giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục G. Dữ kiện: Việt Nam — người lớn, giờ làm và y học cổ truyền

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 25 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 41 dữ kiện của nhánh Việt Nam: người lớn, giờ làm và y học cổ truyền đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b6-041) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương. Nhánh này được bổ sung ở bản 2 (11/2026), chỉ thu thập nguồn Việt Nam và văn bản chính thức Việt Nam.

Dùng ở chương: Ngủ trưa: ai ngủ, ngủ bao lâu, và giấc ngắn làm gì#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-041Theo LSAHV 2018 (mẫu đại diện quốc gia người ≥ 60 tuổi), tỉ lệ ngủ trưa đều đặn ở nam cao hơn nữ (42,9% so với 28,4%) và mỗi giấc dài hơn (61,1 so với 57,0 phút, p < 0,01). Bảng ghi chênh lệch tỉ lệ ngủ trưa theo giới "không có ý nghĩa" trong khi lời văn viết nam ngủ trưa nhiều hơn nữ.Ngủ trưa đều đặn: nam 42,9%, nữ 28,4% (bảng ghi 'n.s.'); độ dài: nam 61,05, nữ 56,97 phút (bảng ghi p < 0,01)NgườiKhảo sát hộ gia đình đại diện quốc gia (LSAHV 2018), phỏng vấn; ngủ trưa tự báo cáo (có/không đều đặn, số phút). Cỡ mẫu: n = 6.036 (ngủ trưa đều đặn); n = 4.119 (độ dài)Chen và Saito, 2020

Dùng ở chương: Giờ ngủ, thời lượng ngủ và giờ làm ở châu Á và Việt Nam#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-003Ở 420 điều dưỡng tại 3 bệnh viện công miền Tây Nam Bộ (2019), 46,9% có rối loạn giấc ngủ theo Thang rối loạn giấc ngủ chung (General Sleep Disturbance Scale, GSDS); 75,2% làm ca xoay vòng nhưng làm ca không đi kèm rối loạn giấc ngủ có ý nghĩa thống kê, còn căng thẳng thì có.GSDS ≥ 43: 46,9% (197/420); điểm TB 41,10 (ĐLC 19,48); căng thẳng (Thang căng thẳng cảm nhận 10 mục, PSS-10) OR 1,269 (KTC 95% 1,185–1,360) mỗi điểm; làm ca: p > 0,05NgườiCắt ngang (STROBE), mẫu thuận tiện; GSDS 21 mục bản tiếng Việt (Cronbach α 0,81), ngưỡng ≥ 43; hồi quy logistic đa biến (mô hình cuối chỉ giữ căng thẳng và điểm thể chất SF-12). Cỡ mẫu: n = 420 điều dưỡng, 3 bệnh viện công, Tây Nam Bộ, 7–9/2019Nguyen và Liu, 2022
b6-004Ở 111 cán bộ, giảng viên một trường đại học tư ở Hà Nội (12/2024–3/2025), 42,3% có mất ngủ theo Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI), phần lớn mức nhẹ; không ai mất ngủ nặng.Mất ngủ 42,3%; trong đó mức nhẹ 74,5%; nặng 0%; lo âu 46,8%, trầm cảm 21,6%, căng thẳng 26,2% (thang Trầm cảm – Lo âu – Căng thẳng 21 mục, DASS-21)NgườiCắt ngang; ISI (ngưỡng không nêu trong tóm tắt) và DASS-21; không báo cáo yếu tố liên quan có hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 111 người lao động (cán bộ, giảng viên) Trường Đại học PhenikaaBùi Thị Huyền Trang và cs., 2025 (tóm tắt)
b6-014Khảo sát 1.000 nhân viên y tế tuyến đầu ở nhiều cơ sở tại Việt Nam (10–11/2021, đợt dịch COVID-19): 73,8% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI ≥ 5); làm việc nhiều giờ hơn đi kèm khả năng ngủ kém cao hơn sau hiệu chỉnh.PSQI ≥ 5: 73,8%; giờ làm dài hơn OR 1,84 (KTC 95% 1,37–2,48); trực tiếp chăm sóc bệnh nhân OR 1,59 (1,16–2,16); bệnh mạn tính OR 2,34 (1,17–5,24); tiếp xúc thường xuyên bệnh nhân nặng/hấp hối OR 1,42 (1,03–1,95)NgườiCắt ngang, bảng hỏi tự điền; PSQI (ngưỡng ≥ 5); hồi quy logistic đa biến. Cỡ mẫu: n = 1.000 nhân viên y tế (tuổi TB 33,2; 63% nữ)Phan và cs., 2023 (tóm tắt)
b6-015Theo Điều tra Lao động – Việc làm quốc gia 2024, người có việc làm ở Việt Nam làm trung bình 42,5 giờ/tuần; nam làm nhiều hơn nữ và thành thị nhiều hơn nông thôn.42,5 giờ/tuần (2023: 42,6; 2022: 42,2); nam 43,3, nữ 41,5; thành thị 44,1, nông thôn 41,5NgườiĐiều tra chọn mẫu hộ gia đình trong chương trình điều tra thống kê quốc gia (Quyết định 635/QĐ-TCTK ngày 17/7/2023); giờ làm tự báo cáo. Cỡ mẫu: Mẫu đại diện quốc gia (cỡ mẫu nằm ở phần phương pháp, chưa đọc được)Tổng cục Thống kê, 2025b
b6-016Điều tra Lao động – Việc làm 2024: 28,7% người có việc làm ở Việt Nam làm trên 48 giờ một tuần và 46,2% làm 40–48 giờ.> 48 giờ/tuần: 28,7%; 40–48 giờ: 46,2%; < 35 giờ: 18,1%; < 20 giờ: 4,2%; lao động làm công ăn lương chiếm 53,8% người có việc làmNgườiĐiều tra chọn mẫu quốc gia; giờ làm tự báo cáo tuần tham chiếu. Cỡ mẫu: Mẫu đại diện quốc giaTổng cục Thống kê, 2025b
b6-017Bộ luật Lao động 2019 (Điều 106) định nghĩa giờ làm việc ban đêm là từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau; Điều 105 giới hạn thời giờ làm việc bình thường không quá 8 giờ/ngày và 48 giờ/tuần.Ban đêm: 22:00–06:00; bình thường ≤ 8 giờ/ngày (≤ 10 giờ/ngày nếu quy định theo tuần), ≤ 48 giờ/tuầnHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản luật (Điều 105, 106 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14), đọc qua tài liệu phổ biến pháp luật của Bộ Tư pháp trích nguyên văn điều luật. Cỡ mẫu: Không áp dụngQuốc hội, 2019b
b6-018Bộ luật Lao động 2019 (Điều 109) quy định người làm việc từ 6 giờ trở lên trong một ngày được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút liên tục, làm việc ban đêm thì ít nhất 45 phút liên tục. Điều 107 giới hạn làm thêm không quá 40 giờ/tháng và 200 giờ/năm (một số ngành được tới 300 giờ/năm).Nghỉ giữa giờ (người làm ≥ 6 giờ/ngày theo Điều 105): ≥ 30 phút liên tục (ban ngày), ≥ 45 phút liên tục (ban đêm); ca liên tục ≥ 6 giờ: nghỉ giữa giờ tính vào giờ làm; làm thêm ≤ 50% giờ bình thường/ngày, ≤ 40 giờ/tháng, ≤ 200 giờ/năm (ngoại lệ ≤ 300 giờ/năm)Hướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản luật: Điều 107 khoản 2 điểm b (≤ 40 giờ/tháng) và điểm c (≤ 200 giờ/năm, trừ trường hợp tại khoản 3), Điều 107 khoản 3 (ngoại lệ ≤ 300 giờ/năm — chưa đọc nguyên văn), Điều 109 khoản 1 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14. Đọc qua tài liệu phổ biến pháp luật Bộ Tư pháp và hethongphapluat.com. Cỡ mẫu: Không áp dụngQuốc hội, 2019a
b6-021Trong mẫu cộng đồng 1.760 người 18–60 tuổi ở Thái Bình, người làm việc ban đêm hoặc không có giờ làm cố định đi kèm tỉ số chênh có rối loạn giấc ngủ khoảng 1,4 (OR 1,37) so với người làm ban ngày. Lao động chân tay đi kèm tỉ số chênh khoảng 1,7 (OR 1,70) so với lao động trí óc. Bài không trình bày OR hiệu chỉnh, nên các liên quan này có thể bị nhiễu bởi tuổi SL.Làm đêm/không cố định so với ban ngày OR 1,37 (KTC 95% 1,05–1,78); lao động chân tay so với trí óc OR 1,70 (1,36–2,12); thu nhập hộ ≤ 10 triệu OR 2,40 (1,91–3,01); nông thôn OR 1,47 (1,18–1,83); nữ OR 1,54 (1,22–1,94)NgườiCắt ngang, chọn mẫu thuận tiện tại 2 điểm chọn chủ đích; rối loạn giấc ngủ theo DSM-5 kết hợp PSQI; bài nêu có phân tích đơn biến và hồi quy logistic đa biến nhưng chỉ trình bày OR từng yếu tố (dạng đơn biến), không ghi rõ thô hay hiệu chỉnh, không trình bày mô hình đa biến. Cỡ mẫu: n = 1.760 (880/điểm), phường Trần Lãm và xã Thụy Duyên, Thái Bình, 8/2024–1/2025Nguyễn Văn Tuấn và cs., 2025a
b6-025Trong một thăm dò dư luận thương mại nhân Ngày Giấc ngủ Thế giới (World Sleep Day) của mạng lưới WIN (39 nước, 2025), mẫu thành thị Việt Nam (900 người ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ) có 85% tự nhận mình "ngủ ngon" ở mức vừa phải đến rất thường xuyên — cao hơn mức trung bình 62% của 39 nước tham gia. Năm 2021 con số này ở Việt Nam là 91%.Việt Nam 85% (2025), 91% (2021); trung bình các nước tham gia 62% (2025, 39 nước), 65% (2021, tập nước khác — 6 nước không có số liệu 2021); nhóm trả lời gộp: 'a lot/very often/moderately/fairly often'NgườiThăm dò dư luận thương mại (WIN Worldviews Survey); ở Việt Nam phỏng vấn trực tiếp có máy tính hỗ trợ (CAPI), mẫu dân thành thị 4 thành phố. Một câu hỏi tự đánh giá 'How often would you say that you: Sleep well'; không dùng thang chuẩn; phương pháp thu thập khác nhau giữa các nước (CAWI/trực tuyến ở phần lớn nước, CAPI, CATI, mặt đối mặt). Cỡ mẫu: Việt Nam n = 900, dân thành thị Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, 18/12/2024–10/01/2025; toàn bộ 34.946 phiếu, 39 nướcWIN International và Indochina Research (Vietnam) Ltd, 2025
b6-030Cùng mẫu Kiến Xương: người cao tuổi nông thôn tự báo cáo ngủ trung bình khoảng 5,6 giờ/đêm; phần bàn luận của bài ghi khoảng 1/5 (21,3%) ngủ dưới 5 giờ.5,64 ± 1,52 giờ/đêm (1–9 giờ); < 5 giờ/đêm: 21,3%; thời gian vào giấc 47,54 ± 45,30 phútNgườiCắt ngang; thời lượng ngủ và thời gian vào giấc theo câu hỏi PSQI (tự báo cáo). Cỡ mẫu: n = 428 người ≥ 60 tuổiBùi Thị Huyền Diệu và cs., 2024
b6-033Ở 200 lái xe khách đường dài (nam) của 5 doanh nghiệp vận tải chạy Quốc lộ 1A, 65,5% ngủ 5 giờ/đêm trở xuống, 29% có rối loạn giấc ngủ theo PSQI ≥ 10 và hơn một nửa tự đánh giá chất lượng ngủ kém hoặc khá kém.Ngủ ≤ 5 giờ: 65,5%; PSQI ≥ 10: 29,0% (58/200); tự đánh giá kém/khá kém 53,5%; thức giấc giữa đêm 97,5%; dùng thuốc ngủ 3,5%; ảnh hưởng công việc/sinh hoạt 63,0%NgườiCắt ngang mô tả; PSQI (ngưỡng rối loạn ≥ 10, cao hơn ngưỡng thường dùng > 5) và tự đánh giá 4 mức; không đo khách quan. Cỡ mẫu: n = 200 lái xe nam (tuổi TB 40,9 ± 5,6; 12,4 năm lái xe)Nguyễn Thu Hà và Nguyễn Đức Sơn, 2021
b6-034Trong cùng nghiên cứu, ở 132 lái xe có hồ sơ tai nạn (hồi cứu từ doanh nghiệp), 54,0% người từng gặp tai nạn giao thông có PSQI ≥ 10, so với 30,5% ở người chưa từng gặp tai nạn. Tác giả báo cáo nguy cơ tai nạn ở nhóm PSQI ≥ 10 "cao gấp 1,6 lần" (OR 1,6), nhưng theo phép tính của nhóm biên tập từ bảng 2×2 của bài, con số này không khớp với số liệu của chính bài SL.PSQI ≥ 10: 54,0% (27/50) ở nhóm từng tai nạn so với 30,5% (25/82) ở nhóm chưa từng tai nạn; OR báo cáo 1,6 (KTC 95% 1,3–5,5; p < 0,01)NgườiCắt ngang kết hợp hồi cứu hồ sơ tai nạn của doanh nghiệp; không hiệu chỉnh (số km lái, tuổi, ca đêm). Cỡ mẫu: n = 132/200 lái xe có hồ sơ đầy đủNguyễn Thu Hà và Nguyễn Đức Sơn, 2021
b6-036Khảo sát sinh viên đại học 5 nước ASEAN (2015): 26,6% sinh viên Việt Nam ngủ 6 giờ trở xuống mỗi 24 giờ — tương đương Thái Lan (26,8%) nhưng thấp hơn nhiều so với Indonesia (60,6%), Malaysia (58,0%) và Myanmar (51,8%).Việt Nam: 7–9 giờ 68,1%; ≤ 6 giờ 26,6%; ≥ 10 giờ 5,3% (n = 817); chung 5 nước: ≤ 6 giờ 44,8%NgườiCắt ngang, bảng hỏi tự điền trên lớp; chọn ngẫu nhiên phân tầng theo khoa/lớp trong các trường chọn thuận tiện; một câu hỏi số giờ ngủ trung bình trong 24 giờ (bài không nói rõ có tính ngủ trưa hay không). Cỡ mẫu: n = 3.266 sinh viên (Việt Nam 817)Peltzer và Pengpid, 2019
b6-038Tổng quan 2026 tự gọi là tổng quan hệ thống (49 nghiên cứu 2016–2025, trong đó chỉ 3 nghiên cứu Việt Nam) ghi tỉ lệ điều dưỡng có chất lượng giấc ngủ kém dao động 34,8–84% và xác định lịch làm việc theo ca là yếu tố nguy cơ hàng đầu.Ngủ kém 34,8–84%; rối loạn giấc ngủ liên quan ca trực, buồn ngủ ban ngày, mất ngủ ~20–35%; 3/49 nghiên cứu ở Việt NamTổng quanTổng quan (tự gọi là tổng quan hệ thống; phần phương pháp ghi tổng quan tài liệu) trên CINAHL, PubMed, Embase, Google Scholar, 2016–2025; gồm cắt ngang, đoàn hệ, tổng quan hệ thống và phân tích gộp; không gộp số liệu (chỉ nêu khoảng). Cỡ mẫu: 49 nghiên cứu (46 quốc tế, 3 Việt Nam)Huỳnh Thị Phượng và cs., 2026 (tóm tắt)
b6-039Ở 319 điều dưỡng lâm sàng thuộc hệ thống bệnh viện Vinmec (2022), 62% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5); mỗi điểm tăng trên thang nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp (ENSS) đi kèm tỉ số chênh ngủ kém 1,92 (OR), và có căng thẳng (DASS-21) đi kèm OR 3,51.PSQI > 5: 62% (197/319); ENSS (mỗi điểm) OR 1,92 (KTC 95% 1,07–3,47); có căng thẳng OR 3,51 (1,75–7,03); Hosmer–Lemeshow 0,482NgườiCắt ngang mô tả; PSQI, DASS-21 (căng thẳng), thang căng thẳng nghề nghiệp điều dưỡng ENSS; hồi quy logistic. Cỡ mẫu: n = 319 điều dưỡng lâm sàng, 1–10/2022Hoàng Ngọc Khánh và cs., 2023 (tóm tắt)
b6-040Ở 200 cán bộ y tế một bệnh viện huyện ngoại thành Hà Nội (2024), 40,5% có mất ngủ theo ISI ≥ 11, chủ yếu mức nhẹ; sau hiệu chỉnh, vận động dưới 30 phút/ngày và bệnh mạn tính đi kèm mất ngủ; chiều liên quan với cân nặng không rõ (bảng và lời văn của bài không khớp).ISI ≥ 11: 40,5% (81/200); nhẹ 29,0%, trung bình 10,0%, nặng 1,5%; OR hiệu chỉnh: thừa cân/béo phì 3,20; vận động < 30 phút/ngày 2,07; bệnh mạn tính 4,04 (bài không cho KTC đa biến)NgườiCắt ngang; toàn bộ nhân viên đủ tiêu chuẩn theo danh sách; ISI (ngưỡng ≥ 11); hồi quy logistic đa biến. Cỡ mẫu: n = 200 cán bộ y tế, Bệnh viện Đa khoa huyện Thạch Thất, 3–8/2024Cấn Thị Như Quỳnh và cs., 2025

Dùng ở chương: Mất ngủ, thuốc ngủ và quy định kê đơn ở Việt Nam#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-001Trong mẫu cộng đồng 1.760 người 18–60 tuổi ở một phường và một xã tỉnh Thái Bình (2024–2025), 24,2% có rối loạn giấc ngủ theo tiêu chuẩn DSM-5, chủ yếu là mất ngủ; tỉ lệ ở nữ cao hơn nam.Rối loạn giấc ngủ 24,2% (426/1.760); dưới ngưỡng 4,4% (77/1.760); mất ngủ 23,5% (414/1.760, thể thường gặp nhất); bảng mất ngủ theo giới: nam 19,0%, nữ 26,5%NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện tại cộng đồng (880 người/điểm); phân loại rối loạn giấc ngủ theo DSM-5 qua phỏng vấn; chất lượng ngủ bằng PSQI (> 5 = kém); không hiệu chỉnh biến nào (chỉ mô tả). Cỡ mẫu: n = 1.760 người 18–60 tuổi (59,7% nữ; tuổi trung bình 40,8), phường Trần Lãm (TP Thái Bình) và xã Thụy Duyên (Thái Thụy), 8/2024–1/2025Nguyễn Đăng Thương và cs., 2025
b6-002Cùng mẫu Thái Bình: khoảng một phần tư (24,7%) có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI > 5; thức giấc ban đêm là triệu chứng phổ biến nhất ở người có rối loạn giấc ngủ (92%).PSQI ≤ 5: 75,3%; 6–10: 4,1%; 11–15: 16,6%; ≥ 16: 4,0%; thức giấc ban đêm 92,0% (trong 426 người có rối loạn); đau 53,1%; cảm giác rất lạnh 34,7%; rất nóng 12,7%NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện tại cộng đồng; PSQI tự báo cáo; triệu chứng ban đêm theo phỏng vấn. Cỡ mẫu: n = 1.760 (PSQI); n = 426 (triệu chứng ban đêm)Nguyễn Đăng Thương và cs., 2025
b6-008Khảo sát trực tuyến 1.209 người trẻ 15–25 tuổi ở nhiều vùng Việt Nam (2025): 53,3% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5); trong 7 thành phần PSQI, thời lượng ngủ có điểm thành phần cao nhất (xấu nhất) và dùng thuốc ngủ có điểm thấp nhất.PSQI > 5: 53,3%; PSQI TB 6,13 ± 3,31; điểm thành phần thời lượng ngủ 1,50 ± 0,98 (cao nhất); dùng thuốc ngủ 0,24 ± 0,66 (thấp nhất); 15–18 tuổi 61,0% so với 19–25 tuổi 52,3% (p = 0,051)NgườiCắt ngang, chọn mẫu trực tuyến kiểu mạng lưới/quả bóng tuyết (Google Form); PSQI tự báo cáo; hồi quy logistic (OR thô). Cỡ mẫu: n = 1.209 (tiếp cận 1.252); tuổi TB 19,5 ± 1,7; 71,3% nữCao Thị Thu Hà và cs., 2026
b6-012Ở 345 người cao tuổi sống tại cộng đồng quận Sơn Trà (Đà Nẵng), 67,8% có chất lượng giấc ngủ không tốt theo PSQI; nhóm 70–79 tuổi, ngư dân, nội trợ, người thấy cô đơn và người lo âu có tỉ lệ ngủ kém cao hơn.Ngủ kém 67,8%; 70–79 so với 60–69 tuổi OR 2,3 (KTC 95% 1,1–4,6); ngư dân so với hưu trí OR 24,9 (3,3–191,3); nội trợ OR 9,2 (1,8–46,5); thỉnh thoảng cô đơn OR 5,1 (1,4–17,9); lo âu nặng OR 11,9 (1,0–141,7)NgườiCắt ngang tại cộng đồng; PSQI (ngưỡng không nêu trong tóm tắt); hồi quy logistic đa biến. Cỡ mẫu: n = 345 người ≥ 60 tuổi, quận Sơn Trà, Đà NẵngPhan Thị Thanh Nga và cs., 2022 (tóm tắt)
b6-013Ở 71 người mất ngủ (theo DSM-5) đến trạm y tế một xã nông thôn Nam Định (2023; tuổi TB 62), thời gian ngủ thực tự ước lượng chỉ khoảng 3,9 giờ dù nằm trên giường khoảng 7,3 giờ mỗi đêm; thức dậy quá sớm là kiểu mất ngủ phổ biến nhất.Ngủ thực 3,9 ± 1,1 giờ; nằm giường 7,3 ± 0,9 giờ; hiệu quả giấc ngủ 54,3 ± 16,4%; vào giấc 63,2 ± 38,9 phút; PSQI 10,8 ± 2,4; thức dậy sớm 91,5%; mệt ban ngày 81,6%NgườiCắt ngang mô tả, mẫu thuận tiện (mọi người bệnh mất ngủ đến khám tại trạm y tế trong 3 tháng); chẩn đoán DSM-5; PSQI và chỉ số giấc ngủ tự báo cáo (không actigraphy). Cỡ mẫu: n = 71 (57,7% nữ; 62% ≥ 60 tuổi), xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, Nam Định, 1–3/2023Ngô Tuấn Khiêm và cs., 2023
b6-023Khảo sát hộ gia đình chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn ở 1.302 người 15–30 tuổi tại thị xã Bình Minh (Vĩnh Long, 9–12/2024): chỉ 17,5% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5); hơn một nửa ngủ trên 7 giờ và 4% có dùng thuốc ngủ.PSQI > 5: 17,5% (228/1.302); PSQI TB 3,29 ± 2,38; ngủ > 7 giờ 54,2%, 6–7 giờ 28,2%, 5–6 giờ 11,7%, < 5 giờ 5,9%; vào giấc ≤ 15 phút 58,8%; dùng thuốc ngủ ít nhất thỉnh thoảng 4,0%NgườiCắt ngang; chọn mẫu 3 giai đoạn (phân tầng xã/phường, chọn ngẫu nhiên đơn vị, phân bổ theo dân số), phỏng vấn trực tiếp tại hộ; PSQI (> 5 = kém). Cỡ mẫu: n = 1.302 người 15–30 tuổi, thị xã Bình Minh, Vĩnh LongLâm Nhựt Anh và cs., 2025
b6-024Trong cùng mẫu Bình Minh, sau hiệu chỉnh, chất lượng giấc ngủ kém đi kèm tuổi 20–30 (so với 15–19), nữ giới, vận động thể lực chưa đủ, nguy cơ trầm cảm và lo âu; thời gian dùng màn hình trên 3 giờ/ngày không còn liên quan có ý nghĩa.OR hiệu chỉnh: 20–30 tuổi 2,06 (1,39–3,04); nữ 1,53 (1,03–2,27); vận động chưa đủ 1,95 (1,38–2,76); nguy cơ trầm cảm (Bộ câu hỏi sức khoẻ người bệnh 9 mục, PHQ-9) 10,3 (5,7–18,6); lo âu (GAD-7) 7,26 (3,94–13,39); màn hình > 3 giờ/ngày 1,22 (0,87–1,71)NgườiCắt ngang, hồi quy logistic đa biến (Hosmer–Lemeshow p = 0,839); PSQI, PHQ-9, GAD-7. Cỡ mẫu: n = 1.302Lâm Nhựt Anh và cs., 2025
b6-029Ở 428 người cao tuổi sống tại 3 xã nông thôn huyện Kiến Xương (Thái Bình, 2024), 69,9% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI (> 5; bài gọi là rối loạn giấc ngủ), phần lớn mức nhẹ; tỉ lệ ở nam (75,8%) cao hơn nữ (65,4%).PSQI > 5: 69,9%; PSQI TB 8,08 ± 3,74; nhẹ 41,6%, trung bình 25,7%, nặng 2,6%; nam 75,8%, nữ 65,4% (bài ghi p < 0,001, chưa hiệu chỉnh; nhóm biên tập tính lại từ tỉ lệ và cỡ mẫu chỉ khoảng p = 0,02 SL)NgườiCắt ngang; chọn chủ đích huyện và 3 xã, phân bổ theo dân số, tuyển "cổng liền cổng" tới đủ cỡ mẫu; PSQI bản tiếng Việt (0–5 không rối loạn; 6–10 nhẹ; 11–15 trung bình; ≥ 16 nặng). Cỡ mẫu: n = 428 người ≥ 60 tuổi (57,5% nữ; 80+ chiếm 18,2%), xã Vũ Lễ, Vũ Quý, Vũ Ninh, 1–7/2024Bùi Thị Huyền Diệu và cs., 2024
b6-031Ở 130 người cao tuổi dân tộc Cơ Tu tại huyện miền núi Nam Đông (Thừa Thiên Huế), 72,9% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI; học vấn, thu nhập, tình trạng hôn nhân, chất lượng cuộc sống và mức hài lòng với sức khoẻ đi kèm ngủ kém.PSQI kém: 72,9%NgườiCắt ngang mô tả tại cộng đồng; PSQI (ngưỡng không nêu trong tóm tắt); hồi quy logistic đa biến. Cỡ mẫu: n = 130 người cao tuổi dân tộc Cơ TuNguyễn Hoàng Thùy Linh và cs., 2023 (tóm tắt)
b6-032Ở 197 người cao tuổi tại xã Mỹ Khánh (Phong Điền, Cần Thơ, 2025), 53,8% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5); dùng thiết bị điện tử, chất kích thích, thuốc giảm đau và số lần đi tiểu đêm đi kèm ngủ kém.PSQI > 5: 53,81%NgườiCắt ngang tại cộng đồng; PSQI (≤ 5 tốt, > 5 kém). Cỡ mẫu: n = 197 người ≥ 60 tuổiNguyễn Thị Hồng Tuyến và cs., 2026 (tóm tắt)

Dùng ở chương: Thảo dược, châm cứu và dưỡng sinh#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-005Thử nghiệm tự mô tả là ngẫu nhiên có nhóm chứng, mù đôi (tóm tắt không nêu cách ngẫu nhiên hoá và ai được làm mù) ở 60 bệnh nhân mất ngủ sau đột quỵ (Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM, 12/2023–6/2024): nhĩ châm cộng phác đồ cơ bản so với nhĩ châm giả cộng phác đồ cơ bản. Theo tóm tắt, nhóm nhĩ châm có PSQI và thời gian vào giấc tốt hơn từ ngày 10 và giảm dùng thuốc ngủ; không ghi nhận tác dụng phụ.PSQI nhóm can thiệp: ngày 5: 15,03 ± 2,52 → ngày 30: 6,87 ± 1,85 (khác nhóm chứng p < 0,05 từ ngày 10); điểm thành phần thời gian vào giấc ngày 30: 1,27 ± 0,45 so với 1,60 ± 0,62NgườiThử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng (randomized controlled trial, RCT) song song, mù đôi (không nêu ai được làm mù và cách ngẫu nhiên hoá trong tóm tắt); nhóm chứng nhĩ châm giả + phác đồ cơ bản; PSQI ngày 0, 5, 10, 15, 30; không PSG/actigraphy. Cỡ mẫu: n = 60 bệnh nhân sau đột quỵ có mất ngủNguyễn Thị Thúy An và cs., 2024 (tóm tắt)
b6-006Thử nghiệm tự mô tả là phân bổ ngẫu nhiên, có nhóm chứng, ở 70 bệnh nhân rối loạn giấc ngủ không thực tổn thể can khí uất hoá hoả: Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ thang so với Long đởm tả can thang (bài thuốc đối chứng hoạt tính) trong 20 ngày. Theo tóm tắt, nhóm nghiên cứu đạt "hiệu quả chung" 97,1%, cả hai nhóm cải thiện có ý nghĩa.Nhóm nghiên cứu: tốt 34,3%, khá 51,4%, trung bình 11,4%, kém 0%; hiệu quả chung 97,1% (35 người/nhóm); số liệu nhóm chứng không có trong tóm tắtNgườiThử nghiệm tiến cứu, "phân bổ ngẫu nhiên" (không mô tả cách tạo chuỗi, che giấu phân bổ hay làm mù); so sánh hai bài thuốc sắc, không có giả dược; PSQI, thời gian vào giấc, thời lượng ngủ tự báo cáo, triệu chứng y học cổ truyền; 20 ngày. Cỡ mẫu: n = 70 (35 + 35)Trần Thị Thu Vân và cs., 2026 (tóm tắt)
b6-007Tổng quan phạm vi 2026 về cấy chỉ (catgut embedding) cho mất ngủ không thực tổn ở Việt Nam (5/2016–5/2026) chỉ tìm được 9 tài liệu, 5 đạt tiêu chuẩn; đa số là nghiên cứu can thiệp nhỏ, thiết kế, phác đồ và báo cáo an toàn chưa đồng nhất.9 tài liệu tìm được; 5 nghiên cứu đưa vàoTổng quanTổng quan phạm vi theo PRISMA-ScR; Cơ sở dữ liệu công bố khoa học công nghệ Việt Nam + Google Scholar; tổng hợp mô tả. Cỡ mẫu: 5 nghiên cứuLưu Việt Cường và Dương Thế Ngọc, 2026 (tóm tắt)
b6-009Ở 200 người tăng huyết áp quản lý tại 5 trạm y tế xã (Phong Điền, Thừa Thiên Huế, 2025; 71,5% trên 60 tuổi), 77,5% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5) và 67% muốn được chăm sóc rối loạn giấc ngủ bằng y học cổ truyền; dạng được chọn nhiều nhất là thuốc y học cổ truyền.PSQI > 5: 77,5% (155/200); PSQI TB 9,07 ± 4,21; có nhu cầu y học cổ truyền (YHCT) 67% (134/200); phân bố 308 lượt chọn: thuốc YHCT 41,6%, xoa bóp bấm huyệt 25,6%, cứu 18,5%, thể châm 13%, đầu châm 1,3%NgườiCắt ngang; chọn mẫu phân tầng theo trạm y tế rồi ngẫu nhiên đơn; PSQI; câu hỏi nhu cầu tự thiết kế (cho chọn nhiều phương pháp). Cỡ mẫu: n = 200 người tăng huyết áp (tuổi TB 68,2 ± 11,6), 1–4/2025Lê Xuân Kỳ và Đặng Quốc Trưởng, 2025
b6-010Ở 517 sinh viên ngành y học cổ truyền tại một trường đại học y ở TP.HCM, 50,7% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5) và 59,6% bày tỏ nhu cầu dùng y học cổ truyền để ngủ tốt hơn; xoa bóp bấm huyệt được ưa chuộng nhất; vệ sinh giấc ngủ kém đi kèm ngủ kém.PSQI > 5: 50,7%; nhu cầu YHCT 59,6%; xoa bóp bấm huyệt 31%; vệ sinh giấc ngủ kém PR 1,63 (KTC 95% 1,27–2,09)NgườiCắt ngang, chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện; PSQI bản tiếng Việt (> 5) và Sleep Hygiene Index (SHI); tỉ số tỉ lệ hiện mắc (PR). Cỡ mẫu: n = 517 sinh viên y học cổ truyềnNguyễn Thị Vân Hà và cs., 2026 (tóm tắt)
b6-011Thử nghiệm tự mô tả là ngẫu nhiên, có nhóm chứng hoạt tính, ở 60 bệnh nhân mất ngủ nguyên phát (Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM): viên nang lạc tiên tây (Passiflora incarnata) do bệnh viện tự sản xuất so với rotundin trong 4 tuần; khác biệt PSQI giữa hai nhóm chưa có ý nghĩa thống kê ở tuần 2, nhóm lạc tiên tây thấp hơn ở tuần 4. Không có nhóm giả dược và bài không nêu làm mù.PSQI (TB ± SE): lạc tiên tây 17,13 → 10,47 → 8,6; rotundin 16,2 → 12,17 → 11 (tuần 0 → 2 → 4); khác nhóm: tuần 2 p > 0,05, tuần 4 p < 0,01; tổng thời gian ngủ tự báo cáo: 2,88 → 5,35 giờ so với 3,22 → 4,95 giờNgườiThử nghiệm lâm sàng "có nhóm chứng, phân bố ngẫu nhiên" (theo bài); nhóm chứng hoạt tính rotundin (hàm lượng không nêu); phân nhóm bằng bốc thăm phiếu số 1–60 (lẻ: chứng, chẵn: can thiệp) do điều phối viên độc lập không tham gia đánh giá. Bài không nêu làm mù bệnh nhân hay người đánh giá; so sánh giữa nhóm bằng t độc lập hoặc Mann–Whitney; PSQI và chỉ số giấc ngủ tự báo cáo; 4 tuần; không PSG. Cỡ mẫu: n = 60 (30 + 30), mất ngủ nguyên phát theo DSM-IV-TR, PSQI ≥ 5, > 18 tuổiNguyễn Thị Chinh và cs., 2026
b6-019Nghiên cứu có nhóm chứng ở 70 bệnh nhân mất ngủ không thực tổn (thể tâm thận bất giao): nhĩ châm + xoa bóp bấm huyệt so với điện châm + xoa bóp bấm huyệt trong 20 ngày. Theo tóm tắt, cả hai nhóm cải thiện các thành phần PSQI, nhóm nhĩ châm cải thiện nhiều hơn (p < 0,05); hai nhóm được ghép cặp theo tuổi, giới, mức độ, tóm tắt không nêu ngẫu nhiên hoá hay làm mù.35 + 35 bệnh nhân; khác biệt giữa nhóm p < 0,05 ở ngày 10 và 20 (tóm tắt không cho điểm số)NgườiCan thiệp có nhóm chứng hoạt tính (điện châm + xoa bóp bấm huyệt); phân nhóm ghép cặp theo tuổi, giới, mức độ; tóm tắt không nêu ngẫu nhiên hoá, làm mù; PSQI ngày 10 và 20. Cỡ mẫu: n = 70 (35 + 35), chẩn đoán ICD-10Trần Thị Hồng Ngãi và Nguyễn Quang Huy, 2025 (tóm tắt)
b6-020Nghiên cứu trước–sau một nhóm ở 52 bệnh nhân mất ngủ không thực tổn (Bệnh viện Y học cổ truyền Vĩnh Phúc). Sau 30 ngày dùng viên nang "An thần Bà Giằng" (tên chế phẩm), thời lượng ngủ tự báo cáo tăng từ 3,4 lên 4,9 giờ và điểm ISI giảm từ 21,2 xuống 12,0 — nhưng không có nhóm chứng.Thời lượng ngủ 3,42 ± 0,54 → 4,93 ± 0,46 giờ; hiệu quả giấc ngủ 42,69 → 77,63%; ISI 21,15 ± 3,49 → 12,04 ± 3,30; hết mất ngủ 36,5%, dưới ngưỡng 57,7%NgườiCan thiệp lâm sàng tiến cứu, so sánh trước–sau, không nhóm chứng, không làm mù; ISI và chỉ số giấc ngủ tự báo cáo; 30 ngày. Cỡ mẫu: n = 52Dương Thành Đông và cs., 2025 (tóm tắt)
b6-022Nghiên cứu có nhóm chứng ở 60 bệnh nhân mất ngủ không thực tổn (Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn): dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng + nhĩ áp so với nhĩ áp đơn thuần trong 15 ngày. Theo tóm tắt, nhóm kết hợp tăng thời lượng ngủ tự báo cáo từ 3,1 lên 6,4 giờ và PSQI giảm từ 14,4 xuống 3,6.Nhóm kết hợp: ngủ 3,13 ± 0,38 → 6,44 ± 0,39 giờ; vào giấc 75,83 → 25,33 phút; PSQI 14,43 ± 0,86 → 3,57 ± 1,07 (p < 0,01); triệu chứng thứ phát cải thiện hơn nhóm chứng (p < 0,05)NgườiCan thiệp lâm sàng có nhóm chứng (nhĩ áp đơn thuần); tóm tắt không nêu ngẫu nhiên hoá, làm mù; PSQI và chỉ số tự báo cáo; 15 ngày. Cỡ mẫu: n = 60Bùi Tiến Hưng và cs., 2025 (tóm tắt)
b6-026Nghiên cứu can thiệp mở có nhóm chứng ở 60 bệnh nhân mất ngủ không thực tổn thể tâm tỳ hư: phúc châm (châm cứu vùng bụng) kết hợp Quy tỳ thang so với Quy tỳ thang đơn thuần trong 30 ngày. Tóm tắt báo cáo thời lượng ngủ tự báo cáo tăng từ 3,25 lên 6,63 giờ (không nêu thuộc nhóm nào) và nhóm kết hợp tốt hơn nhóm chứng (p < 0,05).Ngủ 3,25 ± 0,79 → 6,63 ± 0,52 giờ; vào giấc 74,00 ± 14,28 → 26,51 ± 9,01 phút; PSQI 15,77 ± 1,69 → 3,77 ± 1,19 (tóm tắt không nêu các số này thuộc nhóm nào); khác nhóm p < 0,05NgườiCan thiệp lâm sàng mở, tiến cứu, so sánh trước–sau và có nhóm chứng (bài thuốc đơn thuần); không nêu ngẫu nhiên hoá hay làm mù; PSQI và chỉ số tự báo cáo; 30 ngày. Cỡ mẫu: n = 60 (2 nhóm)Lê Thị Hường và Nguyễn Thị Thu Hà, 2023 (tóm tắt)
b6-027Nghiên cứu can thiệp ở 40 bệnh nhân mất ngủ không thực tổn (DSM-5, thể âm hư hoả vượng): nhĩ dán (dán hạt 5 huyệt tai, thay mỗi 5 ngày) kết hợp hoàn "An thần" (tên chế phẩm) trong 20 ngày; điểm ISI giảm trung bình 7,6 điểm và thời gian vào giấc giảm từ 81 xuống 36 phút theo tự báo cáo. Tóm tắt không mô tả nhóm chứng.ISI giảm 7,6 điểm (p < 0,05); vào giấc 81,00 ± 7,44 → 36,00 ± 10,07 phút; tổng thời gian ngủ +1,19 ± 0,52 giờ; hiệu quả giấc ngủ 56,31 → 74,60%NgườiCan thiệp lâm sàng, so sánh trước–sau (tóm tắt không nêu nhóm chứng, ngẫu nhiên hoá, làm mù); ISI và chỉ số tự báo cáo; 20 ngày. Cỡ mẫu: n = 40 (≥ 18 tuổi, thể âm hư hoả vượng)Mẫn Thị Hồng Thảo và cs., 2025 (tóm tắt)
b6-028Thử nghiệm lâm sàng mở so sánh trước–sau: cấy chỉ tại 4 huyệt (Nội quan, Thần môn, Tam âm giao, Thái khê) trong 30 ngày ở bệnh nhân mất ngủ không thực tổn; thời lượng ngủ tự báo cáo tăng từ 2,7 lên 6,1 giờ và PSQI giảm từ 16,2 xuống 5,0; 66,7% hết rối loạn giấc ngủ.Ngủ 2,68 ± 0,66 → 6,10 ± 0,99 giờ; vào giấc 70,17 → 29,25 phút; PSQI 16,17 ± 1,77 → 5,02 ± 2,98 (p < 0,01); không còn rối loạn giấc ngủ 66,7%NgườiThử nghiệm lâm sàng mở, so sánh trước–sau, không nhóm chứng, không ngẫu nhiên, không làm mù; PSQI và chỉ số tự báo cáo; 30 ngày. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu không nêu trong phần đọc được (2 thể y học cổ truyền: tâm tỳ hư, tâm thận bất giao)Nguyễn Văn Toại, 2022 (tóm tắt)
b6-035Khảo sát phỏng vấn 100 người mất ngủ ở ngoại thành TP.HCM (đầu 2019; 90% nữ): khoảng 87% cho biết từng dùng tâm sen hoặc lạc tiên (Passiflora foetida) để ngủ; tâm sen, lạc tiên, cam thảo và lá vông là các vị được nhắc nhiều nhất.Từng dùng tâm sen/lạc tiên ~87%; số người nhắc tới (bảng): tâm sen 92, lạc tiên 78, cam thảo 69, vông nem 61, nữ lang (valerian) 43, xấu hổ (Mimosa pudica) 36, bồ công anh (Lactuca indica) 26NgườiKhảo sát cắt ngang bằng bảng hỏi phỏng vấn đơn giản (bài kỷ yếu hội nghị); "chọn ngẫu nhiên" không mô tả cách làm; chỉ thống kê mô tả, không kiểm định. Cỡ mẫu: n = 100 người tự báo cáo mất ngủ, ngoại thành TP.HCM; 90% nữ; 57% 31–50 tuổiHuynh Tan Hoi, 2021
b6-037Nghiên cứu có nhóm chứng ở 69 bệnh nhân mất ngủ không thực tổn (30 ngày, Bệnh viện Đa khoa Phúc Thịnh). Nhóm cấy chỉ + viên "Dưỡng tâm an thần" (tên chế phẩm) tăng thời lượng ngủ tự báo cáo thêm 3,2 giờ, nhóm chứng tăng 2,6 giờ; tỉ lệ hết mất ngủ 77,1% so với 64,7% (tóm tắt ghi p < 0,05); tóm tắt không nêu nhóm chứng được can thiệp gì.Tăng thời lượng ngủ: 3,21 ± 0,57 giờ (can thiệp) so với 2,64 ± 0,52 giờ (chứng); PSQI 14,22 → 4,17 so với 14,53 → 5,67; hết mất ngủ 77,1% so với 64,7% (p < 0,05)NgườiCan thiệp lâm sàng có nhóm chứng, so sánh trước–sau; tóm tắt không mô tả ngẫu nhiên hoá, làm mù hay can thiệp của nhóm chứng; PSQI và chỉ số tự báo cáo; 30 ngày. Cỡ mẫu: n = 69 (chia nhóm không nêu trong tóm tắt)Lê Thị Thu Hằng và Bùi Tiến Hưng, 2023 (tóm tắt)

Viết tắt trong trang

DSM-5
Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, ấn bản 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th edition)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
LSAHV
Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PRISMA
chuẩn báo cáo tổng quan hệ thống và phân tích gộp (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục G. Dữ kiện: Việt Nam — người lớn, giờ làm và y học cổ truyền. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ, rotundin và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/phu-luc-g-du-kien-b6/