Chương này xem bằng chứng về bốn tập quán ngủ trong gia đình: cho trẻ nằm võng, quấn chặt trẻ, vợ chồng ngủ chung giường, và giấc ngủ của người cao tuổi sống cùng con cháu. Kết luận chung là bằng chứng mỏng ở cả bốn mảng và gần như không có từ Việt Nam. Về võng, báo cáo kỹ thuật năm 2022 của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) viết chưa đủ bằng chứng để khuyến nghị dùng hay không dùng. Tuyên bố chính sách cùng năm viết võng không đạt tiêu chuẩn an toàn liên bang nhiều khả năng không an toàn cho trẻ ngủ. Thử nghiệm duy nhất chúng tôi tìm được chỉ gồm 20 trẻ sinh non trong khoa hồi sức. Về vợ chồng, ba nghiên cứu nhỏ cho kết quả khác nhau tuỳ cách đo. Ở người cao tuổi Việt Nam đã có khảo sát đại diện quốc gia, nhưng chưa có nghiên cứu nào đo giấc ngủ theo kiểu nhà nhiều thế hệ.
Võng: tập quán quen thuộc, bằng chứng mỏng#
Võng và nôi vải treo có mặt trong tập quán chăm trẻ ở nhiều nơi tại Đông Nam Á. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu định lượng nào về tỉ lệ dùng hay về an toàn của võng ở trẻ Việt Nam. Bằng chứng quốc tế gồm bốn loại rất khác nhau: một tài liệu tổng hợp cho nhân viên y tế, một thông báo thu hồi sản phẩm, một khảo sát người chăm sóc và một thử nghiệm nhỏ trong bệnh viện. Trước khi đọc chúng, cần phân biệt hai loại võng. Võng em bé kiểu phương Tây trong thông báo thu hồi của Uỷ ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Mỹ (Consumer Product Safety Commission, CPSC) có đệm và treo trên khung. Theo nhận xét của chúng tôi, loại này khác võng lưới hay võng vải thường gặp ở Việt Nam SL; mô tả võng có đệm, treo khung lấy từ thông báo thu hồi (CPSC, 2010).
Những gì các nguồn ghi nhận#
Trang Nguồn Thông tin Giấc ngủ Trẻ nhỏ (Infant Sleep Information Source, ISIS) của Anh có một tài liệu dành cho nhân viên y tế. Tài liệu ghi nhận mối lo về an toàn võng em bé xuất phát từ 2 ca trẻ tử vong trong võng (ISIS, không ghi năm). Trang dẫn các nghiên cứu ở Đông Nam Á cho thấy trẻ dùng võng hay nôi vải truyền thống dễ bị chấn thương đầu nặng. Trang cũng viết rằng các quảng cáo võng giảm đột tử hay giảm méo đầu không có bằng chứng. Đây không phải tổng quan hệ thống, và trang không ghi ngày cập nhật trong phần chúng tôi đọc được. Trang cũng dẫn một nghiên cứu năm 2014 kết luận không khác biệt về an toàn khi dùng võng đúng cách; chúng tôi chưa mở được bài gốc.
Tháng 8/2010, CPSC thu hồi khoảng 500 võng em bé (CPSC, 2010). Lý do là võng có thể nghiêng, làm trẻ lăn và bị kẹt vào vải hoặc đệm, gây nguy cơ ngạt. Cơ quan này nhận 3 báo cáo võng mất cân bằng, trong đó một trẻ 2 tháng tuổi được phát hiện nằm úp mặt, và không có thương tích. Một thông báo thu hồi cho biết một sản phẩm có lỗi thiết kế, không đo được nguy cơ của võng nói chung.
Ở Malaysia, khảo sát 403 người chăm sóc chính trẻ nhũ nhi tại một phòng khám cộng đồng ở Petaling Jaya năm 2012–2013 ghi nhận nhiều người dùng nôi vải treo (buaian) (Ramdzan và cs., 2014). Tỉ lệ đáp ứng là 97,8%, nhưng bài không nêu tỉ lệ dùng nôi vải cụ thể. Tác giả dẫn một nghiên cứu năm 1997 rằng mọi chấn thương liên quan nôi vải đều ở đầu, có ca tụ máu ngoài màng cứng và vỡ xương sọ. Phần dữ liệu chấn thương là dẫn lại; chúng tôi chưa mở được bài gốc.
Thử nghiệm duy nhất: 20 trẻ sinh non trong khoa hồi sức#
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) duy nhất chúng tôi tìm được làm ở khoa hồi sức sơ sinh tại Brasília (Costa và cs., 2019). Đây là thiết kế chéo: mỗi trẻ lần lượt nằm võng và nằm "tổ" quây, theo thứ tự ngẫu nhiên, cách nhau 24 giờ nghỉ. Có 28 trẻ tham gia và 20 trẻ hoàn tất, tuổi thai hiệu chỉnh 32–37 tuần, cân nặng 1.300–2.000 g.
Thử nghiệm không thấy khác biệt có ý nghĩa giữa hai điều kiện về nhịp tim (p = 0,62), độ bão hoà oxy hay trạng thái ngủ (p = 0,35–0,81) sau thay tã. Trạng thái ngủ–thức được mã hoá từ video theo thang Prechtl, người đánh giá không bị làm mù, và mỗi lần theo dõi chỉ khoảng 16 phút quanh lần thay tã. Phần tóm tắt viết võng có lợi cho giấc ngủ, nhưng nhận định đó dựa trên so sánh trong cùng điều kiện võng, không phải giữa hai điều kiện.
Giới hạn quan trọng nhất là bối cảnh. Võng trong thử nghiệm là dụng cụ chăm sóc sơ sinh trong bệnh viện, với trẻ được theo dõi liên tục bằng máy. Kết quả ở 20 trẻ sinh non trong khoa hồi sức không áp dụng cho trẻ đủ tháng ngủ võng ở nhà, không người theo dõi, trong nhiều giờ.
Khuyến nghị của AAP năm 2022 và một mâu thuẫn bề ngoài#
AAP năm 2022 ban hành hai văn bản cùng lúc: một báo cáo kỹ thuật tổng hợp bằng chứng và một tuyên bố chính sách nêu khuyến nghị kèm mức (A, B, C). Báo cáo kỹ thuật nhận định chưa đủ bằng chứng công bố để khuyến nghị dùng hay không dùng các bề mặt ngủ thay thế, trong đó có võng (Moon và cs., 2022, báo cáo kỹ thuật). Báo cáo cũng dẫn quy định tháng 6/2021 của CPSC. Theo quy định này, mọi sản phẩm ngủ cho trẻ từ 5 tháng tuổi trở xuống phải đạt tiêu chuẩn an toàn liên bang hiện hành cho cũi, nôi, quây và nôi kê cạnh giường.
Tuyên bố chính sách đặt võng trong khuyến nghị 2, mức A, về bề mặt ngủ chắc, phẳng, không nghiêng (Moon và cs., 2022, tuyên bố chính sách). Mục 2g viết rằng võng, sản phẩm ngủ nghiêng, hộp giấy và nôi đặt trong giường không đạt tiêu chuẩn an toàn liên bang thì nhiều khả năng không an toàn cho trẻ ngủ. Mục 2a ghi bề mặt nghiêng quá 10 độ là không an toàn. Mục 2l viết ghế ô tô, xe đẩy, xích đu và địu không được khuyến nghị làm chỗ ngủ thường xuyên. Mục 2g không có mức khuyến nghị riêng.
Thoạt nhìn, "chưa đủ bằng chứng để khuyến nghị cho hay chống" và "nhiều khả năng không an toàn" có vẻ trái nhau. Theo cách đọc của chúng tôi, đây không phải mâu thuẫn thực chất. Câu thứ nhất nói về việc thiếu nghiên cứu dịch tễ; câu thứ hai nói về yêu cầu tiêu chuẩn sản phẩm. Mức A của khuyến nghị 2 áp cho bề mặt chắc, phẳng, không nghiêng; nó không phải một mức bằng chứng riêng về võng. Chúng tôi thuật lại cả hai văn bản như chúng viết, không chuyển thành lời khuyên.
| Nguồn | Loại bằng chứng | Mẫu hoặc phạm vi | Điều nói được | Điều không nói được |
|---|---|---|---|---|
| ISIS (Anh) | Tài liệu tổng hợp cho nhân viên y tế | 2 ca tử vong được nêu | Có mối lo về an toàn, có báo cáo chấn thương đầu | Tỉ lệ biến cố, nguy cơ so với cũi |
| CPSC, 2010 | Thông báo thu hồi | Khoảng 500 võng em bé, 3 sự cố | Một mẫu võng có đệm có thể nghiêng và gây kẹt | Nguy cơ của võng lưới, võng vải |
| Ramdzan và cs., 2014 | Khảo sát cắt ngang | 403 người chăm sóc, Malaysia | Nôi vải treo được dùng; chấn thương đầu (dẫn lại) | Tỉ lệ dùng, tỉ lệ chấn thương |
| Costa và cs., 2019 | RCT chéo trong bệnh viện | 20 trẻ sinh non hoàn tất | Không khác biệt nhịp tim, trạng thái ngủ trong khoảng 16 phút | An toàn khi ngủ võng ở nhà |
| AAP 2022 | Hướng dẫn chính thức | Không áp dụng | Chưa đủ bằng chứng dịch tễ; sản phẩm không đạt tiêu chuẩn nhiều khả năng không an toàn | Nguy cơ định lượng của võng |
Bảng 1. Các nguồn về võng và giấc ngủ của trẻ. Không nguồn nào ở Việt Nam.
Quấn chặt trẻ, tư thế ngủ và núm vú giả#
Quấn chặt và đột tử trẻ sơ sinh#
Phân tích gộp của Pease và cộng sự gồm 4 nghiên cứu bệnh–chứng ở Anh, Mỹ và Úc, với 760 ca hội chứng đột tử trẻ sơ sinh (sudden infant death syndrome, SIDS) và 1.759 trẻ chứng (Pease và cs., 2016). Quấn chặt trẻ (swaddling) đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) 1,4 cho SIDS. Có 17,5% ca SIDS được quấn, so với 10,8% trẻ chứng. Chúng tôi đọc qua bản tóm tắt thứ cấp và thông cáo của Đại học Bristol, chưa đọc bài gốc.
Khi phân tầng theo tư thế, so với trẻ chứng cùng tư thế, nguy cơ đi kèm quấn chặt là khoảng 13 lần khi trẻ nằm sấp, 3 lần khi nằm nghiêng và 2 lần khi nằm ngửa. Ở trẻ trên 6 tháng tuổi, con số là khoảng 2,5 lần so với trẻ chứng cùng tuổi. Bản tóm tắt thứ cấp không ghi rõ các con số phân tầng này là OR. Chỉ có 4 nghiên cứu, thực hiện trong hai thập kỷ, với độ dị biệt cao, nên các ước lượng phân tầng kém chắc chắn hơn con số gộp SL.
Khuyến nghị số 15 của AAP 2022, mức C, viết rằng không có bằng chứng để khuyến nghị quấn chặt như một biện pháp giảm SIDS (Moon và cs., 2022, tuyên bố chính sách). Khăn quấn có trọng lượng, hoặc đặt vật nặng trong khăn quấn, được AAP xếp là không an toàn. Theo AAP, khi trẻ có dấu hiệu tập lật, thường lúc 3–4 tháng và có thể sớm hơn, thì không nên quấn nữa vì có thể tăng nguy cơ ngạt. Thông cáo của Đại học Bristol về phân tích của Pease đặt mốc dừng quấn muộn hơn, khoảng 4–6 tháng. Hai mốc khác nhau nhưng cùng dựa trên thời điểm trẻ biết lật.
Quấn chặt và khớp háng#
Mối lo thứ hai với quấn chặt là khớp háng. Theo bài quan điểm chỉnh hình của Clarke, khoảng 90% trẻ ở Bắc Mỹ được quấn trong vài tháng đầu, và nhu cầu khăn quấn ở Anh tăng 61% năm 2010/2011 (Clarke, 2014). Bài dẫn một nhóm nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ trong đó 88% trẻ được quấn. Bài quan điểm này đề xuất cách "quấn an toàn" để chân trẻ có thể co lên và dạng ra ở khớp háng; đây là ý kiến chuyên gia, không phải hướng dẫn chính thức.
Clarke cũng thuật lại một chương trình giáo dục ở Nhật Bản, ban đầu nhắm vào các bà, nhằm bỏ tập quán quấn chặt chân trẻ truyền thống. Tỉ lệ trật khớp háng ở trẻ giảm từ 1,1–3,5% xuống 0,2% sau chương trình. Đây là so sánh trước–sau không có nhóm chứng, bài không nêu năm triển khai hay cỡ mẫu. Mức giảm có thể một phần do thay đổi cách chẩn đoán và các yếu tố khác cùng thời kỳ. Chúng tôi chưa tìm được số liệu về tỉ lệ quấn chặt trẻ ở Việt Nam.
Tư thế ngủ#
AAP 2022 tổng hợp các nghiên cứu bệnh–chứng: tư thế nằm sấp đi kèm OR 2,3–13,1 cho SIDS (Moon và cs., 2022, báo cáo kỹ thuật). Trẻ thường được đặt nằm ngửa nhưng có lần bị đặt nằm sấp, tức tư thế không quen, đi kèm OR hiệu chỉnh 8,7–45,4. Khoảng rộng này là dải giá trị của các nghiên cứu riêng lẻ mà AAP liệt kê, phản ánh sự khác nhau giữa các nghiên cứu SL.
Số liệu châu Á về tư thế ngủ rất ít. Một khảo sát 170 cha mẹ có con dưới 6 tháng ở Hàn Quốc, công bố năm 2006, ghi 4,7% cho trẻ nằm sấp, 7,1% nằm nghiêng, 45,3% nằm ngửa và 34,7% lúc nghiêng lúc ngửa (Lee và cs., 2006). Chỉ 6% được bác sĩ nhi tư vấn về tư thế ngủ. Mẫu nhỏ, không rõ địa điểm, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt tiếng Anh. Trong một loạt ca khám nghiệm tử thi SIDS ở Hàn Quốc giai đoạn 1996–2008, 44,7% trẻ (75/168 ca có thông tin tư thế) tử vong sau khi được đặt nằm sấp hoặc nằm nghiêng (Yoo và cs., 2013). Loạt ca không có nhóm chứng nên không đo được nguy cơ.
Núm vú giả và ngủ chung phòng#
AAP 2022 khuyến nghị, mức A, cho trẻ ngậm núm vú giả khi ngủ trưa và ngủ đêm để giảm nguy cơ SIDS (Moon và cs., 2022, tuyên bố chính sách). Cũng theo AAP, ngủ chung phòng nhưng không chung giường có tác dụng bảo vệ trong cả năm đầu; AAP khuyến nghị chung phòng lý tưởng ít nhất 6 tháng. Chưa có bằng chứng cụ thể về thời điểm an toàn để chuyển trẻ sang phòng riêng trước 1 tuổi. Báo cáo kỹ thuật nêu rằng cách sắp xếp chung phòng, bề mặt riêng giảm nguy cơ SIDS tới 50% (Moon và cs., 2022, báo cáo kỹ thuật).
Chúng tôi thuật lại các khuyến nghị này đúng như văn bản, không chuyển thành lời khuyên. Định nghĩa SIDS, dịch tễ ở châu Á và tranh luận về ngủ chung giường được trình bày trong chương về đột tử trẻ sơ sinh và ngủ chung giường. Thông tin thực hành dành cho phụ huynh nằm ở trang trẻ sơ sinh ngủ an toàn.
Vợ chồng ngủ chung giường#
Ba nghiên cứu chúng tôi đọc được đo giấc ngủ của người ngủ chung theo ba cách khác nhau, và cho ba bức tranh khác nhau. Không nguồn nào có dữ liệu châu Á.
Trong phòng thí nghiệm: giấc ngủ cử động mắt nhanh nhiều và ổn định hơn#
Drews và cộng sự đo đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) đồng thời ở 12 cặp đôi trẻ dị tính tại Đức, tổng cộng 24 người, tuổi trung bình 23,5 (Drews và cs., 2020). Mỗi cặp ngủ cả hai điều kiện, cùng nhau và riêng, trong 4 đêm có đối trọng thứ tự; giai đoạn ngủ do một người chấm không biết điều kiện. Ngủ cùng nhau đi kèm tỉ lệ giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) cao hơn: 23,0% so với 21,0% (p = 0,005). Giấc REM cũng ít bị ngắt quãng hơn, 5,4 so với 8,5 lần.
Tổng thời gian ngủ gần như không đổi, 467,1 so với 467,6 phút. Các giai đoạn ngủ của hai người đồng bộ trong 46,9% thời gian đêm khi ngủ chung, so với 36,6% khi ngủ riêng (p = 0,005). Mức độ gắn bó của mối quan hệ đi kèm mức đồng bộ cao hơn (p = 0,035). Ngược lại, chỉ số cử động chân cao hơn khi ngủ chung (61,5 so với 50,9; chúng tôi chưa ghi được đơn vị đo).
Giới hạn của nghiên cứu này lớn. Mẫu rất nhỏ, gồm người trẻ khoẻ mạnh, và điều kiện "ngủ chung" là hai giường đơn kê sát nhau chứ không phải một giường đôi thật. Kinh phí là nội bộ của Đại học Kiel, với Quỹ Nghiên cứu Đức (Deutsche Forschungsgemeinschaft, DFG) hỗ trợ phí xuất bản.
Tại nhà: cử động nhiều hơn nhưng tự thấy ngủ tốt hơn#
Pankhurst và Horne đo actigraphy cổ tay, tức thiết bị ghi cử động, ở 46 cặp vợ chồng tại Anh, tuổi 23–67, trong 8 đêm. Bài còn một nghiên cứu chính trên 400 người và một phần so sánh khi người nằm cạnh vắng mặt, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt (Pankhurst và Horne, 1994). Khoảng một phần ba cử động trong giấc ngủ xảy ra cùng lúc ở cả hai người, trong cùng khoảng 30 giây. Người ngủ chung cử động nhiều hơn người ngủ một mình. Dù vậy, phần lớn người tham gia lại tự nhận ngủ tốt hơn khi có vợ hoặc chồng bên cạnh. Phụ nữ báo bị người nằm cạnh làm phiền nhiều hơn nam giới.
Khi người nằm cạnh ngáy#
Theo thông cáo báo chí của Mayo Clinic năm 1999, một nghiên cứu ở 10 cặp vợ chồng có người chồng ngáy đo PSG đồng thời cả hai người (Mayo Clinic, 1999). Có 43% số lần vi thức giấc (arousal) của người vợ liên quan tiếng ngáy của chồng. Khi người chồng dùng thiết bị thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure, CPAP) dạng mặt nạ và ngừng ngáy, vi thức giấc của vợ giảm 39%. Phần trăm thời gian vợ ngủ được tăng từ 74% lên 87%. Đây là so sánh trước–sau không nhóm chứng ở 10 cặp; chúng tôi chỉ đọc qua thông cáo, chưa mở bài gốc.
Wendy Troxel viết một bài tổng quan phổ thông trên trang Hội Nghiên cứu Giấc ngủ Mỹ. Bài dẫn một nghiên cứu actigraphy cặp đôi năm 2009 rằng có tới 30% chất lượng giấc ngủ của một người chịu ảnh hưởng bởi giấc ngủ của người nằm cạnh (Troxel, không ghi năm). Đây là nguồn thứ cấp, và chúng tôi chưa kiểm được con số 30% được tính thế nào.
Nguồn gốc của khác biệt#
PSG trong phòng thí nghiệm cho thấy giấc REM ổn định hơn khi ngủ chung; actigraphy tại nhà cho thấy nhiều cử động hơn; cảm nhận chủ quan lại nghiêng về ngủ chung. Khi người nằm cạnh ngáy, một nghiên cứu nhỏ qua thông cáo cho thấy tiếng ngáy đi kèm nhiều vi thức giấc của người vợ. Kết quả có thể phụ thuộc vào phương pháp đo, độ tuổi và tình trạng ngáy hay bệnh của người nằm cạnh SL. Theo chúng tôi, vì thế không thể rút ra một kết luận chung "ngủ chung tốt" hay "ngủ chung xấu" SL. Các khía cạnh thực tế của việc ngủ chung giường được bàn ở trang ngủ chung giường.
Người cao tuổi Việt Nam trong nhà nhiều thế hệ#
Hình thái sống#
Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam, LSAHV) là khảo sát hộ gia đình đại diện quốc gia. Đợt nền năm 2018 gồm 6.050 người từ 60 tuổi và 23.409 thành viên hộ (Tran và cs., 2020). Có 61,3% người cao tuổi sống cùng ít nhất một người con, 19,4% chỉ sống với vợ hoặc chồng, và 8,6% sống một mình. Tỉ lệ sống một mình ở nữ là 11,6%, ở nam là 4,4%. Quy mô hộ trung bình là 3,87 người. Tỉ lệ "sống với con" không tính con dâu hay con rể.
Giấc ngủ tự báo cáo#
Cũng trong LSAHV 2018, người cao tuổi tự báo cáo ngủ trung bình 5,36 giờ mỗi đêm, với 5.009 người trả lời câu hỏi này (Chen và Saito, 2020). Nam ngủ 5,52 giờ, nữ 5,23 giờ. Thời lượng giảm theo tuổi: 5,51 giờ ở nhóm 60–69, 5,15 giờ ở nhóm 70–79 và 5,02 giờ ở nhóm từ 80 tuổi.
Theo nhận xét của chúng tôi, con số 5,36 giờ có vẻ thấp với người cao tuổi SL. Hai lý do khả dĩ: câu hỏi có thể được hiểu là giờ ngủ thực chứ không tính thời gian nằm, và sai số nhớ lại. Giấc ngủ không được đo khách quan. Vì vậy chúng tôi đọc con số này như một mức tự báo cáo theo một cách hỏi cụ thể, không như thời lượng ngủ thực SL.
| Chỉ số (LSAHV 2018, tự báo cáo) | Chung | Nam | Nữ | Từ 80 tuổi |
|---|---|---|---|---|
| Thời lượng ngủ đêm trung bình | 5,36 giờ | 5,52 giờ | 5,23 giờ | 5,02 giờ |
| Hài lòng với giấc ngủ | 56,5% | 61,6% | 52,4% | 45,0% |
| Ngủ trưa đều đặn | 34,6% | 42,9% | 28,4% | — |
| Dùng thuốc hay biện pháp khác để dễ ngủ trong 2 tuần qua | 8,1% | 6,9% | 9,1% | — |
Bảng 2. Giấc ngủ của người từ 60 tuổi ở Việt Nam (Chen và Saito, 2020). Dấu "—": chúng tôi không có số tách theo nhóm tuổi này.
Chỉ 56,5% người cao tuổi hài lòng với giấc ngủ. Khoảng một phần tư "thường xuyên" khó vào giấc (26,1%), thức giấc ban đêm (27,4%) hoặc dậy quá sớm không ngủ lại được (24,4%). Chỉ 37,8% thường xuyên thấy khoẻ khi dậy. Theo bảng của nguồn, khác biệt theo giới và tuổi về chất lượng ngủ không có ý nghĩa thống kê.
Có 8,1% đã dùng thuốc hoặc biện pháp khác để dễ ngủ trong 2 tuần qua, trên 6.031 người trả lời. Câu hỏi gộp thuốc với "biện pháp khác" và không tách loại thuốc; chủ đề này được bàn tiếp ở chương về thuốc ngủ tự dùng. Về ngủ trưa, 34,6% ngủ trưa đều đặn, độ dài giấc trưa trung bình 58,89 phút (trên 4.119 người trả lời), dài nhất ở nhóm từ 80 tuổi với 67,18 phút. Số người trả lời câu hỏi độ dài giấc trưa (4.119) lớn hơn số người ngủ trưa đều đặn, nên câu hỏi này có thể gồm cả người thỉnh thoảng ngủ trưa.
Một bệnh viện ở Thái Bình#
Nghiên cứu ở Thái Bình gồm 404 người bệnh ngoại trú từ 60 tuổi, thu thập năm 2023–2024. Có 88,6% có chất lượng ngủ kém theo Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI), ngưỡng > 7 (Diep và cs., 2025). Nghiên cứu xếp nguy cơ té ngã bằng bảng hỏi của bộ công cụ STEADI (Stopping Elderly Accidents, Deaths and Injuries) do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ xây dựng. Mỗi điểm PSQI tăng đi kèm khả năng được xếp vào nhóm nguy cơ té ngã cao hơn, OR 1,16 (1,02–1,32), sau hiệu chỉnh tuổi, giới, té ngã năm trước và các yếu tố khác. Có 19,6% người tham gia được xếp vào nhóm nguy cơ té ngã.
Đây là mẫu thuận tiện ở người bệnh ngoại trú của một bệnh viện, thiết kế cắt ngang, không đại diện cho người cao tuổi ở cộng đồng. Điểm PSQI trung bình ghi khác nhau giữa tóm tắt (11,0) và bảng số liệu (11,76). Nghiên cứu cũng không khảo sát hình thái sống, nên không cho biết người sống cùng con cháu ngủ khác người sống một mình ra sao.
Khoảng trống giữa hai bộ số liệu#
LSAHV cho biết người cao tuổi sống với ai và ngủ ra sao, nhưng trong phần chúng tôi đọc được, hai bộ số liệu không được nối với nhau. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo trực tiếp giấc ngủ theo kiểu nhà nhiều thế hệ hay theo số người ngủ chung phòng. Những giả thuyết như nhà đông người làm giấc ngủ vụn hơn, hoặc ngược lại làm người cao tuổi yên tâm hơn, vì thế chưa có dữ liệu để kiểm SL.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu định lượng về an toàn ngủ võng ở trẻ hay người lớn tại Việt Nam. Bằng chứng quốc tế chỉ gồm thử nghiệm võng trong khoa hồi sức sơ sinh, thông báo thu hồi sản phẩm và báo cáo chấn thương đầu được một khảo sát ở Malaysia dẫn lại.
- Chúng tôi chưa tìm được số liệu về tỉ lệ quấn chặt trẻ ở Việt Nam hay về loạn sản khớp háng liên quan quấn chặt ở trẻ Việt.
- Chúng tôi chưa tìm được hướng dẫn chính thức của Bộ Y tế Việt Nam về ngủ an toàn cho trẻ sơ sinh (tư thế, nơi ngủ, ngủ chung) mở được trực tuyến.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam hay châu Á đo khách quan, bằng PSG hay actigraphy, giấc ngủ của vợ chồng ngủ chung giường, hay giấc ngủ trong nhà nhiều thế hệ và phòng ngủ nhiều người.
- Chưa mở được bài gốc của phân tích gộp Pease về quấn chặt, nghiên cứu võng năm 2014, nghiên cứu nôi vải năm 1997 được dẫn trong khảo sát Malaysia và nghiên cứu actigraphy cặp đôi năm 2009. Các con số tương ứng trong chương là đọc qua nguồn thứ cấp.
- Thông tin xuất bản của khảo sát tư thế ngủ Hàn Quốc năm 2006 chưa đầy đủ (tập, số chưa đọc được).
Viết tắt trong trang
- AAP
- Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
- CPAP
- thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure)
- CPSC
- Uỷ ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Mỹ (Consumer Product Safety Commission)
- LSAHV
- Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- SIDS
- hội chứng đột tử trẻ sơ sinh (sudden infant death syndrome)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Võng, quấn trẻ, vợ chồng ngủ chung và người cao tuổi. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/vong-quan-tre-vo-chong-va-nguoi-cao-tuoi/