giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Thuốc ngủ tự dùng, thuốc kê đơn và bình vôi

Chương 7 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 20 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi ba điều: mất ngủ ở Việt Nam được đo ra sao, thuốc ngủ đến tay người dùng qua những đường nào, và bình vôi cùng hoạt chất rotundin có bằng chứng gì. Tỉ lệ đạt ngưỡng "mất ngủ" theo chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) trong các nghiên cứu Việt Nam dao động từ 24,9% đến 76,1%. Tỉ lệ "ngủ kém" theo chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) lên tới 83,3%. Khác biệt này phần lớn do khác thang đo, ngưỡng và quần thể. Ở người cao tuổi, thuốc ngủ kê đơn đem lại lợi ích nhỏ về thời gian ngủ nhưng đi kèm tác hại đo được. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào đo việc bán thuốc ngủ không đơn ở Việt Nam. Với rotundin, dữ liệu về giấc ngủ là dữ liệu trên chuột, còn y văn ghi nhận độc tính tim và gan ở người. Khoảng cách này vắng mặt trong ba nguồn thông tin phổ thông chúng tôi đọc.

Mất ngủ ở Việt Nam qua các nghiên cứu theo nhóm#

Hai thang đo xuất hiện trong hầu hết nghiên cứu trong nước. Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) hỏi về triệu chứng mất ngủ; ngưỡng đặt càng cao thì càng ít người đạt. Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) đo chất lượng giấc ngủ trong tháng qua. Điểm PSQI trên 5 thường được gọi là "ngủ kém", nhưng thang này không chẩn đoán mất ngủ. Mọi nghiên cứu dưới đây đều cắt ngang, dựa trên tự báo cáo, và phần lớn chọn mẫu thuận tiện ở một cơ sở hoặc qua mạng.

Nhóm và nơi khảo sátCỡ mẫuThang và ngưỡngTỉ lệ đạt ngưỡng
Sinh viên 4 trường đại học TP.HCM, khảo sát trực tuyến2.034ISI ≥ 1524,9%
Người khỏi COVID-19 không nhập viện, khảo sát trực tuyến toàn quốc1.056ISI ≥ 1076,1%
Nhân viên y tế khỏi COVID-19 không nhập viện212Thang tự báo cáo, ngưỡng không đọc được69,3% (nặng 19%)
Người ≥ 60 tuổi tăng huyết áp, 3 trạm y tế xã ngoại thành Hà Nội385PSQI > 557,1%
Bệnh nhân nội trú, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ207PSQI, ngưỡng ghi không nhất quán (≥ 5 hoặc > 5)41,1%
Người ≥ 60 tuổi đái tháo đường típ 2, Bệnh viện TP Thủ Đức248PSQI > 575,4%
Người ≥ 60 tuổi tăng huyết áp nội trú khoa lão, Cần Thơ306PSQI, ngủ kém83,3%

Ở sinh viên, 24,9% có triệu chứng mất ngủ ở mức trung bình trở lên (Phạm Thị Thanh Ngân và cs., 2023). Mất ngủ đi kèm căng thẳng vì thi trượt hay thi lại (tỉ số chênh, odds ratio, OR 2,17; 1,74–2,71), dùng điện thoại trước khi ngủ (OR 1,93; 1,06–3,51) và nghiện điện thoại thông minh (OR 1,84; 1,48–2,28). Số trong ngoặc sau mỗi tỉ số là khoảng tin cậy (KTC) do bài báo công bố. Đây là tương quan trong một mẫu thuận tiện, không cho biết chiều nhân quả.

Hai nghiên cứu ở người đã khỏi COVID-19 cho tỉ lệ cao hơn nhiều. Khảo sát toàn quốc đã loại những người có chẩn đoán mất ngủ hay rối loạn tâm thần từ trước (Hoang Thi Xuan Huong và cs., 2024a). Mất ngủ đi kèm triệu chứng lo âu (OR 3,93; 2,52–6,13), trầm cảm (OR 3,45; 1,87–6,34) và bệnh mạn tính có sẵn (OR 2,96; 1,50–5,84). Ở nhân viên y tế, mất ngủ cũng đi kèm triệu chứng lo âu (OR 5,4; 2,5–11,6) và trầm cảm (OR 4,1; 1,7–9,5) (Hoang Thi Xuan Huong và cs., 2024).

Ở người cao tuổi tăng huyết áp ngoại thành Hà Nội, nhóm từ 71 tuổi trở lên có tỉ số chênh ngủ kém cao hơn (OR 2,57; 1,69–3,89) (Nguyễn Văn Tuấn và cs., 2025). Bài gọi kết cục là "rối loạn giấc ngủ" nhưng chỉ dùng PSQI. Ở người cao tuổi đái tháo đường, 57,3% toàn mẫu ở mức nhẹ, tức phần lớn trong số 75,4% vượt ngưỡng (Trần Hoàng Hải và cs., 2024). Ở bệnh nhân nằm viện tại Cần Thơ, tỉ lệ cao nhất ở khoa nội thần kinh (46,7%) và thấp nhất ở khoa sản (25,8%) (Lê Văn Minh và cs., 2020).

Vì sao các con số chênh nhau tới vậy#

Một phần chênh lệch giữa 24,9% và 76,1% có thể do ngưỡng SL: cùng dùng ISI, nhưng một nghiên cứu đặt ngưỡng ≥ 15, nghiên cứu kia ≥ 10. Nghiên cứu ở nhân viên y tế không cho đọc được ngưỡng; người kiểm chứng của chúng tôi nêu khả năng ngưỡng thấp hơn, chẳng hạn ≥ 8 SL. Các nghiên cứu dùng PSQI > 5 đo "chất lượng giấc ngủ kém", một khái niệm rộng hơn mất ngủ. Quần thể cũng khác: sinh viên, người vừa qua COVID-19, người cao tuổi có bệnh, bệnh nhân đang nằm viện. Vì vậy các con số trong bảng không cộng lại thành một "tỉ lệ mất ngủ của người Việt" SL.

Thuốc ngủ: được kê, tự mua và ngộ độc#

Dữ liệu trong nước về thuốc ngủ rời rạc, mỗi nguồn soi một góc.

Góc thứ nhất là thành phần "dùng thuốc ngủ trong tháng qua" của PSQI. Ở 306 người cao tuổi tăng huyết áp nằm khoa lão tại Cần Thơ, 27,5% (84 người) cho biết đã dùng thuốc ngủ trong tháng qua (Nguyễn Văn Tuấn và cs., 2021). Câu hỏi này không phân biệt thuốc kê đơn, thuốc tự mua hay thảo dược. Người trả lời đang nằm viện, do đó con số có thể gồm cả thuốc dùng trong viện.

Góc thứ hai là đơn thuốc trong bệnh viện. Nghiên cứu ở 215 bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Thống Nhất TP.HCM dùng tiêu chuẩn Beers 2019 của Hội Lão khoa Hoa Kỳ (Nguyen Van Tan và cs., 2023). Có 31,2% bệnh nhân dùng ít nhất một thuốc có khả năng không phù hợp. Diazepam, một benzodiazepine tác dụng dài, là thuốc không phù hợp thường gặp nhất, với 55 trường hợp, bằng 27,2% số thuốc không phù hợp được ghi nhận. Nếu mỗi trường hợp ứng với một bệnh nhân thì con số này khoảng 25,6% số bệnh nhân; đây là phép chia của chúng tôi SL. Bài không cho biết giả định đó có đúng không. Đây là thuốc bác sĩ kê trong viện, không phải thuốc mua tự do.

Góc thứ ba là một tổng quan các nghiên cứu Việt Nam về mất ngủ giai đoạn 2020–2024 (Nguyễn Thanh Lâm và cs., 2025). Zolpidem là thuốc được nhắc nhiều nhất, trong 3 nghiên cứu. Ngoài ra có thuốc chống trầm cảm (amitriptyline, mirtazapine) và thuốc chống loạn thần (quetiapine, olanzapine). Tác giả nhận xét cách xử trí hiện vẫn chủ yếu dựa vào một loại thuốc. Chất lượng tổng quan này thấp: tóm tắt tiếng Anh ghi 10 nghiên cứu, tóm tắt tiếng Việt ghi 16.

Góc thứ tư là tự dùng thuốc nói chung. Một khảo sát cộng đồng ở một xã thuộc Quảng Nam năm 2017 ghi 65,8% người trưởng thành tự dùng thuốc tân dược không qua khám (Trương Thị Lê Huyền và cs., 2018). Có 90% thuốc tự dùng hoàn toàn không có nhãn, và 88,2% người tự dùng vì nghĩ mình bệnh nhẹ. Bài không có số liệu riêng cho thuốc ngủ, và cỡ mẫu ghi không nhất quán (291 ở phương pháp, 243 ở bảng kết quả).

Góc thứ năm là ngộ độc. Một luận án tiến sĩ tại Viện Karolinska (Thuỵ Điển) năm 2010 xếp thuốc ngủ vào nhóm tác nhân gây ngộ độc cấp thường gặp nhất trong các nghiên cứu bệnh viện ở miền Bắc Việt Nam (Tran Hung Ha, 2010). Luận án xác định việc tự dùng thuốc mua ở nhà thuốc mà không có tư vấn chuyên môn là một yếu tố nguy cơ phổ biến. Trang tóm tắt không có tỉ lệ, và dữ liệu thu trước năm 2010.

Ghép năm góc lại, chúng tôi chỉ nói được rằng thuốc ngủ có mặt cả trong đơn bệnh viện lẫn trong các ca ngộ độc. Tỉ lệ người Việt tự mua thuốc ngủ thì chúng tôi không ước lượng được SL.

Quy định kê đơn, danh mục hướng thần và việc bán lẻ#

Văn bản về kê đơn#

Thông tư 26/2025/TT-BYT về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, ban hành ngày 30/6/2025, hiệu lực từ 01/7/2025, thay các Thông tư 52/2017/TT-BYT, 18/2018/TT-BYT, 04/2022/TT-BYT và 27/2021/TT-BYT (Bộ Y tế, 2025). Thuốc hướng thần và tiền chất được kê trên đơn "H" làm 3 bản. Mỗi lần kê cho bệnh cấp tính không quá 10 ngày; với bệnh cần dùng thuốc dài ngày, không quá 30 ngày. Thuốc gây nghiện cho bệnh cấp tính được kê không quá 7 ngày. Cơ sở bán lẻ chỉ được bán thuốc không thuộc danh mục thuốc không kê đơn khi người mua có đơn, trong tối đa 5 ngày kể từ ngày kê. Chúng tôi đọc văn bản này qua một trang tổng hợp luật, không qua Công báo.

Danh mục hướng thần: văn bản cũ, văn bản mới và chỗ chúng tôi chưa đọc được#

Phụ lục II của Thông tư 20/2017/TT-BYT là danh mục dược chất hướng thần (Bộ Y tế, 2017; chúng tôi đọc danh mục năm 2017 qua một bản sao trên trang dữ liệu thuốc). Danh mục này có diazepam, alprazolam, lorazepam, phenobarbital và zolpidem; khi còn hiệu lực, các thuốc trong đó thuộc nhóm hướng thần, phải kê đơn "H" và được quản lý đặc biệt. Rotundin (tetrahydropalmatine) không có trong danh mục năm 2017. Chúng tôi cũng không thấy zopiclone trong bản này.

Thông tư 20/2017 đã hết hiệu lực từ 16/7/2026. Văn bản thay thế là Thông tư 18/2026/TT-BYT, ban hành ngày 01/6/2026, quy định chi tiết Luật Dược và Nghị định 163/2025/NĐ-CP về thuốc phải kiểm soát đặc biệt (Bộ Y tế, 2026). Theo phần văn bản mới chúng tôi đọc được, Phụ lục II vẫn mang tên danh mục hướng thần, và etomidate, carisoprodol được bổ sung vào nhóm hướng thần. Phần văn bản mới chúng tôi đọc được không nhắc rotundin. Tuy vậy, trang tổng hợp luật không hiện nội dung phụ lục. Vì vậy chúng tôi chưa xác nhận được danh mục mới có hay không có rotundin, cũng như việc danh mục mới giữ nguyên các thuốc ngủ kể trên.

Rotundin cần đơn hay không cũng chưa rõ qua văn bản. Điều duy nhất chúng tôi có là trang bán lẻ trực tuyến của một chuỗi nhà thuốc lớn, kiểm tra tháng 11/2026 NGÀNH. Trang ghi sản phẩm rotundin "chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ" (trang sản phẩm của một chuỗi nhà thuốc, 2026). Đây là quan sát một trang tại một thời điểm, chưa đối chiếu với Danh mục thuốc không kê đơn, và không cho biết việc kiểm tra đơn có diễn ra hay không.

Năng lực giám sát và dữ liệu bán thuốc không đơn#

Báo Công an Nhân dân tháng 7/2023 trích lời Trưởng phòng Quản lý hành nghề y tư nhân, Sở Y tế Hà Nội (Trâm Anh, 2023). Thành phố có khoảng 8.000 nhà thuốc và quầy thuốc, nhưng mỗi năm chỉ thanh tra được khoảng 150–200 cơ sở. Theo bài báo, bán thuốc kê đơn không có đơn bị phạt 10–20 triệu đồng theo Nghị định 124/2021/NĐ-CP; chúng tôi chưa đối chiếu văn bản nghị định. Phóng viên mua được kháng sinh kê đơn mà không cần đơn ở cả 2 nhà thuốc thử. Đây là nguồn báo chí, và thuốc thử mua là kháng sinh, không phải thuốc ngủ; nó chỉ minh hoạ năng lực giám sát.

Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu khách đóng giả (simulated client) nào ở Việt Nam đo tỉ lệ nhà thuốc bán benzodiazepine không đơn. Hai nghiên cứu dưới đây đều ở ngoài Việt Nam; chúng cho thấy loại nghiên cứu cần có, không dùng để suy ra tình hình trong nước.

Nước, nămThiết kếCỡ mẫuKết quả
Iran, 3 thành phố, 2022Bệnh nhân đóng giả, tình huống rối loạn giấc ngủ431 nhà thuốc, 549 lượt9,2% bán diazepam và 13,2% bán alprazolam không yêu cầu đơn; 58,9% có tư vấn
Tanzania, Dar es Salaam, 2018Khách đóng giả xin diazepam cho người thân lo âu, hoảng sợ hoặc mất ngủ178 nhà thuốc91% có diazepam; 70% người bán (112/160) bán không cần đơn

Ở Iran, tư vấn có diễn ra nhưng thường thiếu nội dung quan trọng (Banitaba Joshaghani và Sarahroodi, 2024). Ở Tanzania, 30% người bán còn lại từ chối với lý do đây là thuốc kiểm soát (Mikomangwa và cs., 2019). Khoảng cách giữa 9,2% và 70% có thể do bối cảnh từng nước, nhưng cũng có thể do kịch bản và mẫu số khác nhau (nhà thuốc ở Iran, người bán ở Tanzania). Ở Tanzania, khách xin đích danh diazepam, ở Iran khách trình bày rối loạn giấc ngủ SL.

Hai cách đếm thời gian dùng thuốc#

Hướng dẫn Mất ngủ châu Âu 2023 viết rằng benzodiazepine và các chất chủ vận thụ thể benzodiazepine có thể dùng ngắn hạn, tối đa 4 tuần (mức A) (Riemann và cs., 2023). Điều kiện là liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ không hiệu quả hoặc không có sẵn. Thông tư 26/2025 cho phép mỗi lần kê thuốc hướng thần tới 30 ngày với bệnh cần dùng dài ngày. Hai con số không đo cùng một thứ: con số châu Âu là khuyến nghị về tổng thời gian dùng cho người mất ngủ, con số Việt Nam là giới hạn hành chính cho một đơn SL.

Lợi ích và tác hại của thuốc ngủ ở người cao tuổi#

Lợi ích nhỏ, tác hại đo được#

Một phân tích gộp 24 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) có giả dược đã so lợi và hại của thuốc ngủ ở người cao tuổi (Glass và cs., 2005). Các thử nghiệm gồm 2.417 người từ 60 tuổi trở lên mất ngủ, dùng benzodiazepine và các thuốc cùng nhóm. Tổng thời gian ngủ (total sleep time, TST) chỉ tăng trung bình 25,2 phút. Tỉ số chênh của biến cố về nhận thức gần 5 (OR 4,78; 1,47–15,47), của mệt mỏi ban ngày gần 4 (OR 3,82; 1,88–7,80). Quy ra số người: cứ 13 người dùng thì 1 người ngủ khá hơn, cứ 6 người dùng thì 1 người gặp biến cố bất lợi. Kết cục chủ yếu là tự báo cáo, một phần đo bằng đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG).

Một phân tích gộp các nghiên cứu quan sát năm 2017, chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, ghi rằng dùng benzodiazepine đi kèm nguy cơ gãy cổ xương đùi tăng 52% (tỉ số nguy cơ, relative risk, RR 1,52; 1,37–1,68) (Donnelly và cs., 2017). Với nhóm thuốc ngủ thường gọi là Z-drug (zolpidem, zopiclone và các thuốc tương tự), mức tăng là 90% (RR 1,90; 1,68–2,13). Nguy cơ cao nhất ở người mới bắt đầu dùng: RR 2,40 (1,88–3,05) với benzodiazepine và 2,39 (1,74–3,29) với Z-drug. Đây là dữ liệu quan sát; người dùng thuốc ngủ thường yếu hơn người không dùng, do đó một phần mối liên quan có thể do nhiễu theo chỉ định. Dù vậy, số liệu không ủng hộ niềm tin rằng Z-drug ít rủi ro gãy xương hơn benzodiazepine.

Năm 2019, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration, FDA) yêu cầu cảnh báo đóng khung cho eszopiclone, zaleplon và zolpidem (FDA, 2019). Quyết định dựa trên 66 ca hành vi phức tạp khi ngủ như mộng du hay lái xe khi ngủ, gây thương tích nghiêm trọng trong khoảng 26 năm. Trong đó có 20 ca tử vong và 46 ca thương tích nặng. FDA đồng thời chống chỉ định các thuốc này cho người từng có hành vi như vậy khi dùng thuốc. Vì dựa trên báo cáo tự nguyện, 66 ca là mức tối thiểu chứ không phải tỉ lệ. Như đã nêu, zolpidem là thuốc được nhắc nhiều nhất trong các nghiên cứu Việt Nam giai đoạn 2020–2024.

Hướng dẫn lâm sàng nói gì#

Chúng tôi thuật lại hai hướng dẫn đúng như văn bản. Hướng dẫn dùng thuốc cho mất ngủ mạn tính năm 2017 của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) đưa ra một khuyến cáo yếu (Sateia và cs., 2017). Khuyến cáo đề nghị bác sĩ không dùng valerian, diphenhydramine, melatonin, L-tryptophan, trazodone và tiagabine cho mất ngủ khó vào giấc hay khó duy trì giấc. Với zolpidem, chất lượng bằng chứng được xếp "rất thấp". Hướng dẫn không đề cập rotundin.

Hướng dẫn Mất ngủ châu Âu 2023 xếp liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) là lựa chọn đầu tay cho mất ngủ mạn tính, mức A (Riemann và cs., 2023). Hướng dẫn khuyến cáo không dùng thảo dược, thuốc kháng histamin, thuốc chống loạn thần, melatonin giải phóng nhanh và ramelteon cho mất ngủ, mức A. Benzodiazepine và Z-drug có thể được dùng ngắn hạn như đã nêu; dùng dài hơn chỉ xét theo từng ca (mức B). Các lựa chọn không dùng thuốc được bàn ở trang can thiệp mất ngủ theo hướng dẫn.

Bình vôi và rotundin#

Từ củ bình vôi tới viên rotundin#

Rotundin là tên thuốc của levo-tetrahydropalmatine (l-THP). Hoạt chất này có trong các cây chi Stephania, nhóm cây được gọi là bình vôi, và trong chi Corydalis. Bình vôi mọc tự nhiên ở Thái Nguyên được định danh là Stephania brachyandra. Phác đồ ngộ độc rotundin của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương ghi cơ chế tác dụng là ức chế hệ lưới và thụ thể dopamin ở não (Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, 2021). Theo cơ chế đó, l-THP gần nhóm thuốc đối kháng dopamin hơn là gần hình ảnh một "thảo dược nhẹ" SL.

Bằng chứng về giấc ngủ#

Một tổng quan tường thuật năm 2022 về tetrahydropalmatine (THP) là nguồn tổng hợp đầy đủ nhất chúng tôi đọc được (Du và cs., 2022). Dữ liệu về giấc ngủ trong tổng quan là dữ liệu ở chuột nhắt được tiêm hoạt chất vào khoang bụng. Ở chuột nhắt, THP làm tăng giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh (non-rapid eye movement, NREM). Thử nghiệm duy nhất trên người được nêu là một RCT mù đôi có giả dược ở người dùng cocaine, không phải người mất ngủ. Đợt dùng THP trong thử nghiệm đó kéo dài 3,5 ngày và được dung nạp tốt, quá ngắn để đánh giá độc tính gan khi dùng kéo dài. Chúng tôi chưa mở được bài gốc của thử nghiệm này. Tổng quan được tài trợ bởi các quỹ khoa học cấp quốc gia và cấp tỉnh của Trung Quốc, không phải ngành dược.

Như vậy, số thử nghiệm trên người mất ngủ mà tổng quan này nêu là 0. Trong khi đó, một tổng quan phạm vi 2025 về y học cổ truyền ở Việt Nam ghi 3 trong 6 nghiên cứu thảo dược cho mất ngủ dùng rotundin làm thuốc đối chứng (Lê Thùy Chi và Nguyễn Duy Tuân, 2025). Khi chuẩn so sánh là một thuốc mà chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm giả dược nào cho mất ngủ, các kết quả đó khó diễn giải SL.

Độc tính ở người#

Phác đồ của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương ghi rằng chưa có tài liệu nào xác định liều ngộ độc rotundin (Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, 2021). Hầu hết bệnh nhân ngộ độc có bất thường điện tim như ST chênh lên, T đảo hay QT kéo dài. Có thể gặp nhịp chậm xoang, block nhĩ thất độ I, tụt huyết áp và ức chế thần kinh trung ương tới hôn mê. Phác đồ cũng ghi viêm gan là tác dụng có thể gặp, chủ yếu ở người dùng kéo dài. Chúng tôi không có số liệu tần suất ngộ độc rotundin ở Việt Nam.

Dữ liệu ca bệnh rõ nhất về gan đến từ Hoa Kỳ. Năm 1993, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention, CDC) báo cáo 3 ca viêm gan cấp ở Los Angeles (CDC, 1993). Ba bệnh nhân là phụ nữ 24, 45 và 66 tuổi, cùng dùng chế phẩm Jin Bu Huan mua ở một cửa hàng. Phân tích viên thuốc của 2 bệnh nhân cho thấy l-THP chiếm 36% khối lượng viên, trong khi nhãn ghi nguồn gốc là Polygala chinensis. Men gan alanine aminotransferase (ALT) cao nhất là 1.468 U/L, so với mức bình thường dưới 40. Một bệnh nhân dùng lại sản phẩm thì men gan tăng trở lại, rồi về bình thường sau khi ngừng. Lần tái phơi nhiễm không chủ đích này làm mối liên quan khó bỏ qua SL. Báo cáo cũng nhắc 3 trẻ em ở Colorado uống quá liều Jin Bu Huan bị ức chế thần kinh trung ương, ức chế hô hấp và nhịp tim chậm đe doạ tính mạng.

Báo cáo loạt ca không cho tỉ lệ mắc. Một bệnh nhân còn dùng thêm Ma Huang (chứa ephedrin) từng đợt, là một yếu tố nhiễu. Tổng quan năm 2022 không nhắc các ca viêm gan Jin Bu Huan và dẫn một nghiên cứu trên chuột không thấy tổn thương gan rõ (Du và cs., 2022). Dù vậy, tổng quan ghi rằng nghiên cứu độc tính của THP còn hạn chế, và phần tóm tắt viết THP có thể có độc tính trên tim và thần kinh.

Hàm lượng hoạt chất không đồng đều#

Một nghiên cứu nông–lâm học phân tích 160 mẫu củ bình vôi mọc tự nhiên ở Thái Nguyên, thu tháng 10/2021 (Dương Văn Thảo, 2024). Hàm lượng rotundin dao động gần 11 lần, từ 90,4 đến 981 mg/100 g. Trung bình theo huyện từ 102 đến 312 mg/100 g, và hàm lượng tương quan chặt với đường kính củ (R = 0,94). Các bảng theo huyện còn có một số mẫu 0 mg/100 g mà khoảng tóm tắt không giải thích. Đây là dữ liệu dược liệu, không phải dữ liệu người. Hệ quả trực tiếp là người dùng củ bình vôi không có cách biết lượng l-THP mình thực nhận SL.

Một chế phẩm viên nén phối hợp thảo dược có số đăng ký VD-20778-14 ghi thành phần gồm bình vôi, lá sen, lạc tiên, lá vông nem và trinh nữ (VNRAS, 2026). Trang thông tin thuốc không nêu hàm lượng rotundin và không có cảnh báo về gan. Chúng tôi chưa tìm được RCT nào cho chế phẩm phối hợp này. Lạc tiên, sen và vông nem được bàn ở chương về thảo dược, châm cứu và dưỡng sinh; dữ liệu ở đó là về hạt sen và vỏ thân vông nem, không phải lá.

Thông tin bán lẻ và báo chí so với y văn#

Ba nguồn phổ thông dưới đây là NGÀNH hoặc báo chí, không phải bằng chứng lâm sàng.

Trang bán lẻ của chuỗi nhà thuốc nêu ở trên không có cảnh báo nào về gan hay tim (trang sản phẩm của một chuỗi nhà thuốc, 2026). Trang chỉ cảnh báo buồn ngủ khi lái xe, thai kỳ, cho con bú và việc dùng cùng thuốc ức chế thần kinh trung ương. Trang còn mô tả hoạt chất có tác dụng "điều hoà nhịp tim, hạ huyết áp", trong khi phác đồ ngộ độc xếp nhịp chậm và tụt huyết áp vào biểu hiện ngộ độc.

Một bài báo sức khoẻ trên VnExpress năm 2024 có tiêu đề gọi củ bình vôi là "vị thuốc quý" cho người mất ngủ (Mỹ Ý, 2024). Bài có cảnh báo về buồn ngủ, về người có bệnh tim hay rối loạn nhịp, về ngộ độc khi quá liều, và khuyến cáo không tự ý sử dụng. Bài không nhắc nguy cơ với gan.

Một bài tư vấn của một hệ thống bệnh viện tư lớn, cập nhật tháng 7/2024, viết về tác dụng của rotundin lên giấc ngủ như một điều đã được kiểm chứng (Vinmec, 2024). Bài không dẫn nghiên cứu nào. Bài cảnh báo liều cao có thể gây kích thích thần kinh trung ương, co giật và ngộ độc khi tự dùng, nhưng không nhắc độc tính gan hay tim.

Điều thông tin phổ thông viếtĐiều y văn chúng tôi đọc được ghiLoại nguồn phía y văn
Tác dụng lên giấc ngủ đã được kiểm chứngDữ liệu giấc ngủ ở chuột nhắt; 0 thử nghiệm trên người mất ngủ được nêuTổng quan tường thuật 2022
Không nhắc nguy cơ gan3 ca viêm gan cấp liên quan chế phẩm chứa l-THP, một ca men gan tăng lại khi dùng lại; phác đồ trong nước ghi viêm gan chủ yếu khi dùng kéo dàiBáo cáo loạt ca 1993; phác đồ bệnh viện
"Điều hoà nhịp tim, hạ huyết áp"Nhịp chậm, block nhĩ thất, tụt huyết áp là biểu hiện ngộ độcPhác đồ bệnh viện
Không nêu hàm lượng hoạt chấtHàm lượng trong củ chênh gần 11 lần giữa các mẫuNghiên cứu dược liệu 2024

Một lời giải thích khả dĩ cho khoảng cách này là thông tin phổ thông dựa trên truyền thống và sách dược liệu, không dựa trên thử nghiệm. Một giả thuyết khác, chưa có nguồn kiểm chứng, là viêm gan do l-THP ít gặp và xuất hiện sau thời gian dùng dài, do đó khó được nhận ra SL.

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu khách đóng giả nào ở Việt Nam đo tỉ lệ nhà thuốc bán benzodiazepine hay thuốc ngủ không đơn. Hai mốc hiện có đều ở ngoài Việt Nam: Tanzania 70% và Iran 9,2% với diazepam, 13,2% với alprazolam.
  • Chưa có khảo sát quốc gia nào chúng tôi tìm được về cách người Việt tự xử lý mất ngủ, gồm tỉ lệ dùng thảo dược, rotundin hay thuốc mua không đơn.
  • Chưa tìm được số liệu về tỉ lệ người Việt dùng bình vôi hay rotundin, thời gian dùng, hay loạt ca viêm gan do rotundin ở Việt Nam. Chúng tôi cũng chưa tìm được văn bản cảnh báo của Cục Quản lý Dược về độc tính gan của rotundin.
  • Theo phác đồ của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, chưa có tài liệu nào xác định liều ngộ độc rotundin. Số ca ngộ độc rotundin tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai chúng tôi không đọc được.
  • Chưa tìm được RCT nào trên người mất ngủ cho bình vôi hay l-THP, cũng như cho các chế phẩm phối hợp bán phổ biến ở Việt Nam.
  • Chúng tôi chưa đọc được Phụ lục II của Thông tư 18/2026/TT-BYT, và chưa đối chiếu chuyên luận Dược điển Việt Nam V về bình vôi.
  • Chưa tìm được dữ liệu Việt Nam về té ngã hay gãy xương liên quan thuốc ngủ ở người cao tuổi.

Viết tắt trong trang

AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
CBT-I
liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
FDA
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
RR
nguy cơ tương đối (relative risk)
TST
tổng thời gian ngủ (total sleep time)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Thuốc ngủ tự dùng, thuốc kê đơn và bình vôi. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/thuoc-ngu-tu-dung-thuoc-va-binh-voi/