giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Thảo dược, châm cứu và dưỡng sinh

Chương 8 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 20 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi các thảo dược, châm cứu, bấm huyệt và bài tập dưỡng sinh quen thuộc ở Việt Nam và châu Á có bằng chứng gì với giấc ngủ. Kết luận chính là độ lớn hiệu ứng phụ thuộc rất mạnh vào kiểu nhóm chứng và kiểu thang đo. Khi so với giả dược hay châm giả, hoặc khi đo bằng thiết bị thay vì bảng hỏi, phần lớn hiệu ứng thu nhỏ lại hoặc biến mất. Thử nghiệm phần lớn làm ở Trung Quốc và Hồng Kông, nhiều thử nghiệm có nguy cơ sai lệch cao. Ở Việt Nam, chúng tôi chỉ tìm được một thử nghiệm ngẫu nhiên về thực hành truyền thống và giấc ngủ. Cả 28 nghiên cứu y học cổ truyền trong nước mà một tổng quan năm 2025 tìm được đều không ngẫu nhiên hoá hay làm mù.

Ba câu hỏi lặp lại ở mọi mục: nhóm chứng là gì, kết cục đo bằng gì, và quần thể là ai. Nhóm chứng có thể là giả dược hay châm giả, thuốc Tây mở nhãn, chăm sóc thường lệ, hoặc không làm gì. Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) là bảng hỏi tự báo cáo. Đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) và actigraphy (thiết bị đeo cổ tay ghi cử động để ước lượng giấc ngủ) là số đo khách quan. Người tham gia có thể là người khoẻ, người cao tuổi chưa có chẩn đoán, hay người được chẩn đoán mất ngủ.

Phần lớn bằng chứng đến từ thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) và phân tích gộp. Chỉ số dị biệt I² cao nghĩa là các thử nghiệm bên trong cho kết quả rất khác nhau. Khoảng tin cậy (KTC) được ghi trong ngoặc; nguy cơ tương đối (relative risk, RR) và tỉ số chênh (odds ratio, OR) được ghi kèm khi có. Chương không nêu liều, cách pha hay cách dùng của thảo dược nào, và không khuyên dùng hay không dùng. Trà thảo mộc trong đời sống hằng ngày được bàn ở trang trà thảo mộc buổi tối.

Thảo dược#

Hoa cúc: chất lượng giấc ngủ khác với mất ngủ#

Một phân tích gộp năm 2019, có tác giả Việt Nam, gộp 12 thử nghiệm ngẫu nhiên và gần ngẫu nhiên về hoa cúc (Hieu và cs., 2019). Hoa cúc đi kèm cải thiện có ý nghĩa thống kê về chất lượng giấc ngủ tự báo cáo. Nhưng thử nghiệm duy nhất về mất ngủ không thấy mức độ mất ngủ thay đổi có ý nghĩa. Chỉ 3 thử nghiệm báo cáo biến cố bất lợi, đều nhẹ.

Phân tích gộp năm 2024 gồm 10 thử nghiệm (772 người) cho thấy hoa cúc đi kèm PSQI giảm 1,88 điểm so với nhóm chứng (KTC 95% −3,46 đến −0,31), gộp từ 5 nghiên cứu với I² 88,4% (Kazemi và cs., 2024). Hiệu suất giấc ngủ không đổi ở 2 nghiên cứu và xấu đi ở 1. Chỉ 1 nghiên cứu kiểm tra thành công việc làm mù và hàm lượng sản phẩm. Mức 1,88 điểm thấp hơn ngưỡng thường coi là có ý nghĩa lâm sàng, khoảng 3 điểm SL.

Ở người có chẩn đoán, một thử nghiệm thí điểm mù đôi ở 34 người lớn mất ngủ mạn tính dùng chiết xuất hoa cúc chuẩn hoá trong 28 ngày (Zick và cs., 2011). Nhóm hoa cúc không khác có ý nghĩa thống kê so với giả dược ở mọi chỉ số nhật ký giấc ngủ, dù hiệu ứng ở mức nhỏ–trung bình trong một mẫu thí điểm nhỏ. Mâu thuẫn giữa hai nhóm kết quả có thể do quần thể (người không có chẩn đoán so với người mất ngủ mạn tính) và thang đo (PSQI so với nhật ký giấc ngủ) SL.

Valerian: bốn phân tích gộp, bốn câu trả lời#

Phân tích gộpNghiên cứu được gộpKết quả chínhĐiều cần lưu ý
Bent và cs., 200616 RCT có giả dược, 1.093 ngườiRR 1,8 (1,2–2,9) cho "ngủ cải thiện" ở 6 nghiên cứu có kết cục nhị phânCó bằng chứng sai lệch xuất bản (p = 0,01); tài trợ công của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ
Fernández-San-Martín và cs., 201018 RCT có giả dượcThời gian vào giấc chênh 0,70 phút (−3,44 đến 4,83); chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference, SMD) trên thang nhìn tương tự −0,02; RR 1,37 (1,05–1,78) cho cảm nhận "khá hơn"Số đo định lượng không đổi, chỉ cảm nhận nhị phân tăng
Leach và Page, 201514 RCT, 1.602 người mất ngủ (valerian, hoa cúc, kava, wuling)0 trong 13 chỉ số hiệu quả khác giả dược hay thuốc đối chứngValerian có nhiều biến cố bất lợi trên mỗi người hơn giả dược
Shinjyo và cs., 202060 nghiên cứu, 6.894 người, gồm cả nghiên cứu quan sát13 trong 23 nghiên cứu đơn vị thuốc thấy hiệu quả, 10 không khác nhóm chứngKhông loại nghiên cứu theo nguy cơ sai lệch

Nguyên nhân khả dĩ của mâu thuẫn gồm kiểu kết cục, quần thể, chiết xuất không chuẩn hoá và sai lệch xuất bản. Cảm nhận nhị phân "ngủ khá hơn" tăng, nhưng thời gian vào giấc đo được thì không. Tổng quan năm 2020 ghi không có biến cố bất lợi nghiêm trọng nào được báo cáo ở người 7–80 tuổi. Việc không ghi nhận trong các thử nghiệm ngắn ngày không đồng nghĩa với không có tác dụng phụ SL. Hướng dẫn năm 2017 của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) đề nghị không dùng valerian cho mất ngủ, mức khuyến cáo yếu (Sateia và cs., 2017). Hướng dẫn Mất ngủ châu Âu 2023 khuyến cáo không dùng thảo dược cho mất ngủ, mức A (Riemann và cs., 2023).

Lạc tiên và chuyện định danh loài#

Hai thử nghiệm về lạc tiên chúng tôi đọc được đều dùng loài Passiflora incarnata. Ở Úc, thử nghiệm chéo mù đôi ở 41 người lớn khoẻ 18–35 tuổi dùng trà P. incarnata trong 7 ngày (Ngan và Conduit, 2011). Trong 6 chỉ số nhật ký giấc ngủ, chỉ chất lượng giấc ngủ tự đánh giá tốt hơn giả dược (t(40) = 2,70; p < 0,01). Có 10 người được đo PSG, nhưng tóm tắt không báo cáo kết quả PSG.

Ở Hàn Quốc, một RCT mù đôi gồm 110 người lớn mắc rối loạn mất ngủ theo tiêu chuẩn của Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, DSM-5) (Lee và cs., 2020). Sau 2 tuần, tổng thời gian ngủ đo bằng PSG tăng 23,05 ± 54,26 phút ở nhóm chiết xuất. Nhóm giả dược thay đổi −0,16 ± 53,12 phút (p = 0,049). Con số p sát ngưỡng 0,05, và độ lệch chuẩn khoảng 54 phút lớn gấp đôi hiệu ứng. Hiệu suất giấc ngủ chỉ cải thiện trong từng nhóm, không khác giả dược.

Cây lạc tiên dùng ở Việt Nam lại được định danh là Passiflora foetida L., một loài khác (Lữ Thị Kim Chi và cs., 2017). Bài báo này là nghiên cứu hoá học phân lập chất chuẩn vitexin, độ tinh khiết 99,79%. Công dụng dân gian với giấc ngủ chỉ được nhắc như thông tin nền. Chúng tôi chưa tìm được RCT nào trên người dùng P. foetida cho giấc ngủ. Vì vậy hai thử nghiệm trên, vốn cho kết quả mong manh, không áp dụng thẳng được cho lạc tiên ở Việt Nam SL.

Táo nhân và các bài thuốc Trung Hoa#

Tổng quan năm 2012 về thảo dược Trung Hoa cho mất ngủ xét 217 nghiên cứu, nhưng chỉ 8 đạt thang Jadad ≥ 3, và 7 trong 8 có ít nhất một miền nguy cơ sai lệch cao (Yeung và cs., 2012). Khi gộp các thử nghiệm này, thảo dược không khác giả dược. Táo nhân (suan zao ren) là vị thuốc đơn dùng nhiều nhất.

NguồnNhóm chứngKết quả trên PSQIĐiều cần lưu ý
Zhou và cs., 2018Giả dược hoặc diazepam; 13 RCT, 1.454 ngườiTốt hơn giả dược (p < 0,01, kết cục gộp không ghi rõ); so với diazepam kết quả lẫn lộnChỉ lấy RCT nguy cơ sai lệch thấp ở ít nhất 4/7 tiêu chí; tất cả bằng tiếng Trung; độ chắc chắn bằng chứng theo GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) ở mức trung bình cho PSQI
Birling và cs., 2020Giả dược (1 nghiên cứu) hoặc thuốc chủ vận thụ thể benzodiazepine; 19 nghiên cứu, 1.780 ngườiSo giả dược −0,90 (−1,56 đến −0,24); so thuốc Tây 0,17 (p = 0,46)Biến cố bất lợi ít hơn thuốc Tây (RR 0,16); nguy cơ sai lệch cao
Liu và cs., 2022Benzodiazepine hoặc Z-drug (zolpidem, zopiclone và các thuốc tương tự), không giả dược; 12 RCT, 1.311 người−2,74 (−4,00 đến −1,49); I² 94%Chỉ 1 nghiên cứu mô tả làm mù; biểu đồ phễu bất đối xứng

GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) là hệ xếp hạng độ chắc chắn của bằng chứng. Trong Liu 2022, 3 RCT báo cáo tái phát cho thấy nhóm thảo dược tái phát ít hơn nhóm thuốc Tây (RR 0,47; 0,28–0,80). "Tái phát" sau khi ngừng benzodiazepine có thể phản ánh mất ngủ dội ngược của thuốc đối chứng hơn là tác dụng riêng của thảo dược SL. Tổng cỡ mẫu trong bảng của bài cộng ra 1.251, khác con số 1.311 ở tóm tắt. Bài được tài trợ bởi chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia Trung Quốc. Mức −0,90 điểm so với giả dược (chỉ 1 nghiên cứu) nhỏ hơn nhiều mức −2,74 khi so với thuốc Tây không làm mù. Dù hai con số đến từ hai phân tích gộp về hai bài thuốc khác nhau, khoảng cách này gợi ý kiểu nhóm chứng ảnh hưởng mạnh tới độ lớn hiệu ứng SL.

Sen và vông nem: chỉ có dữ liệu động vật#

Hai nghiên cứu về sen đều trên động vật và dùng hạt sen nguyên, không phải tâm sen (phần mầm). Ở chuột cống, chiết xuất nước hạt sen liều cao làm tăng tổng thời gian ngủ và giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh (non-rapid eye movement, NREM), đo bằng điện não (Jo và cs., 2021). Ở ruồi giấm (Drosophila melanogaster), chiết xuất hạt sen làm giảm 52% hoạt động ban đêm và tăng thời gian ngủ 10–27% (Jo và cs., 2018). Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm nào trên người về tâm sen và giấc ngủ.

Với vông nem, nghiên cứu chúng tôi đọc được là ở chuột nhắt, dùng chiết xuất vỏ thân Erythrina variegata (Pitchaiah và cs., 2008). Ở chuột nhắt, chiết xuất làm tăng số lần vào nhánh mở của mê lộ chữ thập nâng (11,16 so với 3,66; p < 0,001). Đây là phép thử hành vi về lo âu, không phải phép đo giấc ngủ. Ở Việt Nam, bộ phận thường dùng là lá vông chứ không phải vỏ thân. Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm nào trên người về vông nem và giấc ngủ.

Châm cứu, điện châm, bấm huyệt và nhĩ áp#

Tổng quan Cochrane và giới hạn thời gian của nó#

Tổng quan Cochrane về châm cứu cho mất ngủ có bản đăng năm 2022, nhưng dữ liệu tìm kiếm chỉ tới tháng 10/2011 (Cheuk và cs., 2022). Các RCT công bố sau mốc đó không có trong tổng quan. Tổng quan gồm 33 RCT (2.293 người, 15–98 tuổi), và mọi thử nghiệm đều có nguy cơ sai lệch cao. So với can thiệp giả chỉ có 2 thử nghiệm bấm huyệt (112 người), cho OR 6,62 (KTC 95% 1,78–24,55). Khi giả định người bỏ cuộc có kết cục xấu, kết quả này mất ý nghĩa. Tác giả kết luận bằng chứng chưa đủ chặt để ủng hộ hay bác bỏ châm cứu cho mất ngủ.

So với châm giả: bảng hỏi và thiết bị đo cho kết quả ngược nhau#

Phân tích gộp năm 2020 gồm 13 RCT có châm giả (1.061 người), tất cả ở Trung Quốc (Liu và cs., 2020). Châm thật giảm PSQI thêm 3,60 điểm (I² 91%) và ISI thêm 1,93 điểm (I² 90%). Nhưng số đo khách quan bằng PSG hay actigraphy không khác châm giả: tổng thời gian ngủ p = 0,09, hiệu suất giấc ngủ p = 0,47. Nghiên cứu được Cục Quản lý Y học cổ truyền và Sở Nhân lực–An sinh xã hội tỉnh Giang Tô tài trợ. Phân tích gộp năm 2025 gồm 10 RCT có châm giả (757 người; 9 ở Trung Quốc, 1 ở Hàn Quốc) ghi PSQI giảm thêm 2,60 điểm và ISI 2,04 điểm, với I² từ 92% đến 96% (Yu và cs., 2025). Bài không đánh giá GRADE, ghi số người không nhất quán (757 ở bảng đặc điểm, 847 ở phần PSQI). Bài được một chương trình y học hàng không vũ trụ của Trung Quốc tài trợ, và biến cố như tụ máu, đau đầu, tê được mô tả là nhẹ.

Hai thử nghiệm ở Hồng Kông cho kết quả không giống nhau. Trong RCT mù đơn ở 60 người mất ngủ nguyên phát, điện châm được so với châm giả bằng kim Streitberger, loại kim không xuyên da (Yeung và cs., 2009). ISI không khác giữa hai nhóm, nhưng hiệu suất giấc ngủ theo nhật ký và actigraphy cải thiện nhiều hơn ở nhóm điện châm. Thử nghiệm thứ hai ở 200 người so tự bấm huyệt với giáo dục vệ sinh giấc ngủ, không có bấm giả (Yeung và cs., 2022). Ở tuần 8, nhóm bấm huyệt giảm ISI nhiều hơn 2,89 điểm, và tỉ lệ thuyên giảm là 24,7% so với 5,3%. Nhưng actigraphy không khác giữa hai nhóm. Thử nghiệm năm 2022 được Quỹ Nghiên cứu Y tế của chính quyền Hồng Kông tài trợ; nguồn tài trợ của thử nghiệm năm 2009 chúng tôi chưa đọc được.

Như vậy, ở các thử nghiệm Trung Quốc đại lục, châm thật hơn châm giả trên bảng hỏi nhưng không trên thiết bị đo; ở thử nghiệm điện châm Hồng Kông thì ngược lại. Lời giải thích khả dĩ gồm loại châm giả khác nhau, cỡ mẫu nhỏ, actigraphy chỉ ghi vài ngày, và khác biệt quần thể giữa hai nơi SL.

Độ lớn hiệu ứng theo kiểu nhóm chứng#

NguồnCan thiệp và nhóm chứngPSQI
Nghiên cứu trước–sau ở Việt NamĐiện châm, có hoặc không kèm dưỡng sinh; không nhóm chứngGiảm từ 15,04 xuống 7,74 và từ 18,69 xuống 3,89 trong nhóm
Li và cs., 2024Nhĩ áp so với chăm sóc thường lệ hoặc estazolam; 23 RCT, 1.689 ngườiSMD −1,30 (−1,65 đến −0,96); I² 90% (hiệu ứng chuẩn hoá, không cùng đơn vị điểm PSQI với các dòng dưới)
Waits và cs., 2018Bấm huyệt so với bấm giả; 7 thử nghiệm, 385 ngườiChênh −3,41 (−4,08 đến −2,75); I² 12%
Liu và cs., 2020Châm cứu so với châm giả; 13 RCTChênh −3,60 (−4,88 đến −2,33); I² 91%
Yu và cs., 2025Châm cứu so với châm giả; 10 RCTChênh −2,60 (−3,24 đến −1,97); I² 92%

Nhĩ áp là dán hạt lên huyệt ở tai; phân tích gộp nhĩ áp không có thử nghiệm nào dùng nhóm chứng giả. Phân tích bấm huyệt so với bấm giả cho dị biệt thấp, nhưng tác giả vẫn đánh giá nguy cơ sai lệch cao vì không làm mù người bệnh và người thực hiện. Một phân tích gộp mạng lưới 122 RCT xếp điện châm và châm cứu đứng đầu về giảm PSQI (Wang và cs., 2023). Nhưng phân tích này cũng ghi nhận nhóm giả dược tốt hơn nhóm không can thiệp. Theo nhận xét của chúng tôi, thử nghiệm châm cứu thường không làm mù người tham gia, còn thử nghiệm liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) thường so với chứng tích cực. Vì vậy thứ hạng này không đọc được như bằng chứng châm cứu tốt hơn CBT-I SL.

Về an toàn, một nghiên cứu thuần tập tiến cứu ở Đức theo dõi 229.230 bệnh nhân được bác sĩ châm cứu (Witt và cs., 2009). Có 8,6% tự báo cáo ít nhất một tác dụng bất lợi và 2,2% cần xử trí. Hay gặp nhất là chảy máu hoặc tụ máu (6,1%) và đau (1,7%); có 2 ca tràn khí màng phổi. Nghiên cứu không riêng cho mất ngủ, và kết quả không suy rộng được cho châm cứu không chính quy.

Thái cực quyền, khí công và dưỡng sinh#

Thử nghiệm có actigraphy và PSG#

RCT 3 nhánh ở Hồng Kông gồm 320 người từ 60 tuổi trở lên mất ngủ mạn tính (Siu và cs., 2021). Sau 12 tuần, cả thái cực quyền và tập thể dục thông thường đều tăng hiệu suất giấc ngủ đo bằng actigraphy so với nhóm chứng. Mức tăng là 3,4 điểm phần trăm (1,6–5,1) với thái cực và 3,5 (1,8–5,2) với thể dục. Tổng thời gian ngủ không đổi, và thái cực không khác thể dục. Ở lần theo dõi 24 tháng, thái cực hơn thể dục 2,9 điểm phần trăm (1,1–4,8), thời điểm duy nhất có khác biệt. Nhóm chứng không được tập gì, do đó không tách được hiệu ứng của sự chú ý và tiếp xúc xã hội. Thử nghiệm do Quỹ Nghiên cứu Y tế Hồng Kông tài trợ.

Ở Los Angeles, một RCT gồm 123 người cao tuổi mất ngủ mạn tính so CBT-I, thái cực kiểu Tai Chi Chih và giáo dục giấc ngủ (Irwin và cs., 2014). CBT-I đạt tỉ lệ thuyên giảm do bác sĩ đánh giá cao hơn thái cực và nhóm giáo dục (p < 0,01). Thái cực cải thiện chất lượng giấc ngủ tự báo cáo so với nhóm giáo dục, nhưng các chỉ số PSG không thay đổi.

Phân tích gộp#

Phân tích gộp năm 2022 gồm 21 RCT thái cực quyền ở người mất ngủ (2.022 người) ghi PSQI giảm 1,16 điểm (−1,62 đến −0,71; I² 61%) (Han và cs., 2022). Chỉ PSQI gộp được, không gộp được số đo khách quan. Một phân tích gộp năm 2023 báo cáo mức giảm 1,75 điểm với khoảng tin cậy hẹp bất thường (−1,88 đến −1,62) (Yang và cs., 2023). Với khí công, phân tích gộp năm 2025 gồm 15 RCT ở người cao tuổi (1.074 người; 14 ở Trung Quốc) ghi PSQI giảm 2,47 điểm (I² 82,3%) (Xiong và cs., 2025). Bát đoạn cẩm cho −2,89 điểm, Ngũ cầm hí không khác biệt. Chỉ 1 thử nghiệm có nhóm chứng là bài tập khác, do đó không tách được tác dụng riêng của khí công với tác dụng của vận động. Độ chắc chắn GRADE thấp, và 8 trong 15 thử nghiệm có nguy cơ sai lệch cao.

Hướng dẫn Mất ngủ châu Âu 2023 ghi thái cực quyền được các phân tích gộp gần đây gợi ý có hiệu quả, nhưng cần thêm nghiên cứu chất lượng cao (Riemann và cs., 2023).

Thử nghiệm ở Việt Nam: thay đổi trong nhóm và so sánh giữa nhóm#

RCT duy nhất ở Việt Nam chúng tôi tìm được về thực hành truyền thống và giấc ngủ là thử nghiệm thái cực quyền ở thành phố Vinh (Nguyen và Kruse, 2012). Có 96 người 60–79 tuổi được phân nhóm; nhóm can thiệp tập thái cực quyền trong 6 tháng, nhóm chứng sinh hoạt bình thường. PSQI nhóm tập giảm từ 9,38 xuống 3,59, nhóm chứng từ 8,06 xuống 7,97 (p < 0,001).

Mức giảm 5,8 điểm là thay đổi trong nhóm tập, không phải chênh lệch giữa nhóm tập và nhóm chứng. PSQI ban đầu đã lệch giữa hai nhóm (9,38 so với 8,06). Tỉ lệ bỏ cuộc là 18,75% ở nhóm tập và khoảng 29% ở nhóm chứng. Bài chỉ phân tích người hoàn thành (39 người tập, 34 người chứng), không mô tả cách ngẫu nhiên hoá và không báo cáo làm mù. Người tham gia là người cao tuổi cộng đồng, không phải người được chẩn đoán mất ngủ. Mức cải thiện lớn hơn rõ so với các phân tích gộp (−1,16 và −1,75), và phân tích năm 2022 đã loại thử nghiệm này trong phân tích độ nhạy vì là một trong 3 nghiên cứu gây dị biệt. Khi loại chúng, mức giảm là 1,17 điểm với I² 0%. Thử nghiệm được Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Đại học Heidelberg hỗ trợ; tác giả ghi nhà tài trợ không có vai trò trong nghiên cứu.

Xoa bóp, ngâm chân và tắm nước ấm#

Phân tích gộp năm 2024 gồm 23 RCT về xoa bóp kiểu Trung Hoa (tuina) cho mất ngủ (1.780 người; 22 bài bằng tiếng Trung) (Wang và cs., 2024). Tuina đi kèm PSQI thấp hơn 2,34 điểm (I² 79%) so với thuốc ngủ, thuốc đông dược thành phẩm hoặc châm cứu đơn thuần. Không có nhóm chứng giả, chỉ 1 nghiên cứu nhắc làm mù, và độ chắc chắn GRADE thấp đến rất thấp. Bài được Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc và tỉnh Hà Nam tài trợ.

Với ngâm chân, hai thử nghiệm nhỏ đều so với nhóm không can thiệp và chỉ dùng PSQI. Ở Iran, 46 nam giới cao tuổi ngâm chân nước ấm trong 6 tuần có PSQI và thời lượng ngủ tự báo cáo tốt hơn nhóm không ngâm (Seyyedrasooli và cs., 2013). Ở Thổ Nhĩ Kỳ, thử nghiệm mù đơn ở 50 người cao tuổi ghi PSQI giảm, trừ thành phần hiệu suất giấc ngủ (Demirağ và cs., 2025). Người tham gia biết mình được can thiệp, do đó kết cục tự báo cáo dễ chịu ảnh hưởng của kỳ vọng.

Một thực nghiệm đo PSG ở 9 phụ nữ khoẻ tại Nhật Bản vào mùa đông cho thấy cả tắm bồn và ngâm chân nước nóng đều rút ngắn thời gian vào giấc so với không can thiệp (Sung và Tochihara, 2000). Tắm bồn làm nhiệt độ trực tràng tăng khoảng 1,0 °C, còn ngâm chân thì không. Một phân tích gộp năm 2019 gồm 17 nghiên cứu ghi rằng tắm nước ấm trước khi ngủ đi kèm chất lượng giấc ngủ tự đánh giá và hiệu suất giấc ngủ tốt hơn (Haghayegh và cs., 2019). Cơ chế đề xuất là máu dồn về lòng bàn tay, bàn chân giúp thải nhiệt và hạ thân nhiệt lõi. Tác giả nêu bằng chứng còn hạn chế. Thực nghiệm Nhật làm trong mùa đông lạnh, khác điều kiện nóng ẩm ở Việt Nam, nơi chúng tôi chưa có số liệu SL.

Y học cổ truyền ở Việt Nam: thiết kế nghiên cứu là vấn đề chính#

Một tổng quan phạm vi năm 2025 tìm trong 7 cơ sở dữ liệu trong nước và thu được 28 nghiên cứu can thiệp về y học cổ truyền cho mất ngủ không thực tổn (Lê Thùy Chi và Nguyễn Duy Tuân, 2025). Có 16 nghiên cứu có nhóm chứng và 12 nghiên cứu so sánh trước–sau. Không nghiên cứu có nhóm chứng nào được ngẫu nhiên hoá hay làm mù. Thời gian can thiệp là 14–30 ngày. Trong 6 nghiên cứu thử chế phẩm, 3 nghiên cứu dùng rotundin làm thuốc đối chứng, một thuốc mà chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm giả dược nào cho mất ngủ, như đã bàn ở chương về thuốc ngủ và bình vôi. Ở phần đặt vấn đề, tác giả viết các liệu pháp y học cổ truyền "không gây ra các vấn đề nghiện thuốc hay hội chứng cai nghiện". Đây là nhận định chung, không phải kết quả đo; theo dõi 14–30 ngày không đủ để kết luận về lệ thuộc SL.

Ba nghiên cứu cụ thể dưới đây minh hoạ đặc điểm này. Các thể bệnh được ghi đúng như cách nghiên cứu phân loại.

Nơi, thời gianCan thiệpThiết kếKết quả tự báo cáo
Bệnh viện Xanh Pôn, 2024–2025Điện châm kết hợp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng, 15 ngàyTrước–sau một nhóm, 50 người nội trú, thể tâm tỳ hưPSQI 15,04 → 7,74; ngủ 3,64 → 5,34 giờ
Bệnh viện Châm cứu Trung ương, 2017Điện châm, 20 ngàyTrước–sau một nhóm, 30 người, thể can đởm hoả vượngPSQI 18,69 → 3,89; ngủ 2,29 → 6,93 giờ
Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Bình, 2025Cấy chỉ kết hợp xoa bóp bấm huyệt so với xoa bóp bấm huyệt đơn thuần, 15 ngàyCó nhóm chứng, 30 người mỗi nhóm, không nêu ngẫu nhiên hay làm mùHiệu suất ≥ 85%: 26,7% so với 16,7%; PSQI nhóm can thiệp 13,87 → 4,53

Các bài này có những chỗ tự mâu thuẫn. Bài ở Xanh Pôn ghi PSQI cuối 7,30 ở kết luận nhưng 7,74 ở phần kết quả (Đặng Thị Hạnh và Bùi Tiến Hưng, 2025). Bài ở Bệnh viện Châm cứu Trung ương ghi cỡ mẫu 60 ở tóm tắt nhưng 30 ở phương pháp (Nguyễn Đức Minh, 2018). Ở Thái Bình, tóm tắt báo cáo p < 0,05 cho tỉ lệ 26,7% so với 16,7%, dù với 30 người mỗi nhóm chênh lệch này khó đạt ngưỡng đó SL. Tóm tắt cũng không cho PSQI của nhóm chứng (Mai Đức Hân và cs., 2026).

Thiết kế trước–sau không tách được hồi quy về trung bình, hiệu ứng nằm viện và kỳ vọng. Mức giảm PSQI trong nhóm 7–15 điểm ở các nghiên cứu này lớn hơn nhiều mức 2,6–3,6 điểm khi so với châm giả. Khoảng cách này phù hợp với đặc trưng của so sánh trong nhóm không có nhóm chứng phù hợp SL, và kết quả như vậy không chứng minh hiệu quả. Đặt cạnh nhau, hướng dẫn châu Âu 2023 khuyến cáo không dùng thảo dược cho mất ngủ (mức A), còn AASM 2017 đề nghị không dùng valerian (khuyến cáo yếu). Tổng quan trong nước năm 2025 lại nêu nhận định chung đã dẫn ở trên về việc không gây nghiện, dù chưa nghiên cứu nào trong 28 nghiên cứu được ngẫu nhiên hoá hay làm mù.

Điều chưa biết#

  • Chưa tìm được RCT nào trên người cho tâm sen, vông nem, lạc tiên loài P. foetida và các chế phẩm phối hợp bán phổ biến ở Việt Nam.
  • Chưa tìm được thử nghiệm ngâm chân, xoa bóp hay khí công dưỡng sinh có ngẫu nhiên hoá và làm mù ở Việt Nam.
  • Chưa có khảo sát quốc gia nào chúng tôi tìm được về tỉ lệ người Việt dùng thảo dược, ngâm chân hay xoa bóp với mục đích dễ ngủ.
  • Toàn văn tổng quan Cochrane về châm cứu chúng tôi không mở được; tổng quan này cũng chưa cập nhật các RCT sau tháng 10/2011.
  • Chưa đối chiếu được chuyên luận Dược điển Việt Nam V cho lạc tiên.
  • Chưa có số liệu về ngâm chân hay tắm nước ấm trong điều kiện nhà nóng ẩm ở Việt Nam.

Viết tắt trong trang

AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
CBT-I
liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
RR
nguy cơ tương đối (relative risk)
SMD
chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Thảo dược, châm cứu và dưỡng sinh. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/thao-duoc-cham-cuu-va-duong-sinh/