo không được nêu (nhiều khả năng tự báo cáo) · 10 đơn vị cấp tỉnh; cỡ mẫu không nêu | Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, 2021 |
| b1-025 | Hướng dẫn Giấc ngủ vì Sức khoẻ 2023 của Nhật khuyến nghị người trưởng thành ngủ từ 6 giờ trở lên; người cao tuổi không nên nằm giường quá 8 giờ; học sinh tiểu học 9–12 giờ, THCS–THPT 8–10 giờ. | Người lớn ≥ 6 giờ (6–8 giờ thường đủ); người cao tuổi: thời gian trên giường ≤ 8 giờ; tiểu học 9–12 giờ; THCS–THPT 8–10 giờ | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn quốc gia do Hội đồng rà soát Hướng dẫn giấc ngủ (Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản) ban hành, bản tiếng Anh · Không áp dụng | Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật, 2024 |
| b1-027 | Theo Điều tra Sức khoẻ và Dinh dưỡng Quốc gia Nhật 2019, khoảng 4 trên 10 người trưởng thành ngủ trung bình dưới 6 giờ mỗi ngày. | Ngủ < 6 giờ: nam 37,5%, nữ 40,6%; tuổi 20–59: ~35–50% ngủ < 6 giờ, ~5–12% ngủ < 5 giờ; 54,5% ngủ 6–9 giờ | Người | Điều tra quốc gia cắt ngang, thời lượng ngủ tự báo cáo (dẫn trong hướng dẫn) · Điều tra Sức khoẻ và Dinh dưỡng Quốc gia 2019 (cỡ mẫu không nêu trong phần đọc) | Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật, 2024 |
| b1-031 | Dữ liệu nhẫn Oura từ hơn 220.000 người ở 35 nước cho thấy người dùng châu Á ngủ ít hơn, đi ngủ muộn hơn và có hiệu quả giấc ngủ thấp hơn người dùng châu Âu, châu Đại Dương và Bắc Mỹ. | > 220.000 người, ~50 triệu đêm, 35 nước; trung bình 242 đêm/người; châu Á: ngủ ngắn hơn, muộn hơn, hiệu quả thấp hơn (bản tin không nêu số giờ) | Người | Phân tích dữ liệu thiết bị đeo tiêu dùng (nhẫn Oura) trong 1 năm; chủ yếu người đi làm 30–55 tuổi · > 220.000 người dùng, 35 nước | Willoughby và cs., 2023 (tóm tắt) |
| b1-032 | Trong cùng dữ liệu Oura, người dùng châu Á có mức ngủ bù cuối tuần thấp nhất, kể cả khi đã tính đến việc ngủ ngắn hơn vào ngày thường. | Kéo dài giấc ngủ cuối tuần ngắn nhất ở châu Á (bản tin không nêu phút) | Người | Như trên · > 220.000 người dùng, 35 nước | Willoughby và cs., 2023 (tóm tắt) |
| b1-033 | Ở người lao động thu nhập thấp tại Chennai (Ấn Độ), dù nằm giường khoảng 8 giờ, thời gian ngủ thực tế chỉ khoảng 5,6 giờ/đêm — giấc ngủ bị chia cắt trong nhà nóng, ồn, chật. | Nằm giường ~8 giờ; ngủ thực ~5,6 giờ (nhóm chứng 5 giờ 37 phút); can thiệp khuyến khích ngủ đêm: +27 phút ngủ, +38 phút nằm giường | Người | Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) thực địa; giấc ngủ đo bằng thiết bị đeo cổ tay (actigraphy); nhánh: thiết bị hỗ trợ ngủ + khuyến khích, + tiền thưởng theo phút ngủ, nhóm chứng nhận đồ gia dụng · n = 452 người lao động thu nhập thấp, Chennai | Bessone và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-043 | Ở sinh viên Trường Đại học Sư phạm Huế, hơn 82% định đi ngủ trước 23 giờ nhưng chưa tới 40% làm được; khoảng 6/10 đi ngủ sau 23 giờ vào ngày đi học. | Đi ngủ sau 23:00: 61,51% ngày đi học, 73,71% cuối tuần; > 82% có ý định ngủ trước 23:00, < 40% thực hiện được | Người | Khảo sát cắt ngang bằng bảng hỏi; thang Bedtime Procrastination Scale (Kroese 2014) và câu hỏi tự báo cáo giờ ngủ–thức; thống kê mô tả · n = 213 sinh viên, ĐH Sư phạm – ĐH Huế | Võ Tá Bảo và cs., 2026 (tóm tắt) |
| b1-044 | Sinh viên Cao đẳng Y tế Lâm Đồng ngủ trung bình khoảng 7,2 giờ mỗi đêm theo tự báo cáo; sinh viên năm nhất có tỉ lệ ngủ kém cao nhất. | 7,17 ± 1,04 giờ/đêm; chất lượng ngủ chưa tốt: 31,5% (điểm cắt không nêu trong tóm tắt); năm 1: 40,7%, năm 2: 26,3%, năm 3: 20,9% (p < 0,05); điểm PSQI trung bình 4,47 ± 2,83 | Người | Cắt ngang mô tả; PSQI thu bằng bộ câu hỏi phát vấn (tự điền); thời lượng ngủ tự báo cáo; tóm tắt không nêu điểm cắt PSQI · n = 492 sinh viên, 1–3/2024 | Nguyễn Tuấn Anh và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b1-045 | Dữ liệu ứng dụng ENTRAIN từ khoảng 100 nước cho thấy Singapore và Nhật có thời lượng ngủ trung bình thấp nhất, Hà Lan cao nhất; khác biệt giữa các nước do giờ đi ngủ quyết định nhiều hơn giờ dậy. | Singapore và Nhật ~7 giờ 24 phút/đêm; Hà Lan ~8 giờ 12 phút; nữ ngủ nhiều hơn nam ~30 phút | Người | Dữ liệu tự nhập trong ứng dụng điện thoại ENTRAIN (giờ ngủ, giờ dậy, tiếp xúc ánh sáng); không phải thiết bị đo · ~10.000 người dùng, ~100 nước | Walch và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-051 | Ở người trưởng thành Hàn Quốc, ngủ dưới 6 giờ mỗi đêm đi kèm khả năng tăng huyết áp cao hơn, trong khi mỗi giờ ngủ bù cuối tuần đi kèm khả năng tăng huyết áp thấp hơn. | Ngủ < 6 giờ: OR 1,73 (1,13–2,64) so với 7–< 8 giờ; mỗi giờ ngủ bù cuối tuần: OR 0,83 (0,72–0,95); ở người tự thấy ngủ không đủ: OR 0,61 (0,46–0,82) | Người | Cắt ngang; thời lượng ngủ ngày thường và cuối tuần tự báo cáo bằng bảng hỏi; hồi quy logistic hiệu chỉnh đồng biến · n = 2.782 người ≥ 19 tuổi | Hwangbo và cs., 2013 (tóm tắt) |
| b1-052 | Trong Khảo sát Quốc gia về Sức khoẻ và Dinh dưỡng Hàn Quốc (KNHANES) 2016–2023, khoảng 1/4 người đi làm Hàn Quốc thuộc nhóm ngủ bù cuối tuần (ngủ dưới 7 giờ ngày thường, ngủ dài hơn cuối tuần), và 17% ngủ thiếu không bù. | Ngủ bù cuối tuần 25,9%; thiếu ngủ không bù 17,2%; ngủ đủ (≥ 7 giờ ngày thường) 56,9%; thời lượng trung bình: nhóm ngủ bù 6,81 giờ, thiếu ngủ 5,66 giờ, ngủ đủ 7,88 giờ | Người | Cắt ngang trên khảo sát quốc gia KNHANES; giờ ngủ–dậy ngày thường và cuối tuần tự báo cáo · n = 17.208 người đi làm 26–64 tuổi | Jeong và cs., 2025 |
| b1-053 | So với người ngủ đủ, nhóm ngủ bù cuối tuần vẫn đi kèm khả năng béo phì cao hơn gần ngang nhóm thiếu ngủ không bù; với béo bụng, ngủ bù đi kèm mức tăng thấp hơn nhóm không bù. | Béo phì chung: ngủ bù aOR 1,21 (1,12–1,31), thiếu ngủ AOR 1,23 (1,13–1,34); béo bụng: ngủ bù AOR 1,18 (1,09–1,27), thiếu ngủ AOR 1,33 (1,21–1,45) | Người | Như trên; béo phì BMI ≥ 25; béo bụng vòng eo ≥ 90 cm (nam), ≥ 85 cm (nữ) · n = 17.208 | Jeong và cs., 2025 |
| b1-054 | Ở một trường nữ sinh trung học Singapore vào học lúc 07:30, học sinh chỉ nằm giường trung bình 6 giờ 37 phút và ngủ thực (đo bằng actigraphy) 5 giờ 48 phút vào đêm đi học; chỉ 6,9% nằm giường đủ 8 giờ. | Nằm giường 6 giờ 37 phút; tổng thời gian ngủ (actigraphy) 5 giờ 48 phút; ≥ 8 giờ nằm giường: 6,9% | Người | Nghiên cứu bán thực nghiệm trước–sau, không có nhóm chứng; actigraphy cổ tay (Actiwatch 2) 1 tuần mỗi giai đoạn; bảng hỏi giờ ngủ–dậy; thang buồn ngủ Karolinska, PANAS, thang trầm cảm Kutcher · n = 375 nữ sinh lớp 7–10 (tuổi 14,6 ± 1,15) lúc đầu; 352 sau 1 tháng; 150 sau 9 tháng | Lo JC và cs., 2018 |
| b1-055 | Khi trường lùi giờ vào học 45 phút (07:30 → 08:15), học sinh dậy muộn hơn khoảng 30 phút nhưng chỉ đi ngủ muộn hơn khoảng 9–10 phút; thời gian nằm giường tự báo cáo tăng khoảng 23 phút và vẫn duy trì sau 9 tháng, kèm giảm buồn ngủ và triệu chứng trầm cảm; ngủ thực đo bằng actigraphy chỉ tăng 2,1 phút (không ý nghĩa) sau 1 tháng và 10,0 phút sau 9 tháng (so sánh trước–sau, không nhóm chứng). | Nằm giường +23,2 phút (1 tháng), +21,5 phút (9 tháng); ngủ thực (actigraphy) +2,1 phút (không ý nghĩa, 1 tháng), +10,0 phút (9 tháng); ≥ 8 giờ nằm giường: 6,9% → 16,1% → 14,1%; ngủ bù cuối tuần giảm 29–45 phút | Người | Như trên · n = 375 → 150 | Lo JC và cs., 2018 |
| b1-056 | Năm 2022, Chánh Văn phòng Sở GD&ĐT TP.HCM cho biết Sở sẽ hướng dẫn giờ vào học tiểu học là 07:30 và THCS–THPT từ 07:00, không đơn vị nào được tổ chức vào học trước 07:00; nhiều trường còn yêu cầu học sinh tập trung trước giờ học 10–15 phút. | Tiểu học 07:30; THCS–THPT 07:00; không vào học trước 07:00; quận 12 lùi giờ 15–30 phút; nhiều trường yêu cầu học sinh tập trung trước giờ học 10–15 phút | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Thông tin chính sách địa phương qua báo chí (VTC News dẫn Tiền Phong; Pháp luật TP.HCM) · Không áp dụng | VTC News, 2022 |
| b1-057 | Báo chí TP.HCM 2022 mô tả một học sinh lớp 1 (quận Gò Vấp) vệ sinh, thay đồ từ 05:40 và rời nhà lúc 06:00 để kịp tiết 1 lúc 07:00; báo cũng ghi có học sinh ngủ gật khi đến lớp, không kịp ăn sáng — đây là ví dụ cá nhân, không phải số liệu khảo sát. | Ví dụ: dậy/vệ sinh lúc 05:40, rời nhà 06:00, vào học 07:00, lên giường trước 22:00 | Người | Phóng sự báo chí, trường hợp đơn lẻ · 1 gia đình (quận Gò Vấp) | Pháp luật TP.HCM, 2022 |
| b1-071 | Sinh viên đại học Nhật ngủ trung bình 5,9 giờ vào ngày thường và 38,2% ngủ dưới 6 giờ; tỉ lệ ngủ trưa trên 1 giờ cao hơn có ý nghĩa ở nhóm có triệu chứng mất ngủ. | 5,9 ± 1,2 giờ/ngày thường; < 6 giờ: 38,2%; ngủ trưa > 1 giờ: cao hơn có ý nghĩa ở nhóm mất ngủ (phần chữ không nêu %) | Người | Cắt ngang; bảng hỏi tự báo cáo giờ ngủ, Epworth, MEQ (kiểu sáng–tối), Athens Insomnia Scale · n = 1.034 sinh viên 18–22 tuổi, 8 trường đại học Nhật (78,2% nữ), 2018–2019 | Kayaba và cs., 2020 |
| b1-074 | Phụ nữ 1 tháng sau sinh ở TP.HCM ngủ trung bình khoảng 5,5 giờ mỗi ngày khi đo bằng thiết bị đeo, thấp hơn nhiều so với khuyến nghị cho người lớn. | 5,53 ± 1,36 giờ/ngày | Người | Cắt ngang; tổng thời gian ngủ 24 giờ đo bằng Fitbit Charge 6 · n = 197 phụ nữ được phân tích (208 tham gia), 1 tháng sau sinh, TP.HCM | Kang và cs., 2026 |
| b1-075 | Trong dữ liệu Fitbit, phụ nữ ngủ nhiều hơn nam ở mọi nước; tuy vậy ở Đông Á, phần lớn cả nam lẫn nữ ngủ dưới 7 giờ vào ngày thường. | Ngày thường < 7 giờ: nữ Đông Á 61–69% (châu Đại Dương 30–34%); nam Đông Á 72–77%; thời lượng ngày thường thấp nhất ở tuổi 46–55 | Người | Như Ong 2019 (Fitbit, ANOVA ba chiều) · 23.680 người dùng | Ong và cs., 2019 |
| b1-079 | Khảo sát quốc gia Trung Quốc 2016–2017 cho thấy thời lượng ngủ ngày đi học giảm mạnh theo tuổi: tuổi 15–17 chỉ ngủ khoảng 7,9 giờ (tính cả ngủ trưa) và đi ngủ lúc gần 23 giờ. | Ngày đi học (tổng 24 giờ): 6–8 tuổi 10,02 giờ; 9–11 tuổi 9,77; 12–14 tuổi 8,95; 15–17 tuổi 7,89; giờ đi ngủ 20:56 (6–8 tuổi) đến 22:56 (15–17 tuổi); thức dậy 06:40 → 06:06 | Người | Khảo sát cắt ngang quốc gia (China Nutrition and Health Surveillance of Children and Lactating Mothers), chọn mẫu cụm phân tầng nhiều giai đoạn, 275 đơn vị cấp huyện; giờ ngủ, giờ dậy, ngủ trưa do cha mẹ báo cáo · n = 67.657 trẻ 6–17 tuổi | Zhang và cs., 2023 |
| b1-080 | Ở tuổi 13–17, chỉ 54,7% ngủ đủ khuyến nghị vào ngày đi học và 36,9% thiếu ngủ; cuối tuần các em ngủ bù khoảng 2 giờ, 57% ngủ từ 10 giờ trở lên. | 13–17 tuổi: đạt khuyến nghị 54,7% (ngày học); thiếu ngủ 36,9% (ngày học) và 6,0% (cuối tuần); 15–17 tuổi: 7,89 giờ ngày học so với 9,90 giờ cuối tuần; 57% ngủ ≥ 10 giờ cuối tuần | Người | Như trên; ngưỡng của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (AASM) (8–10 giờ cho 13–18 tuổi, 9–12 giờ cho 6–12 tuổi) · n = 67.657 | Zhang và cs., 2023 |
| b1-081 | Trẻ thành thị Trung Quốc đi ngủ muộn hơn và ngủ ngày đi học ít hơn trẻ nông thôn khoảng 25 phút. | Ngày đi học: thành thị 8,87 giờ, nông thôn 9,29 giờ; giờ đi ngủ 22:00 so với 21:29 | Người | Như trên · n = 67.657 | Zhang và cs., 2023 |
| b1-082 | Một phân tích gộp nhỏ các nghiên cứu ở Hàn Quốc, Trung Quốc và Iran cho thấy ngủ ngắn đi kèm khả năng tăng huyết áp cao hơn khoảng 36%; chưa có nghiên cứu Việt Nam nào được đưa vào. | OR gộp 1,36 (KTC 95% 1,13–1,64); I² 76%; nam OR 1,12 (1,01–1,25) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 6 nghiên cứu quan sát (7 đủ điều kiện); thời lượng ngủ tự báo cáo; ngưỡng "ngủ ngắn" từ < 5 đến < 7 giờ · Mỗi nghiên cứu 1.066–20.053 người | Nurrobi và cs., 2024 |
| b1-085 | Theo thống kê Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên Hàn Quốc (KYRBS) 2023 được Cho và Cho (2025) dẫn lại, thanh thiếu niên Hàn Quốc ngủ trung bình khoảng 6,2 giờ mỗi đêm; nghiên cứu này xếp ngủ ≤ 6 giờ ngày thường là ngủ không đủ. | Trung bình 6,2 giờ/đêm (KYRBS 2023, dẫn lại); ngưỡng ngủ không đủ ≤ 6 giờ | Người | Cắt ngang, gộp KYRBS 2020–2023 (khảo sát trực tuyến quốc gia); thời lượng ngủ tính từ giờ đi ngủ và giờ dậy ngày thường tự báo cáo; ngưỡng ≤ 6 giờ = không đủ · n = 172.457 học sinh 12–18 tuổi | Cho và Cho, 2025 |
Viết tắt trong trang
- AASM
- Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
- aOR
- tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
- BMI
- chỉ số khối cơ thể (body mass index)
- CHARLS
- Nghiên cứu Theo dõi dọc về Sức khoẻ và Hưu trí Trung Quốc (China Health and Retirement Longitudinal Study)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- GWAS
- nghiên cứu liên kết toàn bộ hệ gen (genome-wide association study)
- HR
- tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KNHANES
- Khảo sát Quốc gia về Sức khoẻ và Dinh dưỡng Hàn Quốc (Korea National Health and Nutrition Examination Survey)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- KYRBS
- Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên Hàn Quốc (Korea Youth Risk Behavior Survey)
- LSAHV
- Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam)
- MEQ
- bảng hỏi kiểu sáng–tối (Morningness–Eveningness Questionnaire)
- MMSE
- thang Đánh giá Trạng thái Tâm thần Tối thiểu (Mini-Mental State Examination)
- NIH
- Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- SD
- độ lệch chuẩn (standard deviation)
- SNP
- biến thể đơn nucleotide (single nucleotide polymorphism)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục A. Dữ kiện: ngủ trưa, giờ giấc và thời lượng. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/phu-luc-a-du-kien-b1/