giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Tập 6 · Giải phẫu và sinh lý thần kinh của giấc ngủ

Phụ lục B. Dữ kiện: đồng hồ sinh học và điều nhiệt

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn Khoảng 26 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 96 dữ kiện của nhánh Đồng hồ sinh học, ánh sáng và điều nhiệt đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, loài, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay mô hình. Mã dữ kiện (vd b2-001) dùng để đối chiếu khi cần sửa.

Nhân trên giao thoa thị (SCN)#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-001Ở người, thể tích nhân trên giao thoa thị (suprachiasmatic nucleus, SCN) ở nữ giảm liên tục theo tuổi; theo nhóm tác giả, sự giảm thể tích này chủ yếu do mất tế bào chứ không do tế bào teo nhỏ.Thể tích SCN giảm theo tuổi ở nữ (định tính)NgườiHình thái học định lượng (morphometry) trên não người sau tử vong · Không nêu trong tóm tắt đã đọcHofman và cs., 1988 (tóm tắt)
b2-002Trong cùng nghiên cứu hình thái học trên não người, không thấy khác biệt giới tính ở các thông số đo của SCN, ngoại trừ hình dạng của nhân (SCN có lưỡng hình giới tính về hình dạng).Không khác biệt giới về các thông số đo; khác về hình dạngNgườiHình thái học định lượng trên não người sau tử vong · Không nêu trong tóm tắt đã đọcHofman và cs., 1988 (tóm tắt)
b2-003Tổng quan của nhóm Swaab về hạ đồi người ghi nhận: trong lão hoá bình thường, và rõ hơn trong bệnh Alzheimer, số neuron vasopressin (AVP) của SCN giảm.Số neuron AVP của SCN giảm theo tuổi, giảm mạnh hơn trong AlzheimerTổng quanTổng quan các nghiên cứu hoá mô miễn dịch trên não người sau tử vong của cùng nhóm · Không nêuSwaab và cs., 1993 (tóm tắt)
b2-004Cùng tổng quan ghi nhận SCN ở nam đồng tính lớn hơn ở nam dị tính (dữ liệu hình thái học trên não người sau tử vong).SCN lớn hơn ở nam đồng tính so với nam dị tínhTổng quanTổng quan dữ liệu hình thái học não người sau tử vong · Không nêuSwaab và cs., 1993 (tóm tắt)
b2-005Phương pháp xử lý mô ảnh hưởng mạnh tới số đếm neuron SCN ở người: khi tiền xử lý mô bằng vi sóng (microwave) trước nhuộm hoá mô miễn dịch, thể tích và số neuron đếm được của tiểu vùng AVP và tiểu vùng VIP (vasoactive intestinal polypeptide) đều tăng.Thể tích và số neuron AVP/VIP đếm được tăng khi xử lý vi sóngNgườiHoá mô miễn dịch và hình thái học trên não người sau tử vong, so sánh có/không xử lý vi sóng · Không nêu trong tóm tắt đã đọcZhou và cs., 1996 (tóm tắt)
b2-006Ở người cao tuổi sa sút trí tuệ giai đoạn cuối, mất neuron neurotensin của SCN đi kèm giảm biên độ nhịp hoạt động và nhịp nhiệt độ lõi, còn mất neuron vasopressin đi kèm nhịp hoạt động bị phân mảnh nhưng không giảm biên độ.Hai phân quần thể neuron SCN liên quan tới hai đặc tính nhịp khác nhauNgườiGhi nhiệt độ lõi và vận động trước tử vong; nhuộm Nissl, bạc, GFAP, vasopressin, neurotensin trên mô hạ đồi sau tử vong · 19 bệnh nhân nam sa sút trí tuệ giai đoạn cuối và 8 người cao tuổi bình thường được ghi nhịp; thêm 8 ca đối chứng môHarper và cs., 2008 (tóm tắt)
b2-007Một tổng quan về gen đồng hồ mô tả SCN là một cụm khoảng 10.000 neuron không đồng nhất ở hạ đồi bụng; đây là con số khái quát cho động vật có vú, không phải số đếm trên não người.Khoảng 10.000 neuronTổng quanTổng quan tường thuật; con số không gắn với loài cụ thể trong câu trích · Không áp dụngCox và Takahashi, 2019

Chu kỳ nội sinh#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-008Trong giao thức tách pha cưỡng bức (forced desynchrony), chu kỳ nội sinh của đồng hồ sinh học người trung bình 24,18 giờ, như nhau ở cả nhóm trẻ và nhóm cao tuổi khoẻ mạnh.24,18 giờNgườiForced desynchrony trong phòng thí nghiệm; đo nhịp nhiệt độ lõi, melatonin, cortisol · Người trẻ và cao tuổi khoẻ mạnh (số lượng không nêu trong tóm tắt đã đọc)Czeisler và cs., 1999 (tóm tắt)
b2-009Ước tính cũ cho rằng nhịp nhiệt độ cơ thể người khi sống tách khỏi tín hiệu thời gian có chu kỳ trung bình 25 giờ; nghiên cứu forced desynchrony năm 1999 cho thấy chu kỳ nội sinh thực gần 24 giờ hơn nhiều.~25 giờ (ước tính cũ) so với 24,18 giờNgườiĐối chiếu trong tóm tắt giữa các thí nghiệm sống tự do cũ và forced desynchrony · Không nêuCzeisler và cs., 1999 (tóm tắt)
b2-010Gộp dữ liệu forced desynchrony của 157 người (52 nữ, 105 nam, 18–74 tuổi), chu kỳ nội sinh trung bình là 24,15 ± 0,2 giờ (24 giờ 9 phút ± 12 phút).24,15 ± 0,2 giờNgườiForced desynchrony nội trú khoảng một tháng; ước tính chu kỳ từ nhịp nhiệt độ lõi và melatonin · n = 157 (52 nữ, 105 nam; 18–74 tuổi)Duffy và cs., 2011 (tóm tắt)
b2-011Chu kỳ nội sinh của nữ ngắn hơn nam có ý nghĩa thống kê: 24,09 ± 0,2 giờ ở nữ so với 24,19 ± 0,2 giờ ở nam (chênh khoảng 6 phút mỗi chu kỳ).Nữ 24,09 giờ; nam 24,19 giờNgườiForced desynchrony · n = 157 (52 nữ, 105 nam)Duffy và cs., 2011 (tóm tắt)
b2-012Tỉ lệ người có chu kỳ nội sinh ngắn hơn 24,0 giờ ở nữ cao hơn nam: 35% so với 14%.35% nữ so với 14% nam có chu kỳ < 24 giờNgườiForced desynchrony · n = 157Duffy và cs., 2011 (tóm tắt)
b2-013Đồng hồ ngoại vi đo trên nguyên bào sợi da người nuôi cấy (biểu hiện gen đồng hồ) có chu kỳ trung bình 24,5 giờ, độ lệch chuẩn 45 phút giữa các cá nhân.24,5 giờ (SD 45 phút)NgườiSinh thiết da, nuôi cấy nguyên bào sợi, ghi nhịp biểu hiện gen đồng hồ bằng gen báo cáo · n = 19 ngườiBrown và cs., 2005
b2-014Giữa 19 cá nhân, chu kỳ nhịp nguyên bào sợi chênh nhau tối đa 4 giờ, trong khi các sinh thiết khác nhau của cùng một người cho giá trị trung bình rất ổn định (SD 6 phút).Chênh tối đa 4 giờ giữa người; SD 6 phút trong cùng ngườiNgườiNuôi cấy nguyên bào sợi da; lặp sinh thiết · n = 19Brown và cs., 2005

Đường võng mạc–hạ đồi và ipRGC#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-015Đếm toàn bộ trên võng mạc người cho thấy có khoảng 7.283 ± 237 tế bào hạch võng mạc chứa melanopsin (tế bào hạch võng mạc tự nhạy sáng, intrinsically photosensitive retinal ganglion cells, ipRGC), chiếm 0,63–0,75% tổng số tế bào hạch võng mạc.7.283 ± 237 tế bào/võng mạc; 0,63–0,75% số RGCNgườiHoá mô miễn dịch melanopsin trên võng mạc người sau tử vong; đếm toàn bộ tế bào · Đếm toàn bộ trên 2 võng mạc (1 nam, 1 nữ); tổng số võng mạc của nghiên cứu không nêu trong tóm tắtHannibal và cs., 2017 (tóm tắt)
b2-016Ở võng mạc người có các phân loại ipRGC M1, M1 lạc chỗ (displaced M1), M2, M4, cùng hai phân loại khác là M1 khổng lồ (gigantic M1) và M1 lạc chỗ khổng lồ; rất ít tế bào M3 và không thấy M5. Mật độ M4 cao nhất ở võng mạc phía mũi.Các phân loại M1, dM1, M2, M4, GM1, GDM1; ít M3; không có M5NgườiHoá mô miễn dịch melanopsin trên võng mạc người sau tử vong · Không nêu trong tóm tắt (đếm toàn bộ trên 2 võng mạc)Hannibal và cs., 2017 (tóm tắt)
b2-017Một nghiên cứu khác của cùng nhóm ước tính tế bào chứa melanopsin chiếm khoảng 0,8% tổng số tế bào hạch võng mạc người; melanopsin đồng định vị với PACAP và các sợi chứa PACAP dường như phân bố vào phần nhận tín hiệu võng mạc của SCN.~0,8% số RGCNgườiLai tại chỗ (in situ hybridization) và hoá mô miễn dịch trên mắt 17 người hiến; 2 mẫu hạ đồi sau tử vong chứa SCN · Mắt của 17 người hiến; 2 hạ đồiHannibal và cs., 2004 (tóm tắt)
b2-018ipRGC chứa melanopsin vẫn được bảo tồn ở võng mạc của người mù có thoái hoá võng mạc nặng.Bảo tồn ipRGC khi mất tế bào que/nónNgườiHoá mô miễn dịch trên mắt người hiến · Không nêu số người mùHannibal và cs., 2004 (tóm tắt)
b2-019Trên 24 võng mạc người hiến từ 10 đến 81 tuổi, sau 70 tuổi số ipRGC thấp hơn 31% so với người 30–50 tuổi (theo tóm tắt); phần Thảo luận của cùng bài nêu mức giảm khoảng 44% so với nhóm võng mạc trẻ nhất.Giảm 31% (so với 30–50 tuổi); ~44% (so với nhóm trẻ nhất)NgườiHoá mô miễn dịch melanopsin; đếm mật độ trên vùng khoảng 1 cm² phía trên–mũi của võng mạc trải phẳng sau tử vong, không đếm toàn bộ võng mạc · 24 võng mạc, người hiến 10–81 tuổiEsquiva và cs., 2017 (tóm tắt)
b2-020Phân bố các phân loại ipRGC ở võng mạc người: khoảng một nửa (51%) nằm ở lớp tế bào hạch; trong đó M1 12%, M2 16%, M3 23%; nhóm M1 lạc chỗ ở lớp nhân trong (M1d) chiếm 49%.51% ở lớp tế bào hạch; M1 12%, M2 16%, M3 23%, M1d 49%NgườiHoá mô miễn dịch melanopsin trên võng mạc người sau tử vong · 24 võng mạcEsquiva và cs., 2017 (tóm tắt)
b2-021Ở võng mạc người trên 50 tuổi, diện tích sợi nhánh của ipRGC giảm dần theo tuổi, với ít điểm phân nhánh và đầu tận sợi nhánh hơn.Thoái hoá sợi nhánh tiến triển theo tuổi (định tính)NgườiHoá mô miễn dịch, phân tích Sholl · 24 võng mạcEsquiva và cs., 2017 (tóm tắt)

Ánh sáng và ức chế melatonin#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-022Phổ tác động (action spectrum) ức chế melatonin ban đêm ở người phù hợp với khuôn mẫu một opsin (R² = 0,91), xác định vùng 446–477 nm là vùng bước sóng hiệu lực nhất cho tín hiệu vào đồng hồ sinh học.446–477 nmNgườiChiếu ánh sáng đơn sắc toàn trường thị giác 2:00–3:30 sáng; 420–600 nm; ít nhất 7 mức bức xạ cho mỗi bước sóng · 72 người khoẻ (37 nữ, 35 nam; tuổi trung bình 24,5); 627 lần thửBrainard và cs., 2001 (tóm tắt)
b2-023Nghiên cứu phổ tác động năm 2001 kết luận có một sắc tố quang mới gốc opsin trong mắt người, với đỉnh hấp thụ khác với sắc tố của tế bào que và nón, chịu trách nhiệm chính cho ức chế melatonin.Một sắc tố quang đơn lẻ, khác que/nónNgườiNhư trên · 72 người; 627 lần thửBrainard và cs., 2001 (tóm tắt)
b2-024Trong đồng thuận năm 2022, phổ nhạy melanopsin dùng cho chỉ số melanopic EDI có đỉnh ở 490 nm sau khi tính đến lọc trước võng mạc của một người quan sát 32 tuổi.Đỉnh 490 nm (sau lọc trước võng mạc, người 32 tuổi)Hướng dẫnĐồng thuận chuyên gia dựa trên tiêu chuẩn CIE và dữ liệu phòng thí nghiệm · Không áp dụngBrown và cs., 2022
b2-025Ở người trẻ, đỉnh nhạy của ức chế melatonin là 484 nm; ở người 55–63 tuổi đỉnh dịch sang 494 nm (p = 0,008).484 nm (trẻ) so với 494 nm (lớn tuổi)NgườiÁnh sáng đơn sắc 9 bước sóng 420–620 nm, mỗi lần 60 phút, cùng mật độ photon; thiết kế trong-đối tượng · 5 người trẻ (24–27 tuổi), 8 người lớn tuổi (55–63 tuổi)Najjar và cs., 2014
b2-026Độ truyền qua thuỷ tinh thể ở 480 nm của người lớn tuổi thấp hơn trung bình 42,3% so với người trẻ; theo tính toán lẽ ra ức chế melatonin giảm 34%, nhưng thực tế ức chế ở 480 nm không giảm ở người lớn tuổi.Truyền qua giảm 42,3%; dự báo giảm ức chế 34% nhưng không quan sát thấyNgườiĐo mật độ quang thuỷ tinh thể; so với ức chế melatonin đo được · 8 trẻ (tuổi TB 24,9) và 8 lớn tuổi (tuổi TB 61,4) cho đo thuỷ tinh thểNajjar và cs., 2014
b2-027Ở 55 người 18–30 tuổi, liều ánh sáng buổi tối gây ức chế melatonin 50% (ED50) ở mức nhóm là 24,60 lux.ED50 nhóm = 24,60 luxNgườiChiếu sáng từ 4 giờ trước đến 1 giờ sau giờ ngủ thường lệ; 10, 30, 50, 100, 200, 400, 2.000 lux so với ánh sáng mờ · n = 55 (18–30 tuổi)Phillips và cs., 2019
b2-028ED50 của từng cá nhân dao động hơn một bậc độ lớn: 6 lux ở người nhạy nhất và 350 lux ở người kém nhạy nhất; độ nhạy với ánh sáng buổi tối khác nhau hơn 50 lần giữa các cá nhân.6–350 lux; > 50 lầnNgườiNhư trên; đường liều–đáp ứng cá nhân · n = 55Phillips và cs., 2019
b2-029Ở mức trung bình nhóm, ánh sáng 30 lux đã ức chế melatonin trên 50%; bốn người nhạy nhất bị ức chế trên 50% với ánh sáng đọc sách mờ 10 lux.> 50% ức chế ở 30 lux (nhóm); > 50% ở 10 lux (4 người nhạy nhất)NgườiNhư trên · n = 55Phillips và cs., 2019
b2-030Ở 116 người 18–30 tuổi, tiếp xúc ánh sáng phòng (< 200 lux) trong 8 giờ trước giờ ngủ so với ánh sáng mờ (< 3 lux) làm melatonin khởi phát muộn hơn ở 99,0% người và rút ngắn thời gian tiết melatonin khoảng 90 phút.Khởi phát muộn ở 99,0%; rút ngắn ~90 phútNgườiNội trú ≥ 5 ngày tại trung tâm nghiên cứu lâm sàng; so sánh ánh sáng phòng và ánh sáng mờ · n = 116 (18–30 tuổi)Gooley và cs., 2011
b2-031Ánh sáng phòng (< 200 lux) trong giờ ngủ thường lệ ức chế melatonin trên 50% ở phần lớn (85%) số lần thử.> 50% ức chế ở 85% lần thửNgườiNhư trên · n = 116Gooley và cs., 2011
b2-032Đồng thuận chuyên gia 2022 khuyến nghị ban ngày mức melanopic EDI tối thiểu 250 lux tại mắt, đo ở mặt phẳng đứng.≥ 250 lux melanopic EDIHướng dẫnĐồng thuận chuyên gia (hội thảo quốc tế) dựa trên phân tích dữ liệu gộp từ các nghiên cứu phòng thí nghiệm có kiểm soát · Không áp dụngBrown và cs., 2022
b2-033Buổi tối, bắt đầu ít nhất 3 giờ trước giờ ngủ, mức melanopic EDI khuyến nghị tối đa là 10 lux.≤ 10 lux melanopic EDI, từ ≥ 3 giờ trước ngủHướng dẫnĐồng thuận chuyên gia · Không áp dụngBrown và cs., 2022
b2-034Trong môi trường ngủ, mức melanopic EDI môi trường khuyến nghị tối đa là 1 lux đo tại mắt; nếu ban đêm cần nhìn để hoạt động, tối đa 10 lux.Ngủ ≤ 1 lux; hoạt động ban đêm ≤ 10 luxHướng dẫnĐồng thuận chuyên gia · Không áp dụngBrown và cs., 2022
b2-035Đồng thuận 2022 mô tả ipRGC là một lớp neuron võng mạc chuyên biệt, có sắc tố melanopsin nhạy cực đại với một vùng phổ khác với sắc tố của tế bào nón, và là kênh chính cho tác động không tạo hình ảnh của ánh sáng.Định tínhTổng quanĐồng thuận chuyên gia · Không áp dụngBrown và cs., 2022

Melatonin, tuyến tùng và DLMO#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-036Đường dẫn thần kinh điều khiển tổng hợp melatonin: từ nhân cạnh não thất (paraventricular nucleus, PVN) của hạ đồi, qua neuron tiền hạch ở các đốt tuỷ ngực trên, tới neuron hậu hạch ở hạch cổ trên (superior cervical ganglion), rồi tới tuyến tùng; noradrenaline từ đầu tận giao cảm tác động lên thụ thể beta và alpha của tế bào tuyến tùng.Chuỗi PVN → tuỷ ngực trên → hạch cổ trên → tuyến tùngTổng quanTổng quan tường thuật; dữ liệu giải phẫu gốc chủ yếu ở chuột cống (Kappers 1960) · Không áp dụngAmaral và Cipolla-Neto, 2018
b2-037Bằng chứng chức năng ở người cho đường dẫn qua tuỷ sống: ở 3 người liệt tứ chi do tổn thương hoàn toàn tuỷ cổ thấp, không phát hiện được sản xuất melatonin, trong khi 2 người liệt hai chi dưới có melatonin biên độ và thời điểm bình thường.Melatonin vắng mặt ở 3/3 người liệt tứ chi; bình thường ở 2/2 người liệt hai chânNgườiĐo hormone theo nhịp ngày đêm ở người tổn thương tuỷ sống hoàn toàn · n = 5 (3 liệt tứ chi, 2 liệt hai chi dưới)Zeitzer và cs., 2000 (tóm tắt)
b2-038Ở cùng nhóm người liệt tứ chi, nhịp cortisol và TSH vẫn mạnh và đúng thời điểm, cho thấy mất melatonin không làm rối loạn nhịp các hormone này.Nhịp cortisol và TSH được bảo tồnNgườiNhư trên · n = 5Zeitzer và cs., 2000 (tóm tắt)
b2-039Tổng hợp dữ liệu DLMO (thời điểm khởi phát tiết melatonin trong ánh sáng mờ, dim light melatonin onset) trong nước bọt từ 3.579 người thuộc 121 nghiên cứu, và DLMO huyết tương của 818 người khoẻ thuộc 31 nghiên cứu (3–73 tuổi).3.579 người/121 nghiên cứu (nước bọt); 818 người/31 nghiên cứu (huyết tương)Tổng quanTổng hợp số liệu đã công bố và dữ liệu cá nhân do tác giả các nghiên cứu cung cấp · 3.579 + 818 ngườiKennaway, 2023
b2-040DLMO nước bọt trung bình có trọng số ở người 20–29 tuổi là 21,59 giờ (khoảng 21:35).21,59 giờ (thập phân)Tổng quanTổng hợp số liệu · 66 nghiên cứu/1.875 ngườiKennaway, 2023
b2-041Từ đầu thời thơ ấu đến cuối tuổi vị thành niên, DLMO nước bọt muộn dần khoảng 2 giờ 38 phút; từ khoảng 25 đến 75 tuổi, DLMO sớm dần khoảng 1 giờ 20 phút.Muộn 2 giờ 38 phút (trẻ em → vị thành niên); sớm 1 giờ 20 phút (25 → 75 tuổi)Tổng quanTổng hợp số liệu · 3.579 ngườiKennaway, 2023
b2-042Không có khác biệt giới tính về DLMO; DLMO nước bọt tương quan với điểm thang sáng–tối MEQ (điểm MEQ thấp, tức thiên về buổi tối, đi kèm DLMO muộn hơn).Không khác biệt giới; tương quan với MEQ (p < 0,001)Tổng quanTổng hợp số liệu · 53 bài/1.749 người cho phân tích MEQKennaway, 2023
b2-043Phương pháp định lượng melatonin và cách tính DLMO ít ảnh hưởng tới giá trị DLMO thu được.Ảnh hưởng nhỏ của phương phápTổng quanTổng hợp số liệu · Không áp dụngKennaway, 2023
b2-044So sánh hồ sơ melatonin huyết tương trong giao thức constant routine giữa 34 người cao tuổi khoẻ, không dùng thuốc (20 nữ, 14 nam; 65–81 tuổi) và 98 nam thanh niên khoẻ (18–30 tuổi): không phát hiện khác biệt có ý nghĩa về biên độ nội sinh của nhịp melatonin, và thời lượng tiết gần như nhau (9,3 so với 9,1 giờ; P = 0,43).Không khác biệt theo tuổi; thời lượng 9,3 so với 9,1 giờNgườiConstant routine; lấy máu nhiều lần đo melatonin huyết tương · 34 người 65–81 tuổi (20 nữ, 14 nam); 98 nam 18–30 tuổiZeitzer và cs., 1999 (tóm tắt)
b2-045Tổng quan hệ thống 19 nghiên cứu ở người cao tuổi khoẻ mạnh: đỉnh melatonin thường lúc 2–3 giờ sáng; nồng độ đỉnh dao động rất rộng giữa các nghiên cứu, từ 11,2 đến 91,3 pg/mL.Đỉnh 2–3 giờ sáng; 11,2–91,3 pg/mLTổng quanTổng quan hệ thống; 5–60 người mỗi nghiên cứu; 1–96 lần đo/24 giờ · 19 nghiên cứuScholtens và cs., 2016 (tóm tắt)
b2-046Nồng độ melatonin đỉnh ở các nghiên cứu có tuổi trung bình 65–70 là 49,3 pg/mL, và ở các nghiên cứu có tuổi trung bình ≥ 75 là 27,8 pg/mL (p < 0,001); tổng lượng melatonin 24 giờ dường như không đổi khi lão hoá khoẻ mạnh.49,3 pg/mL (65–70 tuổi) so với 27,8 pg/mL (≥ 75 tuổi)Tổng quanTổng quan hệ thống · 19 nghiên cứuScholtens và cs., 2016 (tóm tắt)
b2-047Tổng quan hệ thống 23 nghiên cứu (máu/huyết tương, tuổi trung bình > 65) cho thấy hồ sơ melatonin có đỉnh đêm lúc 3 giờ sáng; ở người trên 75 tuổi, mức melatonin đêm có thể thấp hơn; người ở cơ sở chăm sóc có đỉnh đêm thấp hơn và mức ban ngày cao hơn.Đỉnh 3 giờ sáng; 23 nghiên cứuTổng quanTổng quan hệ thống tài liệu (PubMed) · 23 nghiên cứu (từ 519 kết quả tìm kiếm)Godfrey và cs., 2022 (tóm tắt)
b2-048Một tổng quan về tuyến tùng nêu rằng mức melatonin thấp được xem là một dấu ấn sinh học của lão hoá và sản xuất melatonin giảm theo tuổi ở phần lớn động vật có xương sống.Định tínhTổng quanTổng quan tường thuật · Không áp dụngTan và cs., 2018
b2-049Trên CT ở bệnh nhân không chọn lọc (tuổi trung bình 58,7 ± 17,4), 214/346 người (62%) có vôi hoá tuyến tùng.62%NgườiChụp cắt lớp vi tính (CT); số liệu được tổng quan trích dẫn · n = 346Tan và cs., 2018
b2-050Tỉ lệ vôi hoá tuyến tùng ở các quần thể khác nhau khá giống nhau: 71,6% ở 12.000 người khoẻ tại Thổ Nhĩ Kỳ, khoảng 71% ở Iran, khoảng 72% ở Ethiopia và 70% ở người da đen tại Hoa Kỳ.70–72%NgườiChẩn đoán hình ảnh; tổng quan trích dẫn · Thổ Nhĩ Kỳ n = 12.000; các quần thể khác không nêuTan và cs., 2018
b2-051Vôi hoá tuyến tùng tăng mạnh theo tuổi: 2% ở 0–9 tuổi, 32% ở 10–19 tuổi, 53% ở 20–29 tuổi và 83% ở người trên 30 tuổi; vôi hoá cũng gặp ở trẻ sơ sinh.2% / 32% / 53% / 83%NgườiChẩn đoán hình ảnh; tổng quan trích dẫn · Không nêuTan và cs., 2018
b2-052Nồng độ melatonin (huyết thanh, nước bọt, nước tiểu) tương quan nghịch với kích thước phần vôi hoá và tương quan thuận với phần mô tuyến tùng chưa vôi hoá.Định tínhTổng quanTổng quan các nghiên cứu trên người · Không nêuTan và cs., 2018
b2-053Tuyến tùng người nặng trung bình khoảng 150 mg.~150 mgNgườiGiải phẫu; tổng quan trích Golan và cộng sự 2002 (Folia Morphol) · Không nêuTan và cs., 2018
b2-054Ở bệnh nhân Alzheimer, nồng độ melatonin trong dịch não tuỷ sau tử vong chỉ bằng 20% so với người không mắc Alzheimer.20% so với đối chứngNgườiDịch não tuỷ sau tử vong; tổng quan trích dẫn · Không nêuTan và cs., 2018
b2-055Trên CT ở 279 bệnh nhân phòng khám trí nhớ và 37 người đối chứng cùng tuổi, mức độ vôi hoá tuyến tùng ở bệnh nhân Alzheimer trung bình 76,2% (SD 26,6), cao hơn đối chứng 64,5% (SD 30,6; p = 0,021).76,2% so với 64,5%NgườiCT in vivo; ước tính mức độ vôi hoá và diện tích mô chưa vôi hoá · 279 bệnh nhân (155 Alzheimer, 25 sa sút khác, 33 suy giảm nhận thức nhẹ, 66 trầm cảm) và 37 đối chứngMahlberg và cs., 2008 (tóm tắt)
b2-056Diện tích mô tuyến tùng chưa vôi hoá ở bệnh nhân Alzheimer trung bình 0,15 cm² (SD 0,24), nhỏ hơn ở người đối chứng 0,25 cm² (SD 0,31; p = 0,027).0,15 cm² so với 0,25 cm²NgườiCT in vivo · Như trênMahlberg và cs., 2008 (tóm tắt)

Gen đồng hồ và đột biến ở người#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-057Vòng phản hồi phiên mã–dịch mã lõi: CLOCK và BMAL1 gắn trực tiếp vào yếu tố điều hoà E-box qua miền bHLH để hoạt hoá phiên mã; các protein ức chế PER và CRY bắt cặp với nhau rồi đi vào nhân để ức chế hoạt động của chính CLOCK/BMAL1.Định tínhTổng quanTổng quan tường thuật (chủ yếu dữ liệu chuột) · Không áp dụngCox và Takahashi, 2019
b2-058Vòng phụ: CLOCK/BMAL1 hoạt hoá phiên mã các thụ thể nhân REV-ERBα và REV-ERBβ; REV-ERB cạnh tranh với ROR tại vị trí gắn trên gen Bmal1, tạo điều hoà âm (REV-ERB) và dương (ROR).Định tínhTổng quanTổng quan tường thuật · Không áp dụngCox và Takahashi, 2019
b2-059SCN đồng bộ hoá các đồng hồ ngoại vi; ở gan (chuột) có khoảng 3.000 gen có nhịp chiếm chỗ của BMAL1 theo ngày đêm.~3.000 gen (gan chuột)Động vậtTổng quan; ChIP theo thời gian ở gan chuột nhắt · Không áp dụngCox và Takahashi, 2019
b2-060Hội chứng ngủ sớm pha có tính gia đình (familial advanced sleep phase syndrome, FASPS) được mô tả ở 3 dòng họ, di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường với độ thấm cao, kèm chu kỳ nội sinh rất ngắn.3 dòng họ; trội NST thườngNgườiPhả hệ; đánh giá nhịp sinh học · 3 dòng họJones và cs., 1999 (tóm tắt)
b2-061Đột biến serine thành glycine trong vùng gắn casein kinase Iε của gen PER2 người (hPer2) gây FASPS, làm nhịp ngủ, nhiệt độ và melatonin sớm khoảng 4 giờ.Sớm ~4 giờNgườiDi truyền phả hệ; thí nghiệm phosphoryl hoá in vitro · Một dòng họ FASPS (số người không nêu trong tóm tắt)Toh và cs., 2001 (tóm tắt)
b2-062Một biến thể trội ở gen CRY1 gây rối loạn ngủ muộn pha có tính gia đình; alen có tần suất tới 0,6% và kéo dài chu kỳ nhịp phân tử.Tần suất alen tới 0,6%NgườiGiải trình tự di truyền; phân tích phả hệ ngược (reverse phenotyping); nhịp phân tử in vitro · Nhiều gia đình không liên quan (số không nêu trong tóm tắt)Patke và cs., 2017 (tóm tắt)

Điều nhiệt khi ngủ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-063Mức độ giãn mạch da ở bàn tay và bàn chân là yếu tố sinh lý dự báo tốt nhất cho việc vào giấc nhanh.Định tínhNgườiĐo nhiệt độ da xa–gần và nhiệt độ lõi trong phòng thí nghiệm · Không nêu trong phần đã đọcKräuchi và cs., 1999 (tóm tắt)
b2-064Ở người, nhiệt độ lõi thấp nhất quan sát được khoảng 2 giờ sau khi tắt đèn và vào giấc.~2 giờ sau tắt đènTổng quanTổng quan; dẫn Kräuchi và cộng sự 2000 · Không nêuHarding và cs., 2019
b2-065Nhiệt độ lõi giảm đều đặn khoảng 2 giờ trước khi vào giấc; giãn mạch đầu chi là một phần của sự giảm nhiệt theo nhịp ngày đêm và xuất hiện tới 2 giờ trước giấc ngủ đầu tiên.~2 giờ trước vào giấcTổng quanTổng quan; dẫn Kräuchi và cộng sự 2000 · Không nêuHarding và cs., 2019
b2-066Gradient nhiệt độ da gần–xa (proximal-to-distal) có thể lên tới 1,5 °C.Tới 1,5 °CTổng quanTổng quan; Hình 2B phỏng theo Kräuchi và cộng sự 2000 · Không nêuHarding và cs., 2019
b2-067Ở người rối loạn ngủ muộn pha, sự giảm nhiệt độ lõi bị chậm hơn 2 giờ.> 2 giờTổng quanTổng quan; dẫn Ozaki 1996, van den Heuvel 1998, Watanabe 2003 · Không nêuHarding và cs., 2019
b2-068Ở 8 người ngủ tốt, so hai điều kiện constant routine trong phòng thí nghiệm (một điều kiện cho phép ngủ ban đêm, một điều kiện không), giấc ngủ làm nhiệt độ trực tràng giảm thêm trung bình 0,31 ± 0,09 °C.0,31 ± 0,09 °CNgườiGhi nhiệt độ trực tràng 24 giờ trong hai điều kiện phòng thí nghiệm đều theo constant routine; chỉ một điều kiện cho ngủ đêm · n = 8 người ngủ tốtBarrett và cs., 1993 (tóm tắt)
b2-069Trong điều kiện đồng bộ, giấc ngủ thường bắt đầu ở sườn đi xuống của đường cong nhiệt độ lõi (core body temperature, CBT), khi tốc độ thay đổi nhiệt độ và mức mất nhiệt cơ thể là lớn nhất.Định tínhTổng quanTổng quan · Không áp dụngKräuchi, 2007 (tóm tắt)
b2-070Tăng nhiệt độ da chỉ 0,4 °C bằng bộ đồ điều nhiệt, không làm thay đổi nhiệt độ lõi, đã chuyển giấc ngủ sang các giai đoạn sâu và ức chế thức giấc về đêm (p < 0,001).+0,4 °C nhiệt độ daNgườiCan thiệp nhiệt độ da bằng bộ đồ điều nhiệt trong đa ký giấc ngủ · Người trẻ, người cao tuổi khoẻ mạnh và người cao tuổi mất ngủ (số người không nêu trong tóm tắt)Raymann và cs., 2008 (tóm tắt)
b2-071Ở người cao tuổi, làm ấm da nhẹ gần gấp đôi tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm và giảm xác suất thức dậy sớm buổi sáng từ 0,58 xuống 0,04.Xác suất thức sớm 0,58 → 0,04NgườiNhư trên · Người cao tuổi (số người không nêu trong tóm tắt)Raymann và cs., 2008 (tóm tắt)
b2-072Thay đổi nhiệt độ da nhỏ (0,4 °C) có thể rút ngắn thời gian vào giấc mà không đổi nhiệt độ lõi; làm ấm vùng thân (da gần) dưới 1 °C cũng có tác động.0,4 °C; < 1 °CTổng quanTổng quan; dẫn Raymann 2005, 2008 · Không nêuHarding và cs., 2019
b2-073Người trẻ có rối loạn điều hoà mạch máu (vascular dysregulation) và khó vào giấc có DLMO muộn hơn khoảng 1 giờ so với đối chứng: 14,6 ± 0,3 giờ so với 13,5 ± 0,2 giờ sau khi bật đèn (p = 0,01).Muộn ~1 giờNgườiConstant routine 40 giờ trước và sau một giai đoạn ngủ 8 giờ; đo melatonin, nhiệt độ lõi, gradient xa–gần · 9 phụ nữ có rối loạn điều hoà mạch, 9 đối chứngVollenweider và cs., 2008 (tóm tắt)
b2-074Trong điều kiện sống thực, phụ nữ có rối loạn điều hoà mạch máu có pha nhiệt độ da bàn chân trễ hơn (38,50 ± 16,65 phút so với 3,57 ± 17,28 phút ở đối chứng) và thời gian vào giấc dài hơn (p < 0,05), dù DLMO và giờ ngủ thường lệ không khác.38,50 so với 3,57 phútNgườiGhi nhiệt độ da và vận động cổ tay ngoài đời thực; DLMO · 41 phụ nữ trẻ (20 có rối loạn điều hoà mạch, 21 đối chứng)Gompper và cs., 2010 (tóm tắt)
b2-075Ở người, cơ chế điều nhiệt được mô tả là bị bãi bỏ trong giấc ngủ REM; bằng chứng gốc cho nhận định này là nghiên cứu trên động vật.Định tínhTổng quanTổng quan; dẫn Glotzbach & Heller 1976 (động vật) · Không áp dụngOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-076Ở người, run cơ khi ngủ chỉ gặp ở giai đoạn 1 và 2, không gặp ở giấc ngủ sóng chậm và REM; tốc độ đổ mồ hôi tăng trong giấc ngủ sóng chậm so với các giai đoạn khác.Run chỉ ở N1–N2NgườiTổng quan dẫn Haskell 1981 (J Appl Physiol) và Ogawa 1967 · Không nêuOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-077Thí nghiệm trên chuột nhắt: nhiệt độ cơ thể dao động khoảng 2 °C khi chuyển từ pha hoạt động sang pha nghỉ.~2 °CĐộng vậtChuột nhắt; dữ liệu chưa công bố của nhóm tác giả trình bày trong tổng quan · Không nêuHarding và cs., 2019
b2-078Ở vùng trước thị (preoptic area, POA), khoảng 21% neuron được ghi là nhạy nhiệt, và khoảng 60% neuron nhạy nóng tăng hoạt động trong giấc NREM; ở nhân trước thị giữa (MnPO), trên 75% neuron có đặc tính có thể thúc đẩy khởi phát NREM.21%; 60%; > 75%Động vậtGhi điện đơn bào ở động vật (tổng quan dẫn Alam 1995; Suntsova 2002); loài không ghi rõ trong các câu trích · Không nêuHarding và cs., 2019
b2-079Tổng quan về nhiệt độ và giấc ngủ: ở cả người và động vật có vú khác, làm ấm da trực tiếp có thể rút ngắn thời gian vào giấc và thúc đẩy giấc NREM.Định tínhNgười và động vậtTổng quan · Không áp dụngHarding và cs., 2019
b2-080Trên chuột nhắt, khi được chọn, chúng chọn môi trường ấm gần vùng trung hoà nhiệt (27–30 °C) khi ngủ; theo tổng quan, nhiệt độ trung hoà có vẻ cho phép giấc REM hồi phục tốt nhất so với điều kiện 22 °C hoặc làm ấm 36 °C.27–30 °C (chuột nhắt)Động vậtChuột nhắt; tổng quan dẫn Gordon 1998, Gaskill 2012, Kroeger 2018 · Không nêuHarding và cs., 2019

Nhiệt độ môi trường và giấc ngủ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b2-081Nhiệt độ trung hoà nhiệt khi ngủ ở người gần khoả thân là khoảng 29 °C.29 °CNgườiTổng quan dẫn Haskell và cộng sự 1981 (Electroencephalogr Clin Neurophysiol), người bán khoả thân · Không nêuOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-082Khi ngủ bình thường, vi khí hậu trong giường thường được duy trì ở khoảng 32–34 °C và độ ẩm tương đối 40–60%.32–34 °C; 40–60% RHNgườiĐo vi khí hậu giường; tổng quan dẫn Okamoto 1997 · Không nêuOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-083Một tổng quan nêu rằng ở nhiệt độ phòng tối ưu, khoảng 19–21 °C, con người tìm cách tạo vi khí hậu quanh da 31–35 °C, và lệch khỏi khoảng này ảnh hưởng xấu tới giấc ngủ.Vi khí hậu 31–35 °C; phòng ~19–21 °CTổng quanTổng quan; câu dẫn Muzet và cộng sự 1984, Okamoto-Mizuno và cộng sự 2003, Raymann và cộng sự 2005 · Không áp dụngHarding và cs., 2019
b2-084Tăng thời gian thức và giảm giấc ngủ sóng chậm cùng REM là các tác động điển hình của môi trường nóng lên giấc ngủ người.Định tínhTổng quanTổng quan; dẫn Karacan 1978 · Không áp dụngOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-085Ở nhiệt độ không khí 32 °C, độ ẩm 80%, chỉ giấc ngủ sóng chậm bị ảnh hưởng còn REM thì không (theo một nghiên cứu được tổng quan dẫn).32 °C, 80% RHNgườiTổng quan dẫn Tsuzuki 2004 (J Therm Biol); đa ký giấc ngủ · Không nêuOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-086Các rối loạn giấc ngủ do nóng không giảm đi (không có thích nghi) ngay cả sau 5 ngày phơi nhiễm nóng liên tục cả ngày và đêm.Không thích nghi sau 5 ngàyNgườiTổng quan dẫn Libert 1988 (Sleep) · Không nêuOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-087Ở người cao tuổi, phơi nhiễm nóng khi ngủ làm lượng mồ hôi toàn thân tăng gấp đôi.Gấp 2 lầnNgườiTổng quan dẫn Okamoto-Mizuno 2004 (Int J Biometeorol) · Không nêuOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-088Với lạnh: trong các nghiên cứu có quần áo và/hoặc chăn đệm, không thấy khác biệt giấc ngủ ở dải nhiệt độ không khí 13–23 °C; ở người cao tuổi không thấy khác biệt chất lượng ngủ đo bằng actigraphy giữa 9 °C và 20 °C.13–23 °C; 9 so với 20 °CNgườiTổng quan dẫn Muzet 1984 và Okamoto-Mizuno & Tsuzuki 2010 · Không nêuOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-089Tổng quan không dẫn nghiên cứu nào ở nước nhiệt đới; tác giả nhấn mạnh cần tính tới độ ẩm, nhất là ở Nhật Bản và nhiều nước châu Á có mùa hè nóng ẩm.Định tínhTổng quanTổng quan · Không áp dụngOkamoto-Mizuno và Mizuno, 2012
b2-090Phân tích hơn 7 triệu bản ghi giấc ngủ từ vòng đeo tay (47.628 người, 68 quốc gia) cho thấy nhiệt độ tăng làm ngắn giấc ngủ chủ yếu do vào giấc muộn hơn.7 triệu bản ghi; 47.628 người; 68 nướcNgườiDữ liệu vòng đeo tay ghép với dữ liệu khí tượng · n = 47.628Minor và cs., 2022 (tóm tắt)
b2-091Tác động mất ngủ do nóng lớn hơn đáng kể ở cư dân nước thu nhập thấp và người cao tuổi; nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn nam; người sống ở vùng nóng mất ngủ nhiều hơn trên mỗi độ ấm lên.Định tính theo nhómNgườiNhư trên · n = 47.628Minor và cs., 2022 (tóm tắt)
b2-092Theo kịch bản khí hậu, tới năm 2099 nhiệt độ không tối ưu có thể làm mất 50–58 giờ ngủ mỗi người mỗi năm.50–58 giờ/người/nămMô hìnhMô hình dự báo dựa trên quan hệ nhiệt độ–giấc ngủ quan sát được · Không áp dụngMinor và cs., 2022 (tóm tắt)
b2-093Nghiên cứu thực địa ở Kuala Lumpur (khí hậu nóng ẩm) trên 20 người trẻ ngủ phòng điều hoà: khi được tự đặt nhiệt độ điều hoà, nhiệt độ không khí đo được trung bình khi ngủ là 22,0 °C (nam) và 23,3 °C (nữ).22,0 °C (nam); 23,3 °C (nữ)NgườiThực địa trong phòng khách của một toà nhà trường đại học (UTM Kuala Lumpur); 1 đêm làm quen + 2 đêm đo mỗi điều kiện; phiếu cảm giác nhiệt ASHRAE 7 mức; đồng hồ Garmin đo vận động · n = 20 (10 nam, 10 nữ; 23–35 tuổi), MalaysiaZaki và cs., 2021
b2-094Nhiệt độ dễ chịu khi ngủ (comfort temperature) ước tính theo phương pháp Griffiths là 24,7 °C (Case A: ga trải giường cotton thông thường, nhiệt độ điều hoà tự chọn) và 25,2 °C (Case B: ga trải giường 'mát' và cài đặt điều hoà cao hơn 3 °C), nằm trong dải 24–26 °C do chính phủ Malaysia khuyến nghị.24,7 °C và 25,2 °CNgườiNhư trên; phương pháp Griffiths · n = 20, MalaysiaZaki và cs., 2021
b2-095Khi tăng nhiệt độ phòng (thực tế tăng 1,7 °C ở độ cao 0,7 m) kèm ga trải giường mát, 94,9% người tham gia thấy dễ chịu (so với 81,6%), hiệu quả giấc ngủ cao hơn 2% và điện năng điều hoà giảm 39%.94,9% dễ chịu; hiệu quả ngủ +2%; giảm 39% điện năngNgườiNhư trên; hiệu quả giấc ngủ ước tính từ vòng đeo tay · n = 20, MalaysiaZaki và cs., 2021
b2-096Khảo sát dữ liệu vi khí hậu trong năm tại 82 căn hộ ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho thấy máy điều hoà chủ yếu được dùng trong phòng ngủ vào ban đêm, và xác suất bật điều hoà liên quan chặt với nhiệt độ phòng và giờ trong ngày.82 căn hộNgườiGhi dữ liệu vi khí hậu trong nhà quanh năm (dự án CAMaRSEC) · n = 82 căn hộWang và cs., 2025 (tóm tắt)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục B. Dữ kiện: đồng hồ sinh học và điều nhiệt. Trong: Tập 6 — Giải phẫu và sinh lý thần kinh của giấc ngủ ở người. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giai-phau-than-kinh-giac-ngu/phu-luc-b-du-kien-b2/