Phụ lục này liệt kê toàn bộ 96 dữ kiện của nhánh CO₂, thông gió và nhiệt–ẩm đi kèm đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, loài, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b1-001) dùng để đối chiếu khi cần sửa.
Thực nghiệm can thiệp thông gió phòng ngủ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-001 | Trong thí nghiệm thử ở ký túc xá Đan Mạch, hai điều kiện đóng và mở cửa sổ phòng ngủ cho CO₂ trung bình ban đêm chênh lệch rất lớn: khoảng 2.585 ppm so với 660 ppm. | CO₂ trung bình 2.585 ppm (đóng) so với 660 ppm (mở cửa sổ); theo tổng quan Sekhar 2020, ACH tương ứng 0,17 và 1,8 h⁻¹ | Người | Thực nghiệm can thiệp thực địa, chéo, thứ tự cân bằng, mỗi điều kiện 1 tuần; can thiệp mở/đóng cửa sổ; CO₂ đo trong phòng; giấc ngủ đo bằng actigraphy đeo cổ tay, bảng hỏi trực tuyến mỗi sáng, 2 bài kiểm tra nhận thức hôm sau · n = 14 sinh viên, phòng ký túc xá một người, Đan Mạch | Strøm-Tejsen và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-002 | Ở thí nghiệm thứ hai, một quạt chạy êm (không nghe thấy) đặt ở cửa lấy gió, chạy khi CO₂ vượt 900 ppm, đưa CO₂ trung bình ban đêm từ khoảng 2.395 ppm xuống 835 ppm. | CO₂ trung bình 2.395 ppm (tắt quạt) so với 835 ppm (quạt chạy khi CO₂ > 900 ppm) | Người | Thực nghiệm can thiệp thực địa chéo, mỗi điều kiện 1 tuần, thứ tự cân bằng; quạt im lặng ở cửa lấy gió; actigraphy cổ tay · n = 16 sinh viên (nửa là nữ), ký túc xá Đan Mạch | Strøm-Tejsen và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-003 | Khi CO₂ thấp hơn (thông gió nhiều hơn), chất lượng giấc ngủ đo bằng actigraphy tốt hơn, không khí được cảm nhận tươi hơn, buồn ngủ ban ngày hôm sau ít hơn, khả năng tập trung và điểm bài kiểm tra tư duy logic tốt hơn. | Cải thiện có ý nghĩa thống kê (tóm tắt không nêu cỡ hiệu ứng) | Người | Hai thực nghiệm chéo như trên; actigraphy, bảng hỏi buổi sáng, 2 bài kiểm tra nhận thức hôm sau · n = 14 + 16 sinh viên, Đan Mạch | Strøm-Tejsen và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-004 | Nhiệt độ không khí phòng ngủ dao động rộng nhưng không khác nhau giữa hai điều kiện thông gió, nên khác biệt giấc ngủ khó quy cho nhiệt độ. | Nhiệt độ không khác giữa điều kiện (người tham gia tự chỉnh lò sưởi điện) | Người | Như trên; nhiệt độ đo trong phòng · n = 14 + 16 | Strøm-Tejsen và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-005 | Thực nghiệm chéo ở Eindhoven (Hà Lan): mở cửa sổ hoặc cửa ra vào đi kèm CO₂ trung bình khoảng 717–731 ppm so với khoảng 1.150 ppm khi đóng. Chỉ độ sâu giấc ngủ tự đánh giá tốt hơn có ý nghĩa khi mở (p = 0,002); các chỉ số khách quan (hiệu suất giấc ngủ, số lần thức giấc) không khác có ý nghĩa giữa hai điều kiện, chỉ tương quan yếu với CO₂ (r = −0,199 và r = 0,191). | CO₂ ~717–731 ppm (mở) so với ~1.147–1.150 ppm (đóng); độ sâu giấc ngủ tự báo cáo p = 0,002; hiệu suất giấc ngủ–CO₂ r = −0,199 (p = 0,009); số lần thức–CO₂ r = 0,191 (p = 0,014); khác biệt khách quan giữa điều kiện: không có ý nghĩa | Người | Thực nghiệm can thiệp thực địa chéo, mỗi điều kiện (mở cửa sổ/cửa đi so với đóng cả hai) 5 đêm trong một tuần, thứ tự thay đổi; CO₂, nhiệt độ, độ ẩm tương đối (RH) đo trong phòng bằng cảm biến GW47, ghi 5 phút/lần; giấc ngủ đo bằng băng đeo bắp tay SenseWear Armband, cảm biến cử động dưới gối (12 người), thang Groningen (GSQS), nhật ký ngủ, PSQI · Dữ liệu 17 người trẻ khoẻ (< 30 tuổi; phần phương pháp ghi 18 người tham gia), Eindhoven, Hà Lan | Mishra và cs., 2018 |
| b1-006 | Thực nghiệm can thiệp ở Đan Mạch (mùa sưởi 2020): mở cửa sổ làm CO₂ bách phân vị 95 giảm từ khoảng 2.310 ppm xuống 904 ppm; mở cửa ra vào làm CO₂ bách phân vị 95 giảm từ khoảng 2.916 ppm xuống 1.415 ppm. | Cửa sổ: P95 2.310 → 904 ppm, trung bình 1.820 → 761 ppm; cửa đi: P95 2.916 → 1.415 ppm, trung bình 2.362 → 1.293 ppm | Người | Thực nghiệm can thiệp thực địa tại nhà, tuần 1 thói quen, tuần 2 đổi trạng thái cửa sổ/cửa; CO₂ đo trong phòng ngủ; giấc ngủ đo bằng vòng đeo tay tiêu dùng Fitbit Charge 2 hoặc Fitbit Alta HR, nhật ký ngủ sáng/tối có thang Groningen (GSQS); bài kiểm tra Baddeley 3 phút · 84 người được tuyển, 64 tham gia đo 2 tuần, 40 có đủ dữ liệu; 29 phòng có thay đổi CO₂ (bách phân vị 95) > 200 ppm và 11 phòng ≤ 200 ppm; Vùng Thủ đô Đan Mạch, 9–12/2020 (mùa sưởi) | Fan và cs., 2022 |
| b1-007 | Trong cùng nghiên cứu, mở cửa sổ đi kèm thời gian ngủ dài hơn và tỉ lệ người báo ngủ sâu tăng, nhưng các chỉ số giấc ngủ khác do vòng đeo tay Fitbit ước tính (ngoài thời lượng) không khác biệt có ý nghĩa; điểm chất lượng ngủ tự đánh giá chỉ có xu hướng tốt hơn (p < 0,10). | Không khác biệt actigraphy ngoài thời lượng; tự đánh giá p < 0,10 | Người | Như trên · n = 29 phòng có can thiệp hiệu quả | Fan và cs., 2022 |
| b1-008 | Sau đêm ngủ mở cửa sổ, tỉ lệ lỗi trong bài kiểm tra suy luận Baddeley 3 phút giảm có ý nghĩa; không thấy hiệu ứng ở 11 phòng mà thay đổi của người tham gia không làm CO₂ đổi ít nhất 200 ppm. | Giảm tỉ lệ lỗi có ý nghĩa (không nêu độ lớn trong phần đọc được); nhóm chứng thay đổi CO₂ ≤ 200 ppm: không hiệu ứng | Người | Như trên; hiệu năng hôm sau đo bằng bài Baddeley 3 phút · 29 phòng can thiệp, 11 phòng chứng | Fan và cs., 2022 |
| b1-009 | Mở cửa sổ mùa sưởi ở Đan Mạch chỉ làm nhiệt độ trung bình phòng ngủ giảm 0,8 °C; tiếng ồn không được đo, người tham gia đánh giá cường độ ồn thấp. | Giảm nhiệt độ trung bình 0,8 °C khi mở cửa sổ | Người | Như trên; nhiệt độ đo trong phòng · n = 29 phòng | Fan và cs., 2022 |
| b1-010 | Thử nghiệm làm mù đơn ở Bỉ: bí mật đổi tốc độ quạt hút của hệ thông gió, lưu lượng trung bình 20,2 m³/h (thấp) so với 43,0 m³/h (cao), ACH trung vị 0,4 so với 0,7 h⁻¹; CO₂ trung bình đêm 1.369 ppm so với 812 ppm. | Lưu lượng 20,2 so với 43,0 m³/h; ACH 0,4 so với 0,7 h⁻¹; CO₂ 1.369 so với 812 ppm (23 phòng) | Người | Thực nghiệm can thiệp thực địa làm mù đơn (người tham gia không được báo khi nào/có đổi thông gió hay không), 4 tuần (tuần 1 tham chiếu, tuần 2–4 mỗi tuần một mức thấp/vừa/cao theo hình vuông Latin), 10/2021, Bỉ; hệ thông gió hút cơ khí; CO₂ đo trong phòng; giấc ngủ đo bằng vòng đeo tay Fitbit Charge 4 (có nhịp tim); phân tích chính 23 phòng so sánh mức thấp với cao · 34 người được tuyển, 29 hoàn thành, 23 có dữ liệu dùng được; Bỉ | Fan và cs., 2023 |
| b1-011 | Trong 23 phòng, tỉ lệ "ngủ sâu" do vòng đeo tay Fitbit Charge 4 ước tính thấp hơn ở mức thông gió thấp: 13,7% so với 15,2% (p = 0,041); số lần thức giấc không khác (26 so với 25). | Ngủ sâu 13,7% so với 15,2%, p = 0,041; thức giấc 26 so với 25 (không có ý nghĩa) | Người | Như trên; giai đoạn ngủ ước tính bằng Fitbit Charge 4 · n = 23 | Fan và cs., 2023 |
| b1-012 | Ở 12 phòng có khác biệt rõ giữa ba mức thông gió, CO₂ trung bình đêm là 1.927, 1.298 và 856 ppm; số lần thức giấc (Fitbit Charge 4) khác giữa các mức (27 so với 22, phân tích phương sai ANOVA p = 0,009); tỉ lệ ngủ sâu theo Fitbit 12,6% so với 15,1% khác có ý nghĩa ở ANOVA ba mức (p = 0,012) nhưng so sánh riêng thấp–cao không có ý nghĩa. | CO₂ 1.927 / 1.298 / 856 ppm; thức giấc 27 so với 22 (ANOVA p = 0,009); ngủ sâu 12,6% so với 15,1% (ANOVA p = 0,012; cặp thấp–cao không có ý nghĩa, cỡ hiệu ứng vừa) | Người | Như trên, phân tích phụ 3 mức thông gió · n = 12 phòng | Fan và cs., 2023 |
| b1-013 | Thay đổi thông gió hầu như không đổi nhiệt độ phòng (22,6 °C so với 22,4 °C, p = 0,061); tác giả cho rằng tiếng ồn hệ thông gió không khác giữa các mức nhưng không kiểm chứng được bằng số đo đáng tin; không thấy khác biệt hiệu năng nhận thức hôm sau. | 22,6 so với 22,4 °C (p = 0,061); hiệu năng nhận thức: không khác | Người | Như trên · n = 23 | Fan và cs., 2023 |
| b1-014 | Thí nghiệm buồng khí hậu ở Đại học Kỹ thuật Đan Mạch (DTU): giảm thông gió từ 11,4 xuống 2,5 L/s mỗi người làm CO₂ trung bình đêm tăng từ 765 ppm lên 1.679 ppm; CO₂ thay đổi bằng lưu lượng gió tươi, không bơm CO₂. | T24P800: 765 ± 30 ppm; T24P1700: 1.679 ± 123 ppm; T28P800: 794 ± 78 ppm | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, buồng ngủ nhỏ (vùng ngủ 2,2 m³), 3 điều kiện (24 °C/800 ppm, 24 °C/1.700 ppm, 28 °C/800 ppm); giấc ngủ đo bằng vòng đeo tay Fitbit Charge 3, nhật ký ngủ, thang Groningen; không dùng PSG · n = 10 (4 nam, 6 nữ), DTU Lyngby, Đan Mạch | Fan và cs., 2022 |
| b1-015 | Điểm thang Groningen (thấp là tốt) khác nhau giữa điều kiện: 0,9 (24 °C, 800 ppm), 2,0 (24 °C, 1.700 ppm), 3,9 (28 °C, 800 ppm), p = 0,042; độ trễ vào giấc lần lượt 7,1; 18,8 và 19,6 phút chỉ ở mức gần ý nghĩa (p = 0,081); hiệu suất giấc ngủ không khác (88,7% / 87,2% / 86,7%, p = 0,258). | GSQS 0,9 / 2,0 / 3,9 (p = 0,042); SOL 7,1 / 18,8 / 19,6 phút (p = 0,081); SE 88,7% / 87,2% / 86,7% (p = 0,258) | Người | Như trên; GSQS tự báo cáo; độ trễ vào giấc (SOL) và hiệu suất giấc ngủ (SE) do vòng đeo tay Fitbit Charge 3 ước tính (không có PSG) · n = 10 | Fan và cs., 2022 |
| b1-016 | Thí nghiệm có PSG (địa điểm không nêu trong tóm tắt): không có thông gió cơ khí, CO₂ trong phòng trung bình khoảng 1.400 ppm suốt đêm; bật thông gió cơ khí đưa CO₂ xuống dưới 1.000 ppm, thời gian thức sau khi vào giấc (WASO) giảm trung bình 15 phút và hiệu suất giấc ngủ tăng khoảng 4% (p < 0,05). | CO₂ ~1.400 ppm → < 1.000 ppm; WASO −15 phút; SE +~4% (p < 0,05) | Người | Thực nghiệm chéo trong phòng thí nghiệm, 3 điều kiện mỗi điều kiện 1 đêm (A không thông gió cơ khí/ồn thấp, B thông gió/ồn thấp, C thông gió/ồn cao); giấc ngủ đo bằng PSG (EEG, điện nhãn đồ EOG, điện cơ đồ EMG cằm) · 18 người (9 trẻ, 9 cao tuổi), phân tích 15 người | Lan và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-017 | Tiếng ồn từ hệ thông gió (50,8 so với 34,7 dB(A)) làm thời gian ngủ sâu giảm 11 phút (p < 0,05) và REM giảm 17 phút (p < 0,01), ngủ nông tăng 17 phút; tác giả kết luận tiếng ồn thông gió từ khoảng 50 dB(A) có thể làm xáo trộn giấc ngủ. | 50,8 so với 34,7 dB(A); ngủ sâu −11 phút; REM −17 phút; ngủ nông +17 phút | Người | Như trên, so sánh điều kiện C với B; PSG · n = 15 | Lan và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-018 | Ở người cao tuổi, phòng ngủ 30 °C so với 27 °C làm tổng thời gian ngủ giảm 26,3 phút, hiệu suất giấc ngủ giảm 5,5% và REM giảm 5,3 phút, thời gian thức tăng 27,0 phút (đo bằng PSG). | TST −26,3 phút; SE −5,5%; REM −5,3 phút; thời gian thức +27,0 phút | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, thiết kế 2 × 2: nhiệt độ 27 và 30 °C (quạt trần chạy ở 30 °C) × có/không thông gió cơ khí; đo liên tục EEG, EOG, EMG cằm, ECG, hô hấp (PSG) cùng độ bão hoà oxy máu (SpO2), nhiệt độ da cổ tay; nước bọt và huyết áp trước/sau ngủ · n = 16 người trên 65 tuổi (tóm tắt không nêu địa điểm) | Yan và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b1-019 | Cũng ở người cao tuổi, cải thiện thông gió làm thời gian ngủ sâu tăng 10,3 phút và REM tăng 3,7 phút; lợi ích của môi trường nhiệt tốt hơn và thông gió tốt hơn là cộng gộp. | Ngủ sâu +10,3 phút; REM +3,7 phút | Người | Như trên; PSG · n = 16 người > 65 tuổi | Yan và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b1-020 | Thí nghiệm buồng ngủ ở Trung Quốc với ba mức CO₂ (800, 1.900, 3.000 ppm) trong 54 ngày liên tục: điểm bảng hỏi chất lượng ngủ tổng hợp ở 3.000 ppm chỉ bằng 80,8% so với ở 800 ppm. | Điểm ở 3.000 ppm = 80,8% điểm ở 800 ppm | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, buồng trang trí như phòng ngủ, 3 mức CO₂, theo dõi 54 ngày liên tục; giấc ngủ đo bằng bảng hỏi và chỉ số sinh lý (độ trễ vào giấc, giấc ngủ sóng chậm) · n = 12 (6 nam, 6 nữ), Trung Quốc | Xu và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-021 | Trong nghiên cứu đó, độ trễ vào giấc tương quan tuyến tính thuận và giấc ngủ sóng chậm tương quan tuyến tính nghịch với nồng độ CO₂. | Tương quan tuyến tính (tóm tắt không nêu hệ số) | Người | Như trên · n = 12 | Xu và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-022 | Ở ký túc xá Bỉ, mở cửa sổ đi kèm PM2.5 và tiếng ồn cao hơn, còn đóng cửa sổ đi kèm nhiệt độ, độ ẩm tương đối và CO₂ cao hơn; tổng quan Sekhar 2020 thuật lại CO₂ khoảng 600 ppm (mở) so với 1.600 ppm (đóng). | CO₂ ~600 so với ~1.600 ppm (theo Sekhar 2020) | Người | Thực nghiệm chéo, 2 đêm liên tiếp mở và 2 đêm đóng cửa sổ, thứ tự cân bằng; đo nhiệt độ giường/phòng, RH, CO₂, PM2.5, tiếng ồn; giấc ngủ đo bằng tự đánh giá, vòng đeo tay, và PSG tại nhà cho 14 người · n = 27 (14 nam, 13 nữ, 20–33 tuổi), 4 phòng ký túc xá, Bỉ | Liao và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-023 | Ở nhóm đo PSG, mở cửa sổ đi kèm ngáy ít hơn và thức giấc ít hơn có ý nghĩa, nhưng giai đoạn ngủ đo khách quan không khác giữa hai điều kiện. | Không khác giai đoạn ngủ; ngáy và thức giấc giảm có ý nghĩa (tóm tắt không nêu độ lớn) | Người | Như trên; PSG tại nhà · n = 14 (nhóm PSG) | Liao và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-024 | Ngược chiều với lợi ích khách quan, khi ngủ mở cửa sổ người tham gia báo ồn hơn, cảm thấy kém sảng khoái hơn và điểm thang Groningen cho thấy chất lượng ngủ kém hơn, dù họ đánh giá không khí tươi hơn. | Tự báo cáo kém hơn khi mở cửa sổ (tóm tắt không nêu số) | Người | Như trên; thang Groningen và tự đánh giá · n = 27 | Liao và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-025 | So với PSG tại nhà, vòng đeo tay đo khớp thời điểm bắt đầu/kết thúc ngủ, tổng thời gian ngủ và thời gian trên giường; khớp vừa phải với ngủ nông và độ trễ vào giấc; không có độ khớp đáng kể với REM và ngủ sâu (N3). | Không có độ khớp đáng kể cho REM và N3 | Người | So sánh vòng đeo tay với PSG tại nhà trong cùng đêm · n = 14 | Liao và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-026 | Một nghiên cứu thực địa mùa hè nóng ẩm ở Nhật ghi nhận một số chỉ số giấc ngủ tốt hơn ở điều kiện thông gió thấp hơn; tác giả cho rằng có thể do chất ô nhiễm ngoài trời. | Định tính (tóm tắt không có số) | Người | Đo đạc/can thiệp thực địa phòng ngủ mùa hè (tóm tắt không nêu thiết kế, cỡ mẫu, cách đo giấc ngủ) · Không nêu trong tóm tắt; Nhật Bản | Akimoto và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b1-027 | Nghiên cứu can thiệp mùa hè ở 50 phòng ngủ Thượng Hải: mở cửa sổ đi kèm CO₂ thấp hơn nhưng nhiệt độ và PM2.5 cao hơn, cảm nhận ồn hơn (và không khí tươi hơn), REM ngắn hơn; các chỉ số giấc ngủ khác không khác. Tác giả kết luận không nên khuyến nghị mở cửa sổ như cách thông gió phổ quát. | 256 người-đêm có can thiệp hiệu quả; khác biệt định tính (phần đọc được không có số) | Người | Thực nghiệm can thiệp thực địa 2 tuần: tuần 1 giữ trạng thái cửa sổ thường ngày, tuần 2 đổi mở↔đóng; môi trường và giấc ngủ đo khách quan (phần đọc được không nêu thiết bị) · 50 phòng ngủ, 256 người-đêm, Thượng Hải (khí hậu cận nhiệt đới, mật độ cao) | Yan và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b1-068 | Thí nghiệm ở Bỉ (Laverge và Janssens): CO₂ đỉnh 3.000–4.500 ppm khi thông gió thấp so với 1.000–2.500 ppm khi thông gió cao, nhưng ảnh hưởng lên giấc ngủ nhỏ. | Đỉnh 3.000–4.500 ppm (ACH 0,2–0,3 h⁻¹) so với 1.000–2.500 ppm (ACH 0,4–1,0 h⁻¹); ảnh hưởng lên giấc ngủ "rất nhỏ" | Người | Thực nghiệm can thiệp (thuật lại trong tổng quan) · n = 8 sinh viên, Bỉ | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
Phơi nhiễm CO₂ tinh khiết so với chất sinh học#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-028 | Khi bơm CO₂ tinh khiết vào phòng đã thông gió mạnh (tách CO₂ khỏi chất sinh học), nâng CO₂ lên 1.000 hoặc 3.000 ppm trong 255 phút không gây ảnh hưởng có ý nghĩa đến cảm nhận chất lượng không khí, triệu chứng cấp hay hiệu năng nhận thức. | Nền 500 ppm; thêm CO₂ tinh khiết lên 1.000 và 3.000 ppm; 255 phút mỗi điều kiện; không hiệu ứng có ý nghĩa | Người | Thực nghiệm phơi nhiễm trong buồng, chéo, 5 điều kiện; người tham gia thức (không ngủ) · n = 25 người, Đan Mạch (DTU) | Zhang và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b1-029 | Ngược lại, khi giảm gió tươi để chất sinh học từ người tích tụ (CO₂ do người thở ra đạt 3.000 ppm), cảm nhận chất lượng không khí giảm, đau đầu, mệt, buồn ngủ, khó suy nghĩ tăng, và tốc độ một số bài tính toán chậm lại. | Chất sinh học với CO₂ 3.000 ppm: tăng triệu chứng, giảm tốc độ làm bài | Người | Như trên; điều kiện hạn chế gió tươi để CO₂ sinh học đạt 1.000 hoặc 3.000 ppm · n = 25 | Zhang và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b1-030 | Một thí nghiệm khác bơm CO₂ siêu tinh khiết thấy ở 1.000 ppm có suy giảm vừa và có ý nghĩa ở 6/9 thang đo ra quyết định, và ở 2.500 ppm suy giảm lớn ở 7/9 thang, so với 600 ppm. | 600 / 1.000 / 2.500 ppm; 3 buổi × 2,5 giờ; suy giảm ở 6/9 và 7/9 thang (SMS) | Người | Thực nghiệm phơi nhiễm trong buồng kiểu văn phòng, CO₂ tinh khiết bơm thêm; đo ra quyết định bằng Strategic Management Simulation; người thức · n = 22 người lớn, 6 nhóm, Mỹ | Satish và cs., 2012 (tóm tắt) |
| b1-033 | Trong thí nghiệm văn phòng mô phỏng có điều kiện nâng CO₂ nhân tạo độc lập với thông gió, cả VOC và CO₂ đều liên quan độc lập với điểm chức năng nhận thức; điểm nhận thức cao hơn 61% ở điều kiện "Green" và 101% ở "Green+" (thông gió cao) so với điều kiện thông thường. | +61% (Green), +101% (Green+) so với Conventional; CO₂ mục tiêu 550 / 945 / 1.400 ppm | Người | Thực nghiệm phơi nhiễm có kiểm soát, mù đôi, 6 ngày làm việc (09:00–17:00) trong văn phòng có kiểm soát môi trường; điều kiện VOC cao/thấp, thông gió cao, CO₂ nâng nhân tạo lên 945 và 1.400 ppm; đo bằng SMS; người thức · n = 24 nhân viên văn phòng, Mỹ | Allen và cs., 2016 |
Tổng quan về chất lượng không khí phòng ngủ và giấc ngủ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-031 | Tổng quan phê bình 37 nghiên cứu thực nghiệm: trong nhóm nghiên cứu đạt tiêu chí chất lượng, với CO₂ tinh khiết ở mức thường gặp trong nhà, chỉ thấy ảnh hưởng lên khả năng ra quyết định cấp cao (đo bằng SMS), còn thông gió thấp kèm tích tụ chất ô nhiễm có thể làm chậm tốc độ nhưng không ảnh hưởng độ chính xác. | 37 nghiên cứu thực nghiệm | Tổng quan | Tổng quan phê bình (critical review) các nghiên cứu thao tác CO₂ bằng bơm CO₂ tinh khiết hoặc chỉnh thông gió, có bài kiểm tra nhận thức khách quan · 37 nghiên cứu | Du và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-032 | Tổng quan này nêu các yếu tố gây nhiễu chính: khác biệt phương pháp đánh giá nhận thức, thiết kế nghiên cứu, đặc điểm người tham gia và bất định về liều phơi nhiễm. | Định tính | Tổng quan | Như trên · 37 nghiên cứu | Du và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-062 | Tổng quan 22 nghiên cứu thực địa về chất lượng không khí trong lúc ngủ (tìm trên Web of Science và Scopus, 8/2020): CO₂ trung bình các nghiên cứu dao động 870–3.440 mg/m³, trung bình 1.840 ± 700 mg/m³ (~1.000 ppm). | 22 nghiên cứu; CO₂ 870–3.440 mg/m³; 1.840 ± 700 mg/m³ (~1.000 ppm) | Tổng quan | Tổng quan nghiên cứu thực địa (không phải phân tích gộp), 127 bài sàng lọc · 22 nghiên cứu | Canha và cs., 2021 |
| b1-063 | Trong tổng quan đó, CO₂ trung bình vượt ngưỡng 1.250 ppm ở 4 trong 17 nghiên cứu đo CO₂ (3 thông gió tự nhiên, 1 hỗn hợp); không có trường hợp vượt nào trong 4 trường hợp chỉ dùng thông gió cơ khí. | 4/17 nghiên cứu vượt 1.250 ppm; 0/4 trường hợp thông gió cơ khí | Tổng quan | Như trên · 17 nghiên cứu đo CO₂ | Canha và cs., 2021 |
| b1-064 | Cùng tổng quan: 86% nghiên cứu đo PM2.5 trong lúc ngủ có mức trên ngưỡng 10 µg/m³ (hướng dẫn WHO 2005); PM2.5 trung bình 5,0–35,1 µg/m³. | 86% vượt 10 µg/m³; 5,0–35,1 µg/m³ | Tổng quan | Như trên · Các nghiên cứu có đo PM2.5 | Canha và cs., 2021 |
| b1-065 | Tổng quan kết luận tài liệu khoa học về chất lượng không khí trong lúc ngủ còn ít; chỉ 18% nghiên cứu đo CO, VOC hoặc formaldehyde, và hiếm nghiên cứu đo đồng thời nhiều chất. | 18% nghiên cứu đo CO/VOC/formaldehyde | Tổng quan | Như trên · 22 nghiên cứu | Canha và cs., 2021 |
| b1-066 | Tổng quan Sekhar và cs. (2020) đánh giá bằng chứng ảnh hưởng của chất lượng không khí lên giấc ngủ là còn hạn chế và chủ yếu dựa trên mẫu nhỏ. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan tường thuật (không hệ thống) bằng chứng thực địa, can thiệp và tiêu chuẩn · — | Sekhar và cs., 2020 |
| b1-067 | Theo tổng quan Sekhar 2020, ACH của phòng ngủ thông gió tự nhiên mùa sưởi phần lớn dưới 0,7 h⁻¹ và mọi nghiên cứu mùa sưởi trừ một đều không đạt 1,2 h⁻¹; ACH dưới 0,4 h⁻¹ thường đi kèm CO₂ cao. | Thường < 0,7 h⁻¹; hầu hết < 1,2 h⁻¹ | Tổng quan | Như trên · Các nghiên cứu thực địa châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ | Sekhar và cs., 2020 |
| b1-069 | Tổng hợp của dự án ASHRAE 1837-RP (2025) cho rằng mức thông gió tối thiểu hiện quy định cho nhà ở có thể không đủ cho phòng ngủ; nồng độ CO₂ tuyệt đối trong phòng khi có người ngủ tối thiểu nên dưới 1.000 ppm, tốt hơn là dưới 800 ppm. | < 1.000 ppm (tối thiểu), < 800 ppm (ưu tiên) | Tổng quan | Tổng hợp các nghiên cứu gần đây đo cả thông gió phòng ngủ và giấc ngủ (không nêu số nghiên cứu trong tóm tắt) · — | Akimoto và cs., 2025 (tóm tắt) |
| b1-070 | Bài tổng hợp này nhấn mạnh CO₂ ở đây là chỉ báo mức đủ của thông gió, không phải chất ô nhiễm, và cho rằng lưu lượng gió tươi cho phòng ngủ cần ít nhất gấp đôi tiêu chuẩn hiện hành. | Gấp ≥ 2 lần tiêu chuẩn hiện hành | Tổng quan | Như trên · — | Akimoto và cs., 2025 (tóm tắt) |
| b1-071 | Nhóm Wargocki (2024) đề xuất thông gió phòng ngủ khoảng 10 L/s mỗi người, tương ứng CO₂ khoảng 400 ppm trên mức ngoài trời và ACH khoảng 1 h⁻¹ cho phòng ngủ điển hình. | ~10 L/s/người; ~400 ppm trên ngoài trời; ~1 h⁻¹ | Tổng quan | Tổng hợp các nghiên cứu thông gió phòng ngủ và giấc ngủ (bài hội nghị) · — | Wargocki và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b1-072 | Nhóm Wargocki (2023) cho rằng khuyến nghị truyền thống 0,5 lần trao đổi khí mỗi giờ cần được xem lại và thông gió phòng ngủ có lẽ nên gấp đôi mức đó. | 0,5 h⁻¹ → ~1 h⁻¹ | Tổng quan | Tổng hợp (bài hội nghị AIVC 3 trang) · — | Wargocki và cs., 2023 (tóm tắt) |
Đo đạc thực địa CO₂ và thông gió phòng ngủ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-034 | Đo 20 phòng ngủ ở Wellington (New Zealand) mùa đông–xuân 2023 bằng cảm biến NDIR: CO₂ ban đêm trung vị 907 ppm, bách phân vị 75 là 1.319 ppm, dao động 420–8.150 ppm. | Trung vị 907 ppm; P75 1.319 ppm; khoảng 420–8.150 ppm | Người | Đo đạc thực địa cắt ngang, mỗi phòng 2 tuần (7–10/2023); máy AirSuite (Glance LTE) cảm biến NDIR, độ chính xác ±30 ppm ±3%; không đo giấc ngủ · 20 hộ, 20 phòng ngủ, Wellington, New Zealand | Bennett và cs., 2026 |
| b1-035 | Ở Wellington, đỉnh CO₂ ban đêm vượt 2.000 ppm ở một nửa số phòng ngủ, và 6 phòng có ít nhất 80% thời gian ban đêm trên 800 ppm. | 50% phòng có đỉnh > 2.000 ppm; 6/20 phòng ≥ 80% thời gian đêm > 800 ppm | Người | Như trên · 20 phòng ngủ | Bennett và cs., 2026 |
| b1-036 | Ở 500 phòng ngủ trẻ 3–5 tuổi tại Đan Mạch, 23% phòng có ít nhất một khoảng 20 phút CO₂ trên 2.000 ppm trong đêm và 6% có lúc trên 3.000 ppm; chỉ 32% phòng có CO₂ trung bình đêm dưới 1.000 ppm; ACH trung bình nhân 0,46 h⁻¹, khoảng 57% trẻ ngủ dưới mức tối thiểu 0,5 h⁻¹ của nhà mới Đan Mạch. | 23% có ≥ 20 phút > 2.000 ppm; 6% có lúc > 3.000 ppm; 32% có trung bình đêm < 1.000 ppm; ACH trung bình nhân 0,46 h⁻¹ (SD hình học 2,08–2,13); 57% < 0,5 h⁻¹ | Người | Đo đạc thực địa (thuộc nghiên cứu bệnh–chứng về dị ứng ở trẻ): CO₂ phòng ngủ đo liên tục trung bình 2,5 ngày, ACH tính từ CO₂; thời gian thực địa 10 tuần (Sekhar 2020 ghi mùa xuân); không đo giấc ngủ · 500 trẻ 3–5 tuổi (200 ca có triệu chứng, 300 chọn ngẫu nhiên), Đan Mạch | Bekö và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b1-037 | Ở 454 phòng ngủ trẻ em Thượng Hải, CO₂ trung bình 1.123 ppm và 203 phòng có trung bình trên 1.000 ppm. | Trung bình 1.123 ppm; 203/454 nhà > 1.000 ppm | Người | Đo đạc thực địa (thuật lại trong tổng quan) · 454 phòng ngủ trẻ em, Thượng Hải | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-038 | Ở phòng ngủ của 567 nhà ở Pháp, ACH trung vị 0,44 h⁻¹ (nhà riêng 0,41; căn hộ 0,49 h⁻¹); CO₂ trung bình phòng ngủ 1.266 ppm mùa sưởi và 966 ppm ngoài mùa sưởi. | ACH trung vị 0,44 (tất cả) / 0,41 (nhà riêng) / 0,49 h⁻¹ (căn hộ); CO₂ 1.266 (mùa sưởi) / 966 ppm (ngoài mùa sưởi) | Người | Đo đạc thực địa (thuật lại trong tổng quan) · 567 nhà, Pháp (Langer và cộng sự) | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-039 | Ở Lisbon (10 cặp vợ chồng), chỉ 30% phòng ngủ dưới ngưỡng pháp lý 1.250 ppm của Bồ Đào Nha; CO₂ trung bình 1.911 ppm. | 30% phòng < 1.250 ppm; trung bình 1.911 ± 895 ppm (mùa lạnh) | Người | Đo đạc thực địa (thuật lại trong tổng quan) · 10 phòng ngủ cặp đôi, Lisbon (Canha và cộng sự 2020) | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-040 | Ở 23 phòng ngủ Seoul, CO₂ trung bình theo mùa là 1.258 ppm (đông), 1.276 ppm (xuân) và 428 ppm (hè) — mùa hè mở cửa cho CO₂ gần mức ngoài trời. | 1.258 / 1.276 / 428 ppm | Người | Đo đạc thực địa theo mùa (thuật lại trong tổng quan) · 23 phòng ngủ, Seoul (Kim và cộng sự) | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-041 | Ở 12 phòng ngủ Hồng Kông, phòng dùng điều hoà cửa sổ có CO₂ trung bình 456–1.048 ppm (trung bình 720 ppm) với gió ngoài 2,8–4,4 L/s khi mở van gió (1,7–4,1 L/s khi đóng van), còn phòng dùng điều hoà treo tường (split) có CO₂ 1.160–1.805 ppm (trung bình 1.500 ppm) với 1,4–2,2 L/s. | Điều hoà cửa sổ 456–1.048 ppm (TB 720), gió ngoài 2,8–4,4 L/s (mở van, TB 3,4) / 1,7–4,1 L/s (đóng van, TB 2,7); split 1.160–1.805 ppm (TB 1.500), 1,4–2,2 L/s (TB 1,8) | Người | Đo đạc thực địa (thuật lại trong tổng quan) · 12 phòng ngủ, Hồng Kông, mùa làm mát (Lin & Deng 2003) | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-042 | Ở căn hộ công cộng Singapore, phòng ngủ thông gió tự nhiên có CO₂ ban đêm khoảng 550–600 ppm, trong khi phòng ngủ chạy điều hoà có khoảng 778–1.164 ppm tuỳ loại máy; máy không có cửa lấy gió tươi có thể đẩy CO₂ lên khoảng 1.600 ppm. | Thông gió tự nhiên (NV) ~550–600 ppm (văn bản; Bảng 2 ghi 618); AC: tủ đứng 1.100, máy cửa sổ đóng lỗ gió 1.146, mở lỗ gió 1.003, máy di động 778, multi-split 1.164 ppm; máy không lấy gió tươi có thể ~1.600 ppm (văn bản) | Người | Đo đạc thực địa qua đêm, đồng thời 1 phòng có điều hoà và 1 phòng thông gió tự nhiên mỗi căn, 2–4 đêm mỗi căn (bảng in lỗi, khoảng 8 đêm tổng); bảng hỏi 105/300 cư dân · 3 căn hộ 5 phòng HDB, Singapore | Wong và cs., 2002 |
| b1-044 | Trong khảo sát ở Singapore, phần lớn người dùng điều hoà khi ngủ có ít nhất một triệu chứng hội chứng nhà kín (SBS); chỉ 17% người dùng điều hoà không có triệu chứng so với khoảng 48% ở người ngủ thông gió tự nhiên. | 17% (AC) so với ~48% (NV) không có triệu chứng SBS | Người | Khảo sát cắt ngang bằng bảng hỏi tự báo cáo, không hiệu chỉnh biến nhiễu · 105 người trả lời, Singapore | Wong và cs., 2002 |
| b1-045 | Nghiên cứu ở 2 nhà tại Hà Nội: phòng ngủ đóng kín có CO₂ khoảng 3.000 ppm từ 23:00 đến 06:00 khi máy thông gió thu hồi nhiệt (heat recovery ventilator) chạy mức 1; mức 2 cho 1.500–2.000 ppm, mức 3 cho 1.100–1.300 ppm. | Mức 1: ~3.000 ppm (23–6 giờ); mức 2: 1.500–2.000 ppm; mức 3: 1.100–1.300 ppm (bài liệt kê lưu lượng 80/100/120 m³/h nhưng không gắn rõ với từng mức) | Người | Đo đạc thực địa + can thiệp thiết bị máy thông gió thu hồi nhiệt, ghi 5 phút/lần bằng bộ cảm biến IAQ do Daikin cung cấp (không nêu loại cảm biến CO₂); không đo giấc ngủ · 2 nhà ở Hà Nội (bài không nói rõ phòng ngủ trong biểu đồ CO₂ thuộc nhà nào; Bảng 1 có phòng ngủ 40,5 m³ ở căn hộ ngoại thành) | Nguyen và cs., 2025 |
| b1-047 | Đo trong 3 phòng ngủ kín tại Việt Nam: CO₂ cao nhất đạt 1.870 ppm lúc 05:00, vượt ngưỡng khuyến cáo 1.000 ppm của TCVN 13521:2022; nồng độ CO₂ khi bật và không bật điều hoà không khác biệt có ý nghĩa (p = 0,237). | Đỉnh 1.870 ppm (5 giờ sáng); có/không điều hoà p = 0,237 | Người | Đo đạc thực địa CO₂ qua đêm trong 3 phòng ngủ kín (tóm tắt không nêu thiết bị đo, diện tích phòng, số người) · 3 phòng ngủ, Việt Nam (tóm tắt không nêu thành phố) | Hà Thị Hiền và cs., 2025 (tóm tắt) |
| b1-048 | Nghiên cứu này ước tính thể tích CO₂ phát thải lớn nhất của một người trong 8 giờ nghỉ đêm là 66,59 L. | 66,59 L CO₂/người/8 giờ (giá trị lớn nhất); tốc độ tăng nồng độ CO₂ trung bình 15,74 ± 3,31%/giờ | Người | Như trên · 3 phòng ngủ, Việt Nam | Hà Thị Hiền và cs., 2025 (tóm tắt) |
| b1-049 | Trong buồng ngủ mô phỏng ở Thượng Hải, tốc độ phát thải CO₂ khi ngủ trung bình 10,1 ± 2,4 L/giờ mỗi người — thấp hơn khoảng 20–50% so với giá trị khi thức trong các nghiên cứu trước, khớp ước tính của ASHRAE Handbook (chênh < 1%) và thấp hơn ASTM D6245 khoảng 8%. | 10,1 ± 2,4 L/giờ (11,4 / 8,8 / 10,2 L/giờ ở 3 mức thông gió) | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, 2 phòng ngủ mô phỏng giống nhau ở ĐH Giao thông Thượng Hải, 3 mức gió tươi (~33, 15, 8 m³/h); thời điểm vào giấc/thức dậy và giai đoạn ngủ ước tính bằng vòng đeo tay Fitbit Inspire 2 (tác giả nêu độ chính xác phân giai đoạn ~69% so với PSG) · 36 người trẻ khoẻ (18 nam, 18 nữ) được tuyển, phân tích 32 (16 nam, 16 nữ); ĐH Giao thông Thượng Hải | Xiang và cs., 2026 |
| b1-051 | Đo 38 phòng ngủ Đan Mạch mùa sưởi 2020: trung vị của CO₂ trung bình trong lúc ngủ là 981,8 ppm; CO₂ cao hơn có ý nghĩa khi cả cửa sổ và cửa đều đóng. | Trung vị 981,8 ppm; PM2.5 trung vị 2,8 µg/m³ | Người | Đo đạc thực địa trong lúc ngủ, ghi trạng thái cửa sổ/cửa · 38 phòng ngủ, vùng thủ đô Đan Mạch | Liao và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b1-052 | Trong 38 phòng ngủ Đan Mạch đó, không chất ô nhiễm nào (CO₂, NO2, VOC, PM10, PM2.5) tương quan có ý nghĩa với các chỉ số giấc ngủ đo bằng vòng đeo tay, dù tác giả ghi CO₂ "có vẻ liên quan với REM theo cách khác"; người tham gia tự đánh giá (thang Groningen) chất lượng ngủ tốt hơn khi mở cửa sổ hoặc cửa. | Không tương quan có ý nghĩa | Người | Cắt ngang thực địa; giấc ngủ đo bằng vòng đeo tay (tóm tắt không nêu tên) và thang Groningen (GSQS) · 38 phòng ngủ, Đan Mạch | Liao và cs., 2022 (tóm tắt) |
| b1-053 | Ở 48 hộ tại Sydney mùa hè, tỉ lệ ngủ sâu do cảm biến đeo cổ tay ước tính (tóm tắt không nêu tên thiết bị) liên quan nghịch với CO₂ phòng ngủ: giảm 4,3% cho mỗi 100 ppm tăng của CO₂ trung bình qua đêm. | −4,3% ngủ sâu / +100 ppm CO₂ | Người | Nghiên cứu quan sát thực địa, 5 đêm liên tiếp mỗi người; trạm SAMBA ghi nhiệt độ và chất lượng không khí 5 phút/lần; giấc ngủ đo bằng cảm biến đeo cổ tay và thang tự đánh giá · n = 48 chủ hộ (nam và nữ), Sydney, Úc | Xiong và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-055 | Ở 104 người khoẻ ở Bắc Kinh (mùa chuyển tiếp, phòng thông gió tự nhiên), CO₂ trung bình qua đêm tương quan có ý nghĩa với các chỉ số chất lượng giấc ngủ; tác giả cho rằng thông gió cao (CO₂ thấp) có thể có lợi. | Tương quan có ý nghĩa (tóm tắt không nêu hệ số) | Người | Nghiên cứu thực địa 1 đêm/người; nhiệt độ, RH, CO₂ ghi trước và trong khi ngủ; giấc ngủ đo bằng Fitbit Alta 2 và bảng hỏi giấy · n = 104 người khoẻ, đô thị Bắc Kinh | Zhang và cs., 2021 (tóm tắt) |
Điều hoà, ACH, nhiệt độ và tiếng ồn khi thông gió#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-043 | Ở Singapore, phòng ngủ thông gió tự nhiên có nhiệt độ 29–30 °C và độ ẩm 70–75%, còn phòng điều hoà 23–28 °C dù máy đặt 22 °C — minh hoạ đánh đổi nhiệt–thông gió ở vùng nóng ẩm. | NV 29–30 °C, RH 70–75%; AC 23–28 °C | Người | Như trên · 3 căn hộ, Singapore | Wong và cs., 2002 |
| b1-046 | Cũng ở Hà Nội, phần kết luận của bài báo viết rằng máy thông gió thu hồi nhiệt làm điện năng điều hoà giảm từ 224,35 xuống 158,05 kWh mỗi tháng (so với "thông gió tiêu chuẩn") và CO₂ ban đêm giảm "từ trên 5.000 ppm về gần 1.000 ppm" — nhưng phần kết quả không có số đo khi tắt máy thông gió thu hồi nhiệt và ở mức gió cao nhất CO₂ vẫn 1.100–1.300 ppm. | 224,35 → 158,05 kWh/tháng | Người | Như trên · 2 nhà, Hà Nội | Nguyen và cs., 2025 |
| b1-050 | Cũng trong nghiên cứu đó, gió tươi khoảng 33, 15 và 8 m³/h cấp cho phòng một người ngủ tương ứng với CO₂ trung bình lần lượt 771, 1.021 và 1.305 ppm. | 33 m³/h → 771 ± 89 ppm; 15 m³/h → 1.021 ± 88 ppm; 8 m³/h → 1.305 ± 228 ppm | Người | Như trên · n = 32 | Xiang và cs., 2026 |
| b1-054 | Cùng nghiên cứu Sydney: mỗi 1 K tăng nhiệt độ tác dụng phòng ngủ đi kèm hiệu suất giấc ngủ giảm 1,036% và tỉ lệ REM giảm 1,647%. | −1,036% SE và −1,647% REM mỗi +1 K | Người | Như trên · n = 48 | Xiong và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-056 | Cũng ở Bắc Kinh, nhiệt độ trung tính ước tính là 23,8 °C khi thức trước ngủ và 26,5 °C trong khi ngủ. | 23,8 °C (thức) và 26,5 °C (ngủ) | Người | Như trên · n = 104 | Zhang và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-057 | Đo bằng phương pháp suy giảm CO₂ ở 294 nhà đô thị Trung Quốc thuộc 5 vùng khí hậu: tốc độ rò lọt (infiltration) trung vị 0,34 h⁻¹; ở 46 phòng ngủ đo ban đêm suốt 1 năm, 54% lần đo cửa sổ đóng nên thông gió chỉ nhờ rò lọt. | Rò lọt trung vị 0,34 h⁻¹ (294 nhà); 54% lần đo cửa sổ đóng (46 phòng ngủ) | Người | Đo đạc thực địa, phương pháp suy giảm CO₂ (CO₂ decay) · 294 nhà; 46 phòng ngủ theo dõi 1 năm; 5 vùng khí hậu Trung Quốc | Hou và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b1-058 | Ở 46 phòng ngủ đô thị Trung Quốc được theo dõi, cửa sổ chủ yếu đóng khi nhiệt độ ngoài trời dưới 15 °C hoặc trên 26 °C — SL tức là nhà vùng nóng thường đóng kín khi trời nóng; tốc độ rò lọt trung vị theo mùa/vùng luôn dưới 0,45 h⁻¹. | Đóng cửa sổ khi < 15 °C hoặc > 26 °C; trung vị rò lọt < 0,45 h⁻¹ | Người | Như trên · 46 phòng ngủ | Hou và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b1-059 | Ở 84 phòng ngủ vùng Copenhagen, ACH trung vị trong lúc ngủ theo thói quen là 0,40 h⁻¹ (khoảng 0,03–19,25 h⁻¹); một nửa số phòng dưới mức tối thiểu 0,4 h⁻¹ của EN 16798-1. | Trung vị 0,40 h⁻¹; 50% < 0,4 h⁻¹ | Người | Đo đạc thực địa ACH trong lúc ngủ (ước tính từ CO₂) · 84 người tham gia, Đại Copenhagen, Đan Mạch | Fan và cs., 2022 |
| b1-060 | Trong số đó, 79% phòng có ACH dưới 1,1 h⁻¹ và 26% dưới 0,2 h⁻¹ — mức mà tác giả cho là có thể ảnh hưởng cả giấc ngủ lẫn hiệu năng hôm sau. | 79% < 1,1 h⁻¹; 26% < 0,2 h⁻¹ | Người | Như trên · 84 phòng ngủ | Fan và cs., 2022 |
| b1-089 | Đo tại một phòng ngủ có điều hoà ở Hồng Kông: thông gió tự nhiên suốt đêm (dù khe mở nhỏ) làm tăng điện năng và làm xấu môi trường nhiệt; vài đợt thông gió cơ khí ngắn vài phút có thể duy trì chất lượng không khí chấp nhận được cho 8 giờ ngủ. | Thông gió cơ khí ngắn chỉ cần ~41% thời gian so với cách tự nhiên ngắn tốt nhất để thay toàn bộ không khí | Người | Đo đạc thực địa CO₂ qua đêm, một phòng ngủ, so sánh 3 chiến lược thông gió · 1 phòng ngủ, Hồng Kông, tháng 9 | Ai và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-090 | Ở ký túc xá Bỉ, mở cửa sổ đi kèm tiếng ồn và PM2.5 cao hơn; đóng cửa sổ đi kèm nhiệt độ và độ ẩm cao hơn — mở cửa sổ có hai mặt. | Định tính (tóm tắt không nêu số) | Người | Như thí nghiệm Liao 2021 (b1-022) · n = 27, Bỉ | Liao và cs., 2021 (tóm tắt) |
Tiêu chuẩn và khuyến nghị về thông gió và CO₂#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-061 | Fan và cs. (2022) đề xuất các mốc: thông gió dưới 10 L/s mỗi người có thể ảnh hưởng giấc ngủ; dưới 5 L/s (CO₂ > 1.150 ppm) sẽ ảnh hưởng giấc ngủ; dưới 1,5 L/s (CO₂ > 2.600 ppm) ảnh hưởng cả giấc ngủ và nhận thức hôm sau. | < 10 L/s/người; < 5 L/s ↔ > 1.150 ppm; < 1,5 L/s ↔ > 2.600 ppm | Tổng quan | Mốc tổng hợp từ các nghiên cứu can thiệp của chính nhóm (bài hội nghị) · — | Fan và cs., 2022 |
| b1-073 | EN 16798-1 quy định mức CO₂ thiết kế trên nồng độ ngoài trời theo loại chất lượng: 380 ppm (loại I), 550 ppm (loại II), 950 ppm (loại III), loại IV trên 950 ppm. | ΔCO2: I 380, II 550, III 950 ppm; IV > 950 ppm | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tiêu chuẩn châu Âu (thuật lại trong tổng quan) · — | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-074 | EN 16798-1 cho tổng thông gió nhà ở (gồm rò lọt) 0,49 / 0,42 / 0,35 / 0,23 L/s mỗi m² sàn, tương đương khoảng 0,7 / 0,6 / 0,5 / 0,4 h⁻¹ cho loại I–IV; cấp gió 10 / 7 / 4 L/s mỗi người cho loại I–III. | 0,7 / 0,6 / 0,5 / 0,4 h⁻¹; 10 / 7 / 4 L/s/người | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tiêu chuẩn châu Âu (thuật lại trong tổng quan) · — | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-075 | ASHRAE 62.2 (bản 2013, phụ lục m) quy định tổng lưu lượng thông gió nhà ở theo diện tích sàn và số phòng ngủ: Qtot (L/s) = 0,15 × diện tích sàn (m²) + 3,5 × (số phòng ngủ + 1). | Qtot = 0,15·A + 3,5·(Nbr + 1) L/s; I-P: 0,03·A + 7,5·(Nbr + 1) cfm | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tiêu chuẩn Mỹ (văn bản phụ lục công khai) · — | ASHRAE, 2015 |
| b1-076 | ASHRAE khẳng định các tiêu chuẩn 62.1 và 62.2 quy định lưu lượng thông gió tối thiểu và các biện pháp khác, không đặt giới hạn CO₂; nhận định 62.1 yêu cầu CO₂ dưới một ngưỡng (thường là 1.000 ppm) là sai. | Không có giới hạn CO₂ trong 62.1/62.2 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Văn bản chính sách của ASHRAE · — | ASHRAE Government Affairs Office, 2023 |
| b1-077 | ASHRAE đánh giá bằng chứng về tác động của CO₂ lên sức khoẻ, học tập và hiệu suất làm việc ở mức trong nhà thường gặp là không nhất quán, chưa đủ để đổi tiêu chuẩn. | Định tính | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Văn bản chính sách · — | ASHRAE Government Affairs Office, 2023 |
| b1-078 | Hướng dẫn của Uỷ ban Vệ sinh Không khí trong nhà (Cục Môi trường Liên bang Đức, UBA, 2008) phân loại: CO₂ dưới 1.000 ppm "không đáng lo về vệ sinh", 1.000–2.000 ppm "đáng chú ý" (cần tăng thông gió), trên 2.000 ppm "không chấp nhận được về vệ sinh". | < 1.000 / 1.000–2.000 / > 2.000 ppm | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố của nhóm chuyên gia cơ quan nhà nước (Bundesgesundheitsblatt) · — | Ad-hoc-Arbeitsgruppe Innenraumrichtwerte der Innenraumlufthygiene-Kommission des Umweltbundesamtes, 2008 |
| b1-079 | UBA nói rõ đây là giá trị hướng dẫn về vệ sinh–sức khoẻ để đánh giá chất lượng không khí, không phải giá trị dựa trên độc chất học. | Không phải ngưỡng độc tính | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Như trên · — | Ad-hoc-Arbeitsgruppe Innenraumrichtwerte der Innenraumlufthygiene-Kommission des Umweltbundesamtes, 2008 |
| b1-080 | ANSES (Pháp, 2013): các giá trị giới hạn CO₂ trong quy định/tiêu chuẩn thường 1.000–1.500 ppm, nhưng không có ý nghĩa về chất lượng sức khoẻ của không khí trong nhà; CO₂ dùng được như chỉ báo chất lượng không khí trong không gian kín. | 1.000–1.500 ppm (giá trị thông gió) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Ý kiến chuyên gia cơ quan nhà nước · — | ANSES, 2013 |
| b1-081 | ANSES kết luận dữ liệu dịch tễ hiện có không cho phép đặt một ngưỡng CO₂ bảo vệ sức khoẻ, tiện nghi hay hiệu năng nhận thức. | Không đặt được ngưỡng | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Như trên · — | ANSES, 2013 |
| b1-082 | Cơ quan Môi trường Quốc gia Singapore (NEA) khuyến nghị giữ CO₂ dưới 800 ppm trung bình trong thời gian đo (bối cảnh COVID-19), với giới hạn trên theo quy phạm SS 554 là không quá 700 ppm trên mức ngoài trời (khoảng 1.100 ppm). | < 800 ppm; SS 554: ≤ 700 ppm trên ngoài trời (~1.100 ppm) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Khuyến cáo của cơ quan nhà nước · — | National Environment Agency Singapore, 2022 |
| b1-084 | Tiêu chuẩn Trung Quốc GB/T 18883-2002 yêu cầu gió tươi 30 m³/h mỗi người và CO₂ trong nhà không quá 1.000 ppm; sổ tay thiết kế quy định 1 h⁻¹ cho phòng ngủ và phòng khách nhà ở. | 30 m³/h/người; CO₂ ≤ 1.000 ppm; 1 h⁻¹ phòng ngủ | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tiêu chuẩn quốc gia (thuật lại trong tổng quan) · — | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-085 | Ở Nhật, phòng ở thông gió cơ khí cần 20 m³/h (5,55 L/s) gió ngoài mỗi người, và luật năm 2003 yêu cầu nhà ở có ACH 0,5 h⁻¹; Hàn Quốc 0,7 h⁻¹ cho căn hộ mới; Ấn Độ tối thiểu 3 h⁻¹ cho phòng khách và phòng ngủ. | Nhật 20 m³/h/người, 0,5 h⁻¹; Hàn 0,7 h⁻¹; Ấn Độ 3 h⁻¹ | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tiêu chuẩn/luật quốc gia (thuật lại trong tổng quan) · — | Sekhar và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-086 | Bản dự thảo 11/2021 tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng không khí trong nhà (nhiều khả năng là tiền thân của TCVN 13521:2022) khuyến nghị CO₂ tối đa 1.000 ppm cho cả nhà đóng cửa chạy điều hoà và nhà thông gió tự nhiên, trị số trung bình 24 giờ với nhà ở; mức 1.000 ppm của bản chính thức TCVN 13521:2022 được các nguồn thứ cấp xác nhận. | Dự thảo: CO₂ 1.000 ppm (trung bình 24 giờ với nhà ở); PM2.5 50 µg/m³; PM10 100 (điều hoà) / 150 µg/m³ (thông gió tự nhiên); HCHO 100 µg/m³ (0,08 ppm); TVOC 500 µg/m³. Bản chính thức: CO₂ 1.000 ppm (qua nguồn thứ cấp); giá trị khác chưa kiểm | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Dự thảo tiêu chuẩn quốc gia (Bộ Xây dựng, 11/2021) · — | Bộ Xây dựng, 2021 |
| b1-087 | Phụ lục dự thảo này dẫn TCVN 5687:2010: gió ngoài cho phòng ngủ nhà ở 35 m³/h mỗi người, phòng khách 30 m³/h mỗi người. | Phòng ngủ 35 m³/h/người (~9,7 L/s), 8–10 m²/người; phòng khách 30 m³/h/người | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Dự thảo tiêu chuẩn, bảng A.1 dẫn TCVN 5687:2010 · — | Bộ Xây dựng, 2021 |
| b1-088 | Một bài báo (tác giả An An) trên cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương viết rằng, khác với quy chuẩn bắt buộc, việc áp dụng TCVN 13521:2022 chỉ mang tính khuyến nghị, tự nguyện; và trước tiêu chuẩn này Việt Nam chưa có quy chuẩn hay tiêu chuẩn về chất lượng không khí trong nhà. | Tự nguyện | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Bài báo trên cổng thông tin Bộ Công Thương (không phải văn bản chính thức của Bộ) · — | An An, 2022 |
Cảm biến CO₂#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-083 | Cơ quan Môi trường Quốc gia Singapore (NEA) khuyến cáo máy đo CO₂ dùng để đánh giá thông gió là loại hồng ngoại không tán sắc (NDIR), dải đo ít nhất 300–3.000 ppm, ghi ít nhất mỗi phút, sai số không quá ±50 ppm hoặc ±5%, độ phân giải 10 ppm và hiệu chuẩn được. | NDIR; ±50 ppm hoặc ±5%; 300–3.000 ppm; ghi ≥ 1 lần/phút | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Khuyến cáo kỹ thuật của cơ quan nhà nước · — | National Environment Agency Singapore, 2022 |
| b1-091 | Thẩm định trong buồng thử 8 máy đo chất lượng không khí đa thông số (7 máy tiêu dùng, 1 máy cấp doanh nghiệp) và 8 cảm biến đơn: đa số cho kết quả CO₂ chấp nhận được (sai trong 15%), nhưng đo bụi thấp hơn chuẩn tới 50% (có máy thấp hơn ~90% khi đốt nhang muỗi) và đo tổng hợp chất hữu cơ bay hơi (TVOC) kém thống nhất. | CO₂ trong ±15%; bụi thấp hơn tới 50% | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Thử nghiệm buồng có kiểm soát (63,3 m³, Fribourg, Thuỵ Sĩ), 8 nguồn ô nhiễm × 2 điều kiện (20 °C/30% RH và 26 °C/70% RH) = 16 thí nghiệm, so với thiết bị chuẩn · 8 máy đa thông số + 8 cảm biến đơn | Demanega và cs., 2021 |
| b1-092 | Trong nghiên cứu đó, máy duy nhất ước tính CO₂ từ cảm biến VOC (eCO2) có sai số tương đối trung bình 122% ở điều kiện nóng ẩm và tương quan âm với chuẩn (r = −0,36); tác giả kết luận chưa có cách thay thế cảm biến CO₂ chuyên dụng. | eCO2: sai số tương đối trung bình (MRE) 38% (mát khô) và 122% (nóng ẩm), r = −0,36 | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Như trên · 1 máy eCO2 trong 8 máy | Demanega và cs., 2021 |
| b1-093 | Các máy dùng cảm biến NDIR có sai số tương đối trung bình 3–11% với ba máy tốt nhất, nhưng có máy NDIR vẫn sai 24% (phản hồi chậm) và 48% (lệch cố định) ở điều kiện nóng ẩm. | MRE nóng ẩm: 3%, 8%, 11%, 24%, 48% (các máy NDIR); cảm biến đơn SCD40 6% | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Như trên · 6 máy có cảm biến NDIR + cảm biến đơn | Demanega và cs., 2021 |
| b1-094 | Thẩm định ngoài trời 9 cảm biến NDIR giá thấp và trung bình so với máy phân tích khí nhà kính chuẩn: chưa hiệu chuẩn, sai số căn quân phương (RMSE) trung bình 13 ppm (Vaisala GMP343), 21 ppm (Senseair Sunrise) và 59 ppm (Senseair K30); riêng một cảm biến K30 sai tới 127 ppm. | RMSE chưa hiệu chuẩn: 13 / 21 / 59 ppm (mục 3.1; mục 3.2 ghi 10,73 / 13,70 / 58,27); tổng thể 27,57 ppm; một cảm biến K30: 127 ppm (Bảng 1: 131,47) | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Thử nghiệm thiết bị ngoài trời trên mái ĐH Yale (8/8–14/10/2023) và trong buồng sinh trưởng; chuẩn Los Gatos · 9 cảm biến (3 mỗi loại) | Dubey và cs., 2024 |
| b1-095 | Hiệu chuẩn bằng mô hình học máy kết hợp nhiệt độ, độ ẩm, áp suất giảm RMSE trung bình từ 27,57 xuống 9,53 ppm (khoảng 65%); cảm biến K30 giảm từ 58,27 xuống 15,77 ppm. | 27,57 → 9,53 ppm (−65%) | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Như trên · 9 cảm biến | Dubey và cs., 2024 |
| b1-096 | Thuật toán hiệu chuẩn nền tự động (automatic baseline correction, ABC) của nhà sản xuất cảm biến NDIR theo dõi giá trị thấp nhất trong 8 ngày và coi đó là khoảng 400 ppm; thuật toán không hoạt động ở không gian luôn có người mà CO₂ không bao giờ xuống mức ngoài trời. | Chu kỳ 8 ngày; nền 400 ppm | Tài liệu ngành | Tài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất cảm biến · — | Senseair, 2024 |
Viết tắt trong trang
- ECG
- điện tâm đồ (electrocardiography)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- HR
- tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- SOL
- thời gian đi vào giấc ngủ (sleep onset latency)
- TST
- tổng thời gian ngủ (total sleep time)
- VOC
- hợp chất hữu cơ bay hơi (volatile organic compounds)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục A. Dữ kiện: CO₂ và thông gió. Trong: Tập 10 — Không khí phòng ngủ: CO₂ và thông gió, bụi mịn, hoá chất trong nhà và cách đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/khong-khi-phong-ngu/phu-luc-a-du-kien-b1/