Phụ lục này liệt kê toàn bộ 96 dữ kiện của nhánh Đồng hồ sinh học, ánh sáng và điều nhiệt đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, loài, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay mô hình. Mã dữ kiện (vd b2-001) dùng để đối chiếu khi cần sửa.
Nhân trên giao thoa thị (SCN)#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-001 | Ở người, thể tích nhân trên giao thoa thị (suprachiasmatic nucleus, SCN) ở nữ giảm liên tục theo tuổi; theo nhóm tác giả, sự giảm thể tích này chủ yếu do mất tế bào chứ không do tế bào teo nhỏ. | Thể tích SCN giảm theo tuổi ở nữ (định tính) | Người | Hình thái học định lượng (morphometry) trên não người sau tử vong · Không nêu trong tóm tắt đã đọc | Hofman và cs., 1988 (tóm tắt) |
| b2-002 | Trong cùng nghiên cứu hình thái học trên não người, không thấy khác biệt giới tính ở các thông số đo của SCN, ngoại trừ hình dạng của nhân (SCN có lưỡng hình giới tính về hình dạng). | Không khác biệt giới về các thông số đo; khác về hình dạng | Người | Hình thái học định lượng trên não người sau tử vong · Không nêu trong tóm tắt đã đọc | Hofman và cs., 1988 (tóm tắt) |
| b2-003 | Tổng quan của nhóm Swaab về hạ đồi người ghi nhận: trong lão hoá bình thường, và rõ hơn trong bệnh Alzheimer, số neuron vasopressin (AVP) của SCN giảm. | Số neuron AVP của SCN giảm theo tuổi, giảm mạnh hơn trong Alzheimer | Tổng quan | Tổng quan các nghiên cứu hoá mô miễn dịch trên não người sau tử vong của cùng nhóm · Không nêu | Swaab và cs., 1993 (tóm tắt) |
| b2-004 | Cùng tổng quan ghi nhận SCN ở nam đồng tính lớn hơn ở nam dị tính (dữ liệu hình thái học trên não người sau tử vong). | SCN lớn hơn ở nam đồng tính so với nam dị tính | Tổng quan | Tổng quan dữ liệu hình thái học não người sau tử vong · Không nêu | Swaab và cs., 1993 (tóm tắt) |
| b2-005 | Phương pháp xử lý mô ảnh hưởng mạnh tới số đếm neuron SCN ở người: khi tiền xử lý mô bằng vi sóng (microwave) trước nhuộm hoá mô miễn dịch, thể tích và số neuron đếm được của tiểu vùng AVP và tiểu vùng VIP (vasoactive intestinal polypeptide) đều tăng. | Thể tích và số neuron AVP/VIP đếm được tăng khi xử lý vi sóng | Người | Hoá mô miễn dịch và hình thái học trên não người sau tử vong, so sánh có/không xử lý vi sóng · Không nêu trong tóm tắt đã đọc | Zhou và cs., 1996 (tóm tắt) |
| b2-006 | Ở người cao tuổi sa sút trí tuệ giai đoạn cuối, mất neuron neurotensin của SCN đi kèm giảm biên độ nhịp hoạt động và nhịp nhiệt độ lõi, còn mất neuron vasopressin đi kèm nhịp hoạt động bị phân mảnh nhưng không giảm biên độ. | Hai phân quần thể neuron SCN liên quan tới hai đặc tính nhịp khác nhau | Người | Ghi nhiệt độ lõi và vận động trước tử vong; nhuộm Nissl, bạc, GFAP, vasopressin, neurotensin trên mô hạ đồi sau tử vong · 19 bệnh nhân nam sa sút trí tuệ giai đoạn cuối và 8 người cao tuổi bình thường được ghi nhịp; thêm 8 ca đối chứng mô | Harper và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b2-007 | Một tổng quan về gen đồng hồ mô tả SCN là một cụm khoảng 10.000 neuron không đồng nhất ở hạ đồi bụng; đây là con số khái quát cho động vật có vú, không phải số đếm trên não người. | Khoảng 10.000 neuron | Tổng quan | Tổng quan tường thuật; con số không gắn với loài cụ thể trong câu trích · Không áp dụng | Cox và Takahashi, 2019 |
Chu kỳ nội sinh#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-008 | Trong giao thức tách pha cưỡng bức (forced desynchrony), chu kỳ nội sinh của đồng hồ sinh học người trung bình 24,18 giờ, như nhau ở cả nhóm trẻ và nhóm cao tuổi khoẻ mạnh. | 24,18 giờ | Người | Forced desynchrony trong phòng thí nghiệm; đo nhịp nhiệt độ lõi, melatonin, cortisol · Người trẻ và cao tuổi khoẻ mạnh (số lượng không nêu trong tóm tắt đã đọc) | Czeisler và cs., 1999 (tóm tắt) |
| b2-009 | Ước tính cũ cho rằng nhịp nhiệt độ cơ thể người khi sống tách khỏi tín hiệu thời gian có chu kỳ trung bình 25 giờ; nghiên cứu forced desynchrony năm 1999 cho thấy chu kỳ nội sinh thực gần 24 giờ hơn nhiều. | ~25 giờ (ước tính cũ) so với 24,18 giờ | Người | Đối chiếu trong tóm tắt giữa các thí nghiệm sống tự do cũ và forced desynchrony · Không nêu | Czeisler và cs., 1999 (tóm tắt) |
| b2-010 | Gộp dữ liệu forced desynchrony của 157 người (52 nữ, 105 nam, 18–74 tuổi), chu kỳ nội sinh trung bình là 24,15 ± 0,2 giờ (24 giờ 9 phút ± 12 phút). | 24,15 ± 0,2 giờ | Người | Forced desynchrony nội trú khoảng một tháng; ước tính chu kỳ từ nhịp nhiệt độ lõi và melatonin · n = 157 (52 nữ, 105 nam; 18–74 tuổi) | Duffy và cs., 2011 (tóm tắt) |
| b2-011 | Chu kỳ nội sinh của nữ ngắn hơn nam có ý nghĩa thống kê: 24,09 ± 0,2 giờ ở nữ so với 24,19 ± 0,2 giờ ở nam (chênh khoảng 6 phút mỗi chu kỳ). | Nữ 24,09 giờ; nam 24,19 giờ | Người | Forced desynchrony · n = 157 (52 nữ, 105 nam) | Duffy và cs., 2011 (tóm tắt) |
| b2-012 | Tỉ lệ người có chu kỳ nội sinh ngắn hơn 24,0 giờ ở nữ cao hơn nam: 35% so với 14%. | 35% nữ so với 14% nam có chu kỳ < 24 giờ | Người | Forced desynchrony · n = 157 | Duffy và cs., 2011 (tóm tắt) |
| b2-013 | Đồng hồ ngoại vi đo trên nguyên bào sợi da người nuôi cấy (biểu hiện gen đồng hồ) có chu kỳ trung bình 24,5 giờ, độ lệch chuẩn 45 phút giữa các cá nhân. | 24,5 giờ (SD 45 phút) | Người | Sinh thiết da, nuôi cấy nguyên bào sợi, ghi nhịp biểu hiện gen đồng hồ bằng gen báo cáo · n = 19 người | Brown và cs., 2005 |
| b2-014 | Giữa 19 cá nhân, chu kỳ nhịp nguyên bào sợi chênh nhau tối đa 4 giờ, trong khi các sinh thiết khác nhau của cùng một người cho giá trị trung bình rất ổn định (SD 6 phút). | Chênh tối đa 4 giờ giữa người; SD 6 phút trong cùng người | Người | Nuôi cấy nguyên bào sợi da; lặp sinh thiết · n = 19 | Brown và cs., 2005 |
Đường võng mạc–hạ đồi và ipRGC#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-015 | Đếm toàn bộ trên võng mạc người cho thấy có khoảng 7.283 ± 237 tế bào hạch võng mạc chứa melanopsin (tế bào hạch võng mạc tự nhạy sáng, intrinsically photosensitive retinal ganglion cells, ipRGC), chiếm 0,63–0,75% tổng số tế bào hạch võng mạc. | 7.283 ± 237 tế bào/võng mạc; 0,63–0,75% số RGC | Người | Hoá mô miễn dịch melanopsin trên võng mạc người sau tử vong; đếm toàn bộ tế bào · Đếm toàn bộ trên 2 võng mạc (1 nam, 1 nữ); tổng số võng mạc của nghiên cứu không nêu trong tóm tắt | Hannibal và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b2-016 | Ở võng mạc người có các phân loại ipRGC M1, M1 lạc chỗ (displaced M1), M2, M4, cùng hai phân loại khác là M1 khổng lồ (gigantic M1) và M1 lạc chỗ khổng lồ; rất ít tế bào M3 và không thấy M5. Mật độ M4 cao nhất ở võng mạc phía mũi. | Các phân loại M1, dM1, M2, M4, GM1, GDM1; ít M3; không có M5 | Người | Hoá mô miễn dịch melanopsin trên võng mạc người sau tử vong · Không nêu trong tóm tắt (đếm toàn bộ trên 2 võng mạc) | Hannibal và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b2-017 | Một nghiên cứu khác của cùng nhóm ước tính tế bào chứa melanopsin chiếm khoảng 0,8% tổng số tế bào hạch võng mạc người; melanopsin đồng định vị với PACAP và các sợi chứa PACAP dường như phân bố vào phần nhận tín hiệu võng mạc của SCN. | ~0,8% số RGC | Người | Lai tại chỗ (in situ hybridization) và hoá mô miễn dịch trên mắt 17 người hiến; 2 mẫu hạ đồi sau tử vong chứa SCN · Mắt của 17 người hiến; 2 hạ đồi | Hannibal và cs., 2004 (tóm tắt) |
| b2-018 | ipRGC chứa melanopsin vẫn được bảo tồn ở võng mạc của người mù có thoái hoá võng mạc nặng. | Bảo tồn ipRGC khi mất tế bào que/nón | Người | Hoá mô miễn dịch trên mắt người hiến · Không nêu số người mù | Hannibal và cs., 2004 (tóm tắt) |
| b2-019 | Trên 24 võng mạc người hiến từ 10 đến 81 tuổi, sau 70 tuổi số ipRGC thấp hơn 31% so với người 30–50 tuổi (theo tóm tắt); phần Thảo luận của cùng bài nêu mức giảm khoảng 44% so với nhóm võng mạc trẻ nhất. | Giảm 31% (so với 30–50 tuổi); ~44% (so với nhóm trẻ nhất) | Người | Hoá mô miễn dịch melanopsin; đếm mật độ trên vùng khoảng 1 cm² phía trên–mũi của võng mạc trải phẳng sau tử vong, không đếm toàn bộ võng mạc · 24 võng mạc, người hiến 10–81 tuổi | Esquiva và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b2-020 | Phân bố các phân loại ipRGC ở võng mạc người: khoảng một nửa (51%) nằm ở lớp tế bào hạch; trong đó M1 12%, M2 16%, M3 23%; nhóm M1 lạc chỗ ở lớp nhân trong (M1d) chiếm 49%. | 51% ở lớp tế bào hạch; M1 12%, M2 16%, M3 23%, M1d 49% | Người | Hoá mô miễn dịch melanopsin trên võng mạc người sau tử vong · 24 võng mạc | Esquiva và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b2-021 | Ở võng mạc người trên 50 tuổi, diện tích sợi nhánh của ipRGC giảm dần theo tuổi, với ít điểm phân nhánh và đầu tận sợi nhánh hơn. | Thoái hoá sợi nhánh tiến triển theo tuổi (định tính) | Người | Hoá mô miễn dịch, phân tích Sholl · 24 võng mạc | Esquiva và cs., 2017 (tóm tắt) |
Ánh sáng và ức chế melatonin#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-022 | Phổ tác động (action spectrum) ức chế melatonin ban đêm ở người phù hợp với khuôn mẫu một opsin (R² = 0,91), xác định vùng 446–477 nm là vùng bước sóng hiệu lực nhất cho tín hiệu vào đồng hồ sinh học. | 446–477 nm | Người | Chiếu ánh sáng đơn sắc toàn trường thị giác 2:00–3:30 sáng; 420–600 nm; ít nhất 7 mức bức xạ cho mỗi bước sóng · 72 người khoẻ (37 nữ, 35 nam; tuổi trung bình 24,5); 627 lần thử | Brainard và cs., 2001 (tóm tắt) |
| b2-023 | Nghiên cứu phổ tác động năm 2001 kết luận có một sắc tố quang mới gốc opsin trong mắt người, với đỉnh hấp thụ khác với sắc tố của tế bào que và nón, chịu trách nhiệm chính cho ức chế melatonin. | Một sắc tố quang đơn lẻ, khác que/nón | Người | Như trên · 72 người; 627 lần thử | Brainard và cs., 2001 (tóm tắt) |
| b2-024 | Trong đồng thuận năm 2022, phổ nhạy melanopsin dùng cho chỉ số melanopic EDI có đỉnh ở 490 nm sau khi tính đến lọc trước võng mạc của một người quan sát 32 tuổi. | Đỉnh 490 nm (sau lọc trước võng mạc, người 32 tuổi) | Hướng dẫn | Đồng thuận chuyên gia dựa trên tiêu chuẩn CIE và dữ liệu phòng thí nghiệm · Không áp dụng | Brown và cs., 2022 |
| b2-025 | Ở người trẻ, đỉnh nhạy của ức chế melatonin là 484 nm; ở người 55–63 tuổi đỉnh dịch sang 494 nm (p = 0,008). | 484 nm (trẻ) so với 494 nm (lớn tuổi) | Người | Ánh sáng đơn sắc 9 bước sóng 420–620 nm, mỗi lần 60 phút, cùng mật độ photon; thiết kế trong-đối tượng · 5 người trẻ (24–27 tuổi), 8 người lớn tuổi (55–63 tuổi) | Najjar và cs., 2014 |
| b2-026 | Độ truyền qua thuỷ tinh thể ở 480 nm của người lớn tuổi thấp hơn trung bình 42,3% so với người trẻ; theo tính toán lẽ ra ức chế melatonin giảm 34%, nhưng thực tế ức chế ở 480 nm không giảm ở người lớn tuổi. | Truyền qua giảm 42,3%; dự báo giảm ức chế 34% nhưng không quan sát thấy | Người | Đo mật độ quang thuỷ tinh thể; so với ức chế melatonin đo được · 8 trẻ (tuổi TB 24,9) và 8 lớn tuổi (tuổi TB 61,4) cho đo thuỷ tinh thể | Najjar và cs., 2014 |
| b2-027 | Ở 55 người 18–30 tuổi, liều ánh sáng buổi tối gây ức chế melatonin 50% (ED50) ở mức nhóm là 24,60 lux. | ED50 nhóm = 24,60 lux | Người | Chiếu sáng từ 4 giờ trước đến 1 giờ sau giờ ngủ thường lệ; 10, 30, 50, 100, 200, 400, 2.000 lux so với ánh sáng mờ · n = 55 (18–30 tuổi) | Phillips và cs., 2019 |
| b2-028 | ED50 của từng cá nhân dao động hơn một bậc độ lớn: 6 lux ở người nhạy nhất và 350 lux ở người kém nhạy nhất; độ nhạy với ánh sáng buổi tối khác nhau hơn 50 lần giữa các cá nhân. | 6–350 lux; > 50 lần | Người | Như trên; đường liều–đáp ứng cá nhân · n = 55 | Phillips và cs., 2019 |
| b2-029 | Ở mức trung bình nhóm, ánh sáng 30 lux đã ức chế melatonin trên 50%; bốn người nhạy nhất bị ức chế trên 50% với ánh sáng đọc sách mờ 10 lux. | > 50% ức chế ở 30 lux (nhóm); > 50% ở 10 lux (4 người nhạy nhất) | Người | Như trên · n = 55 | Phillips và cs., 2019 |
| b2-030 | Ở 116 người 18–30 tuổi, tiếp xúc ánh sáng phòng (< 200 lux) trong 8 giờ trước giờ ngủ so với ánh sáng mờ (< 3 lux) làm melatonin khởi phát muộn hơn ở 99,0% người và rút ngắn thời gian tiết melatonin khoảng 90 phút. | Khởi phát muộn ở 99,0%; rút ngắn ~90 phút | Người | Nội trú ≥ 5 ngày tại trung tâm nghiên cứu lâm sàng; so sánh ánh sáng phòng và ánh sáng mờ · n = 116 (18–30 tuổi) | Gooley và cs., 2011 |
| b2-031 | Ánh sáng phòng (< 200 lux) trong giờ ngủ thường lệ ức chế melatonin trên 50% ở phần lớn (85%) số lần thử. | > 50% ức chế ở 85% lần thử | Người | Như trên · n = 116 | Gooley và cs., 2011 |
| b2-032 | Đồng thuận chuyên gia 2022 khuyến nghị ban ngày mức melanopic EDI tối thiểu 250 lux tại mắt, đo ở mặt phẳng đứng. | ≥ 250 lux melanopic EDI | Hướng dẫn | Đồng thuận chuyên gia (hội thảo quốc tế) dựa trên phân tích dữ liệu gộp từ các nghiên cứu phòng thí nghiệm có kiểm soát · Không áp dụng | Brown và cs., 2022 |
| b2-033 | Buổi tối, bắt đầu ít nhất 3 giờ trước giờ ngủ, mức melanopic EDI khuyến nghị tối đa là 10 lux. | ≤ 10 lux melanopic EDI, từ ≥ 3 giờ trước ngủ | Hướng dẫn | Đồng thuận chuyên gia · Không áp dụng | Brown và cs., 2022 |
| b2-034 | Trong môi trường ngủ, mức melanopic EDI môi trường khuyến nghị tối đa là 1 lux đo tại mắt; nếu ban đêm cần nhìn để hoạt động, tối đa 10 lux. | Ngủ ≤ 1 lux; hoạt động ban đêm ≤ 10 lux | Hướng dẫn | Đồng thuận chuyên gia · Không áp dụng | Brown và cs., 2022 |
| b2-035 | Đồng thuận 2022 mô tả ipRGC là một lớp neuron võng mạc chuyên biệt, có sắc tố melanopsin nhạy cực đại với một vùng phổ khác với sắc tố của tế bào nón, và là kênh chính cho tác động không tạo hình ảnh của ánh sáng. | Định tính | Tổng quan | Đồng thuận chuyên gia · Không áp dụng | Brown và cs., 2022 |
Melatonin, tuyến tùng và DLMO#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-036 | Đường dẫn thần kinh điều khiển tổng hợp melatonin: từ nhân cạnh não thất (paraventricular nucleus, PVN) của hạ đồi, qua neuron tiền hạch ở các đốt tuỷ ngực trên, tới neuron hậu hạch ở hạch cổ trên (superior cervical ganglion), rồi tới tuyến tùng; noradrenaline từ đầu tận giao cảm tác động lên thụ thể beta và alpha của tế bào tuyến tùng. | Chuỗi PVN → tuỷ ngực trên → hạch cổ trên → tuyến tùng | Tổng quan | Tổng quan tường thuật; dữ liệu giải phẫu gốc chủ yếu ở chuột cống (Kappers 1960) · Không áp dụng | Amaral và Cipolla-Neto, 2018 |
| b2-037 | Bằng chứng chức năng ở người cho đường dẫn qua tuỷ sống: ở 3 người liệt tứ chi do tổn thương hoàn toàn tuỷ cổ thấp, không phát hiện được sản xuất melatonin, trong khi 2 người liệt hai chi dưới có melatonin biên độ và thời điểm bình thường. | Melatonin vắng mặt ở 3/3 người liệt tứ chi; bình thường ở 2/2 người liệt hai chân | Người | Đo hormone theo nhịp ngày đêm ở người tổn thương tuỷ sống hoàn toàn · n = 5 (3 liệt tứ chi, 2 liệt hai chi dưới) | Zeitzer và cs., 2000 (tóm tắt) |
| b2-038 | Ở cùng nhóm người liệt tứ chi, nhịp cortisol và TSH vẫn mạnh và đúng thời điểm, cho thấy mất melatonin không làm rối loạn nhịp các hormone này. | Nhịp cortisol và TSH được bảo tồn | Người | Như trên · n = 5 | Zeitzer và cs., 2000 (tóm tắt) |
| b2-039 | Tổng hợp dữ liệu DLMO (thời điểm khởi phát tiết melatonin trong ánh sáng mờ, dim light melatonin onset) trong nước bọt từ 3.579 người thuộc 121 nghiên cứu, và DLMO huyết tương của 818 người khoẻ thuộc 31 nghiên cứu (3–73 tuổi). | 3.579 người/121 nghiên cứu (nước bọt); 818 người/31 nghiên cứu (huyết tương) | Tổng quan | Tổng hợp số liệu đã công bố và dữ liệu cá nhân do tác giả các nghiên cứu cung cấp · 3.579 + 818 người | Kennaway, 2023 |
| b2-040 | DLMO nước bọt trung bình có trọng số ở người 20–29 tuổi là 21,59 giờ (khoảng 21:35). | 21,59 giờ (thập phân) | Tổng quan | Tổng hợp số liệu · 66 nghiên cứu/1.875 người | Kennaway, 2023 |
| b2-041 | Từ đầu thời thơ ấu đến cuối tuổi vị thành niên, DLMO nước bọt muộn dần khoảng 2 giờ 38 phút; từ khoảng 25 đến 75 tuổi, DLMO sớm dần khoảng 1 giờ 20 phút. | Muộn 2 giờ 38 phút (trẻ em → vị thành niên); sớm 1 giờ 20 phút (25 → 75 tuổi) | Tổng quan | Tổng hợp số liệu · 3.579 người | Kennaway, 2023 |
| b2-042 | Không có khác biệt giới tính về DLMO; DLMO nước bọt tương quan với điểm thang sáng–tối MEQ (điểm MEQ thấp, tức thiên về buổi tối, đi kèm DLMO muộn hơn). | Không khác biệt giới; tương quan với MEQ (p < 0,001) | Tổng quan | Tổng hợp số liệu · 53 bài/1.749 người cho phân tích MEQ | Kennaway, 2023 |
| b2-043 | Phương pháp định lượng melatonin và cách tính DLMO ít ảnh hưởng tới giá trị DLMO thu được. | Ảnh hưởng nhỏ của phương pháp | Tổng quan | Tổng hợp số liệu · Không áp dụng | Kennaway, 2023 |
| b2-044 | So sánh hồ sơ melatonin huyết tương trong giao thức constant routine giữa 34 người cao tuổi khoẻ, không dùng thuốc (20 nữ, 14 nam; 65–81 tuổi) và 98 nam thanh niên khoẻ (18–30 tuổi): không phát hiện khác biệt có ý nghĩa về biên độ nội sinh của nhịp melatonin, và thời lượng tiết gần như nhau (9,3 so với 9,1 giờ; P = 0,43). | Không khác biệt theo tuổi; thời lượng 9,3 so với 9,1 giờ | Người | Constant routine; lấy máu nhiều lần đo melatonin huyết tương · 34 người 65–81 tuổi (20 nữ, 14 nam); 98 nam 18–30 tuổi | Zeitzer và cs., 1999 (tóm tắt) |
| b2-045 | Tổng quan hệ thống 19 nghiên cứu ở người cao tuổi khoẻ mạnh: đỉnh melatonin thường lúc 2–3 giờ sáng; nồng độ đỉnh dao động rất rộng giữa các nghiên cứu, từ 11,2 đến 91,3 pg/mL. | Đỉnh 2–3 giờ sáng; 11,2–91,3 pg/mL | Tổng quan | Tổng quan hệ thống; 5–60 người mỗi nghiên cứu; 1–96 lần đo/24 giờ · 19 nghiên cứu | Scholtens và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b2-046 | Nồng độ melatonin đỉnh ở các nghiên cứu có tuổi trung bình 65–70 là 49,3 pg/mL, và ở các nghiên cứu có tuổi trung bình ≥ 75 là 27,8 pg/mL (p < 0,001); tổng lượng melatonin 24 giờ dường như không đổi khi lão hoá khoẻ mạnh. | 49,3 pg/mL (65–70 tuổi) so với 27,8 pg/mL (≥ 75 tuổi) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống · 19 nghiên cứu | Scholtens và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b2-047 | Tổng quan hệ thống 23 nghiên cứu (máu/huyết tương, tuổi trung bình > 65) cho thấy hồ sơ melatonin có đỉnh đêm lúc 3 giờ sáng; ở người trên 75 tuổi, mức melatonin đêm có thể thấp hơn; người ở cơ sở chăm sóc có đỉnh đêm thấp hơn và mức ban ngày cao hơn. | Đỉnh 3 giờ sáng; 23 nghiên cứu | Tổng quan | Tổng quan hệ thống tài liệu (PubMed) · 23 nghiên cứu (từ 519 kết quả tìm kiếm) | Godfrey và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b2-048 | Một tổng quan về tuyến tùng nêu rằng mức melatonin thấp được xem là một dấu ấn sinh học của lão hoá và sản xuất melatonin giảm theo tuổi ở phần lớn động vật có xương sống. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Tan và cs., 2018 |
| b2-049 | Trên CT ở bệnh nhân không chọn lọc (tuổi trung bình 58,7 ± 17,4), 214/346 người (62%) có vôi hoá tuyến tùng. | 62% | Người | Chụp cắt lớp vi tính (CT); số liệu được tổng quan trích dẫn · n = 346 | Tan và cs., 2018 |
| b2-050 | Tỉ lệ vôi hoá tuyến tùng ở các quần thể khác nhau khá giống nhau: 71,6% ở 12.000 người khoẻ tại Thổ Nhĩ Kỳ, khoảng 71% ở Iran, khoảng 72% ở Ethiopia và 70% ở người da đen tại Hoa Kỳ. | 70–72% | Người | Chẩn đoán hình ảnh; tổng quan trích dẫn · Thổ Nhĩ Kỳ n = 12.000; các quần thể khác không nêu | Tan và cs., 2018 |
| b2-051 | Vôi hoá tuyến tùng tăng mạnh theo tuổi: 2% ở 0–9 tuổi, 32% ở 10–19 tuổi, 53% ở 20–29 tuổi và 83% ở người trên 30 tuổi; vôi hoá cũng gặp ở trẻ sơ sinh. | 2% / 32% / 53% / 83% | Người | Chẩn đoán hình ảnh; tổng quan trích dẫn · Không nêu | Tan và cs., 2018 |
| b2-052 | Nồng độ melatonin (huyết thanh, nước bọt, nước tiểu) tương quan nghịch với kích thước phần vôi hoá và tương quan thuận với phần mô tuyến tùng chưa vôi hoá. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan các nghiên cứu trên người · Không nêu | Tan và cs., 2018 |
| b2-053 | Tuyến tùng người nặng trung bình khoảng 150 mg. | ~150 mg | Người | Giải phẫu; tổng quan trích Golan và cộng sự 2002 (Folia Morphol) · Không nêu | Tan và cs., 2018 |
| b2-054 | Ở bệnh nhân Alzheimer, nồng độ melatonin trong dịch não tuỷ sau tử vong chỉ bằng 20% so với người không mắc Alzheimer. | 20% so với đối chứng | Người | Dịch não tuỷ sau tử vong; tổng quan trích dẫn · Không nêu | Tan và cs., 2018 |
| b2-055 | Trên CT ở 279 bệnh nhân phòng khám trí nhớ và 37 người đối chứng cùng tuổi, mức độ vôi hoá tuyến tùng ở bệnh nhân Alzheimer trung bình 76,2% (SD 26,6), cao hơn đối chứng 64,5% (SD 30,6; p = 0,021). | 76,2% so với 64,5% | Người | CT in vivo; ước tính mức độ vôi hoá và diện tích mô chưa vôi hoá · 279 bệnh nhân (155 Alzheimer, 25 sa sút khác, 33 suy giảm nhận thức nhẹ, 66 trầm cảm) và 37 đối chứng | Mahlberg và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b2-056 | Diện tích mô tuyến tùng chưa vôi hoá ở bệnh nhân Alzheimer trung bình 0,15 cm² (SD 0,24), nhỏ hơn ở người đối chứng 0,25 cm² (SD 0,31; p = 0,027). | 0,15 cm² so với 0,25 cm² | Người | CT in vivo · Như trên | Mahlberg và cs., 2008 (tóm tắt) |
Gen đồng hồ và đột biến ở người#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-057 | Vòng phản hồi phiên mã–dịch mã lõi: CLOCK và BMAL1 gắn trực tiếp vào yếu tố điều hoà E-box qua miền bHLH để hoạt hoá phiên mã; các protein ức chế PER và CRY bắt cặp với nhau rồi đi vào nhân để ức chế hoạt động của chính CLOCK/BMAL1. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan tường thuật (chủ yếu dữ liệu chuột) · Không áp dụng | Cox và Takahashi, 2019 |
| b2-058 | Vòng phụ: CLOCK/BMAL1 hoạt hoá phiên mã các thụ thể nhân REV-ERBα và REV-ERBβ; REV-ERB cạnh tranh với ROR tại vị trí gắn trên gen Bmal1, tạo điều hoà âm (REV-ERB) và dương (ROR). | Định tính | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Cox và Takahashi, 2019 |
| b2-059 | SCN đồng bộ hoá các đồng hồ ngoại vi; ở gan (chuột) có khoảng 3.000 gen có nhịp chiếm chỗ của BMAL1 theo ngày đêm. | ~3.000 gen (gan chuột) | Động vật | Tổng quan; ChIP theo thời gian ở gan chuột nhắt · Không áp dụng | Cox và Takahashi, 2019 |
| b2-060 | Hội chứng ngủ sớm pha có tính gia đình (familial advanced sleep phase syndrome, FASPS) được mô tả ở 3 dòng họ, di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường với độ thấm cao, kèm chu kỳ nội sinh rất ngắn. | 3 dòng họ; trội NST thường | Người | Phả hệ; đánh giá nhịp sinh học · 3 dòng họ | Jones và cs., 1999 (tóm tắt) |
| b2-061 | Đột biến serine thành glycine trong vùng gắn casein kinase Iε của gen PER2 người (hPer2) gây FASPS, làm nhịp ngủ, nhiệt độ và melatonin sớm khoảng 4 giờ. | Sớm ~4 giờ | Người | Di truyền phả hệ; thí nghiệm phosphoryl hoá in vitro · Một dòng họ FASPS (số người không nêu trong tóm tắt) | Toh và cs., 2001 (tóm tắt) |
| b2-062 | Một biến thể trội ở gen CRY1 gây rối loạn ngủ muộn pha có tính gia đình; alen có tần suất tới 0,6% và kéo dài chu kỳ nhịp phân tử. | Tần suất alen tới 0,6% | Người | Giải trình tự di truyền; phân tích phả hệ ngược (reverse phenotyping); nhịp phân tử in vitro · Nhiều gia đình không liên quan (số không nêu trong tóm tắt) | Patke và cs., 2017 (tóm tắt) |
Điều nhiệt khi ngủ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-063 | Mức độ giãn mạch da ở bàn tay và bàn chân là yếu tố sinh lý dự báo tốt nhất cho việc vào giấc nhanh. | Định tính | Người | Đo nhiệt độ da xa–gần và nhiệt độ lõi trong phòng thí nghiệm · Không nêu trong phần đã đọc | Kräuchi và cs., 1999 (tóm tắt) |
| b2-064 | Ở người, nhiệt độ lõi thấp nhất quan sát được khoảng 2 giờ sau khi tắt đèn và vào giấc. | ~2 giờ sau tắt đèn | Tổng quan | Tổng quan; dẫn Kräuchi và cộng sự 2000 · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
| b2-065 | Nhiệt độ lõi giảm đều đặn khoảng 2 giờ trước khi vào giấc; giãn mạch đầu chi là một phần của sự giảm nhiệt theo nhịp ngày đêm và xuất hiện tới 2 giờ trước giấc ngủ đầu tiên. | ~2 giờ trước vào giấc | Tổng quan | Tổng quan; dẫn Kräuchi và cộng sự 2000 · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
| b2-066 | Gradient nhiệt độ da gần–xa (proximal-to-distal) có thể lên tới 1,5 °C. | Tới 1,5 °C | Tổng quan | Tổng quan; Hình 2B phỏng theo Kräuchi và cộng sự 2000 · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
| b2-067 | Ở người rối loạn ngủ muộn pha, sự giảm nhiệt độ lõi bị chậm hơn 2 giờ. | > 2 giờ | Tổng quan | Tổng quan; dẫn Ozaki 1996, van den Heuvel 1998, Watanabe 2003 · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
| b2-068 | Ở 8 người ngủ tốt, so hai điều kiện constant routine trong phòng thí nghiệm (một điều kiện cho phép ngủ ban đêm, một điều kiện không), giấc ngủ làm nhiệt độ trực tràng giảm thêm trung bình 0,31 ± 0,09 °C. | 0,31 ± 0,09 °C | Người | Ghi nhiệt độ trực tràng 24 giờ trong hai điều kiện phòng thí nghiệm đều theo constant routine; chỉ một điều kiện cho ngủ đêm · n = 8 người ngủ tốt | Barrett và cs., 1993 (tóm tắt) |
| b2-069 | Trong điều kiện đồng bộ, giấc ngủ thường bắt đầu ở sườn đi xuống của đường cong nhiệt độ lõi (core body temperature, CBT), khi tốc độ thay đổi nhiệt độ và mức mất nhiệt cơ thể là lớn nhất. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan · Không áp dụng | Kräuchi, 2007 (tóm tắt) |
| b2-070 | Tăng nhiệt độ da chỉ 0,4 °C bằng bộ đồ điều nhiệt, không làm thay đổi nhiệt độ lõi, đã chuyển giấc ngủ sang các giai đoạn sâu và ức chế thức giấc về đêm (p < 0,001). | +0,4 °C nhiệt độ da | Người | Can thiệp nhiệt độ da bằng bộ đồ điều nhiệt trong đa ký giấc ngủ · Người trẻ, người cao tuổi khoẻ mạnh và người cao tuổi mất ngủ (số người không nêu trong tóm tắt) | Raymann và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b2-071 | Ở người cao tuổi, làm ấm da nhẹ gần gấp đôi tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm và giảm xác suất thức dậy sớm buổi sáng từ 0,58 xuống 0,04. | Xác suất thức sớm 0,58 → 0,04 | Người | Như trên · Người cao tuổi (số người không nêu trong tóm tắt) | Raymann và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b2-072 | Thay đổi nhiệt độ da nhỏ (0,4 °C) có thể rút ngắn thời gian vào giấc mà không đổi nhiệt độ lõi; làm ấm vùng thân (da gần) dưới 1 °C cũng có tác động. | 0,4 °C; < 1 °C | Tổng quan | Tổng quan; dẫn Raymann 2005, 2008 · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
| b2-073 | Người trẻ có rối loạn điều hoà mạch máu (vascular dysregulation) và khó vào giấc có DLMO muộn hơn khoảng 1 giờ so với đối chứng: 14,6 ± 0,3 giờ so với 13,5 ± 0,2 giờ sau khi bật đèn (p = 0,01). | Muộn ~1 giờ | Người | Constant routine 40 giờ trước và sau một giai đoạn ngủ 8 giờ; đo melatonin, nhiệt độ lõi, gradient xa–gần · 9 phụ nữ có rối loạn điều hoà mạch, 9 đối chứng | Vollenweider và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b2-074 | Trong điều kiện sống thực, phụ nữ có rối loạn điều hoà mạch máu có pha nhiệt độ da bàn chân trễ hơn (38,50 ± 16,65 phút so với 3,57 ± 17,28 phút ở đối chứng) và thời gian vào giấc dài hơn (p < 0,05), dù DLMO và giờ ngủ thường lệ không khác. | 38,50 so với 3,57 phút | Người | Ghi nhiệt độ da và vận động cổ tay ngoài đời thực; DLMO · 41 phụ nữ trẻ (20 có rối loạn điều hoà mạch, 21 đối chứng) | Gompper và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b2-075 | Ở người, cơ chế điều nhiệt được mô tả là bị bãi bỏ trong giấc ngủ REM; bằng chứng gốc cho nhận định này là nghiên cứu trên động vật. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan; dẫn Glotzbach & Heller 1976 (động vật) · Không áp dụng | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-076 | Ở người, run cơ khi ngủ chỉ gặp ở giai đoạn 1 và 2, không gặp ở giấc ngủ sóng chậm và REM; tốc độ đổ mồ hôi tăng trong giấc ngủ sóng chậm so với các giai đoạn khác. | Run chỉ ở N1–N2 | Người | Tổng quan dẫn Haskell 1981 (J Appl Physiol) và Ogawa 1967 · Không nêu | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-077 | Thí nghiệm trên chuột nhắt: nhiệt độ cơ thể dao động khoảng 2 °C khi chuyển từ pha hoạt động sang pha nghỉ. | ~2 °C | Động vật | Chuột nhắt; dữ liệu chưa công bố của nhóm tác giả trình bày trong tổng quan · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
| b2-078 | Ở vùng trước thị (preoptic area, POA), khoảng 21% neuron được ghi là nhạy nhiệt, và khoảng 60% neuron nhạy nóng tăng hoạt động trong giấc NREM; ở nhân trước thị giữa (MnPO), trên 75% neuron có đặc tính có thể thúc đẩy khởi phát NREM. | 21%; 60%; > 75% | Động vật | Ghi điện đơn bào ở động vật (tổng quan dẫn Alam 1995; Suntsova 2002); loài không ghi rõ trong các câu trích · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
| b2-079 | Tổng quan về nhiệt độ và giấc ngủ: ở cả người và động vật có vú khác, làm ấm da trực tiếp có thể rút ngắn thời gian vào giấc và thúc đẩy giấc NREM. | Định tính | Người và động vật | Tổng quan · Không áp dụng | Harding và cs., 2019 |
| b2-080 | Trên chuột nhắt, khi được chọn, chúng chọn môi trường ấm gần vùng trung hoà nhiệt (27–30 °C) khi ngủ; theo tổng quan, nhiệt độ trung hoà có vẻ cho phép giấc REM hồi phục tốt nhất so với điều kiện 22 °C hoặc làm ấm 36 °C. | 27–30 °C (chuột nhắt) | Động vật | Chuột nhắt; tổng quan dẫn Gordon 1998, Gaskill 2012, Kroeger 2018 · Không nêu | Harding và cs., 2019 |
Nhiệt độ môi trường và giấc ngủ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-081 | Nhiệt độ trung hoà nhiệt khi ngủ ở người gần khoả thân là khoảng 29 °C. | 29 °C | Người | Tổng quan dẫn Haskell và cộng sự 1981 (Electroencephalogr Clin Neurophysiol), người bán khoả thân · Không nêu | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-082 | Khi ngủ bình thường, vi khí hậu trong giường thường được duy trì ở khoảng 32–34 °C và độ ẩm tương đối 40–60%. | 32–34 °C; 40–60% RH | Người | Đo vi khí hậu giường; tổng quan dẫn Okamoto 1997 · Không nêu | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-083 | Một tổng quan nêu rằng ở nhiệt độ phòng tối ưu, khoảng 19–21 °C, con người tìm cách tạo vi khí hậu quanh da 31–35 °C, và lệch khỏi khoảng này ảnh hưởng xấu tới giấc ngủ. | Vi khí hậu 31–35 °C; phòng ~19–21 °C | Tổng quan | Tổng quan; câu dẫn Muzet và cộng sự 1984, Okamoto-Mizuno và cộng sự 2003, Raymann và cộng sự 2005 · Không áp dụng | Harding và cs., 2019 |
| b2-084 | Tăng thời gian thức và giảm giấc ngủ sóng chậm cùng REM là các tác động điển hình của môi trường nóng lên giấc ngủ người. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan; dẫn Karacan 1978 · Không áp dụng | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-085 | Ở nhiệt độ không khí 32 °C, độ ẩm 80%, chỉ giấc ngủ sóng chậm bị ảnh hưởng còn REM thì không (theo một nghiên cứu được tổng quan dẫn). | 32 °C, 80% RH | Người | Tổng quan dẫn Tsuzuki 2004 (J Therm Biol); đa ký giấc ngủ · Không nêu | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-086 | Các rối loạn giấc ngủ do nóng không giảm đi (không có thích nghi) ngay cả sau 5 ngày phơi nhiễm nóng liên tục cả ngày và đêm. | Không thích nghi sau 5 ngày | Người | Tổng quan dẫn Libert 1988 (Sleep) · Không nêu | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-087 | Ở người cao tuổi, phơi nhiễm nóng khi ngủ làm lượng mồ hôi toàn thân tăng gấp đôi. | Gấp 2 lần | Người | Tổng quan dẫn Okamoto-Mizuno 2004 (Int J Biometeorol) · Không nêu | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-088 | Với lạnh: trong các nghiên cứu có quần áo và/hoặc chăn đệm, không thấy khác biệt giấc ngủ ở dải nhiệt độ không khí 13–23 °C; ở người cao tuổi không thấy khác biệt chất lượng ngủ đo bằng actigraphy giữa 9 °C và 20 °C. | 13–23 °C; 9 so với 20 °C | Người | Tổng quan dẫn Muzet 1984 và Okamoto-Mizuno & Tsuzuki 2010 · Không nêu | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-089 | Tổng quan không dẫn nghiên cứu nào ở nước nhiệt đới; tác giả nhấn mạnh cần tính tới độ ẩm, nhất là ở Nhật Bản và nhiều nước châu Á có mùa hè nóng ẩm. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan · Không áp dụng | Okamoto-Mizuno và Mizuno, 2012 |
| b2-090 | Phân tích hơn 7 triệu bản ghi giấc ngủ từ vòng đeo tay (47.628 người, 68 quốc gia) cho thấy nhiệt độ tăng làm ngắn giấc ngủ chủ yếu do vào giấc muộn hơn. | 7 triệu bản ghi; 47.628 người; 68 nước | Người | Dữ liệu vòng đeo tay ghép với dữ liệu khí tượng · n = 47.628 | Minor và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b2-091 | Tác động mất ngủ do nóng lớn hơn đáng kể ở cư dân nước thu nhập thấp và người cao tuổi; nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn nam; người sống ở vùng nóng mất ngủ nhiều hơn trên mỗi độ ấm lên. | Định tính theo nhóm | Người | Như trên · n = 47.628 | Minor và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b2-092 | Theo kịch bản khí hậu, tới năm 2099 nhiệt độ không tối ưu có thể làm mất 50–58 giờ ngủ mỗi người mỗi năm. | 50–58 giờ/người/năm | Mô hình | Mô hình dự báo dựa trên quan hệ nhiệt độ–giấc ngủ quan sát được · Không áp dụng | Minor và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b2-093 | Nghiên cứu thực địa ở Kuala Lumpur (khí hậu nóng ẩm) trên 20 người trẻ ngủ phòng điều hoà: khi được tự đặt nhiệt độ điều hoà, nhiệt độ không khí đo được trung bình khi ngủ là 22,0 °C (nam) và 23,3 °C (nữ). | 22,0 °C (nam); 23,3 °C (nữ) | Người | Thực địa trong phòng khách của một toà nhà trường đại học (UTM Kuala Lumpur); 1 đêm làm quen + 2 đêm đo mỗi điều kiện; phiếu cảm giác nhiệt ASHRAE 7 mức; đồng hồ Garmin đo vận động · n = 20 (10 nam, 10 nữ; 23–35 tuổi), Malaysia | Zaki và cs., 2021 |
| b2-094 | Nhiệt độ dễ chịu khi ngủ (comfort temperature) ước tính theo phương pháp Griffiths là 24,7 °C (Case A: ga trải giường cotton thông thường, nhiệt độ điều hoà tự chọn) và 25,2 °C (Case B: ga trải giường 'mát' và cài đặt điều hoà cao hơn 3 °C), nằm trong dải 24–26 °C do chính phủ Malaysia khuyến nghị. | 24,7 °C và 25,2 °C | Người | Như trên; phương pháp Griffiths · n = 20, Malaysia | Zaki và cs., 2021 |
| b2-095 | Khi tăng nhiệt độ phòng (thực tế tăng 1,7 °C ở độ cao 0,7 m) kèm ga trải giường mát, 94,9% người tham gia thấy dễ chịu (so với 81,6%), hiệu quả giấc ngủ cao hơn 2% và điện năng điều hoà giảm 39%. | 94,9% dễ chịu; hiệu quả ngủ +2%; giảm 39% điện năng | Người | Như trên; hiệu quả giấc ngủ ước tính từ vòng đeo tay · n = 20, Malaysia | Zaki và cs., 2021 |
| b2-096 | Khảo sát dữ liệu vi khí hậu trong năm tại 82 căn hộ ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho thấy máy điều hoà chủ yếu được dùng trong phòng ngủ vào ban đêm, và xác suất bật điều hoà liên quan chặt với nhiệt độ phòng và giờ trong ngày. | 82 căn hộ | Người | Ghi dữ liệu vi khí hậu trong nhà quanh năm (dự án CAMaRSEC) · n = 82 căn hộ | Wang và cs., 2025 (tóm tắt) |
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục B. Dữ kiện: đồng hồ sinh học và điều nhiệt. Trong: Tập 6 — Giải phẫu và sinh lý thần kinh của giấc ngủ ở người. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giai-phau-than-kinh-giac-ngu/phu-luc-b-du-kien-b2/