giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Vật liệu

Foam PU thường (mút, "cao su non")

Foam polyurethane mềm thông thường (conventional flexible polyurethane foam), dạng khối cắt tấm (slabstock)

Cấu tạo

Foam PU mềm sinh ra từ phản ứng giữa polyol và isocyanate có mặt nước [1]. Khi trộn, hỗn hợp tạo bọt khí và nở ra. Phản ứng xong trong vài phút; khối foam được cắt, lưu kho và để ổn định đến 72 giờ [1]. Phần lớn vách ô bị vỡ, tạo cấu trúc ô hở cho khí đi qua [4]. Ở Việt Nam, tấm này hay được gọi là "mút" hoặc "cao su non". Tên "cao su non" dễ gây hiểu nhầm: vật liệu là polyurethane, không phải cao su. Biến thể thường gặp: foam thường; foam đàn hồi cao (HR), có hệ số hỗ trợ cao hơn và cấu trúc ô ngẫu nhiên hơn [4]; foam đàn hồi chậm (xem hồ sơ memory foam). Khối lượng riêng và độ cứng là hai thông số độc lập: có thể làm foam nặng mà mềm, hoặc nhẹ mà cứng [2]. Khối lượng riêng cao hơn thường cho độ đỡ và độ bền tốt hơn [2]. Bộ phương pháp thử chuẩn cho foam urethane mềm là ASTM D3574 [9]. IFD là lực (đơn vị pound) để ép một đầu ấn tròn 50 inch² lún 25 % vào mẫu dày 4 inch [4]; hệ số hỗ trợ là IFD 65 % chia IFD 25 % [2].

Chỉ số đo được

Chỉ sốKhoảngGhi chúNguồn
Hệ số hỗ trợ (support/SAG factor) 1,8–2,6 tỉ số Tỉ số IFD 65 % / IFD 25 %; dải ngành nêu cho foam PU mềm.[4]
Khối lượng riêng của foam ≥ 32 kg/m³ Từ 2,0 pcf trở lên (1 pcf ≈ 16,02 kg/m³) cho foam trong nệm, khối lượng riêng chưa tính chất độn.[3]
Độ cứng nén lõm (IFD/ILD) 22,2–355,9 N Toàn dải foam PU mềm, IFD 25 %; quy đổi 5–80 lbf × 4,448 N/lbf.[1]

Trong khí hậu nóng ẩm

Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu bình duyệt đo riêng nhiệt độ và độ ẩm vi khí hậu giường trên nệm foam PU thường trong phòng nóng ẩm. Ô hở cho khí đi qua; ngành foam coi lưu lượng khí tối thiểu 2,0 cfm là dấu hiệu ô mở đạt yêu cầu [1]. Đây là thông số của mẫu foam, không phải số đo khi có người nằm. Thử nghiệm người tiêu dùng của Hội đồng Tiêu dùng Hồng Kông (2025) xếp 2 trong 3 mẫu nệm foam ở mức tản nhiệt "phù hợp" và 1 mẫu "mát" [11]; đây là thang điểm, không có số đo gốc công bố. Phát thải: foam mới phát thải hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC) do quy trình sản xuất, và tốc độ phát thải giảm dần theo thời gian [6]. Boor và cộng sự (2014) đo mẫu foam PU và đệm polyester từ 20 nệm cũi: nệm mới phát thải VOC khoảng gấp bốn lần nệm cũ (87,1 so với 22,1 µg/m²·h), và nhiệt cơ thể làm tăng phát thải [7][8]. Chứng nhận CertiPUR-US đo phát thải sau 72 giờ trong buồng thử ở 23 ± 2 °C, 50 ± 5 % RH [5]. Phòng ngủ không điều hoà ở Việt Nam thường nóng hơn mức này; kết quả buồng thử vì vậy không đại diện trực tiếp cho phòng nóng (suy luận biên tập, dựa trên việc nhiệt làm tăng phát thải [8]). Độ bền: ở khối lượng riêng 2,0 pcf (khoảng 32 kg/m³), foam PU thường có thể mất 15–20 % độ cứng sau 75.000 chu kỳ nén theo phương pháp ASTM [3].

Thử tại nhà

1) Tính khối lượng riêng: với tấm topper hoặc gối foam tháo được vỏ, cân bằng cân sức khoẻ (cân người ôm tấm rồi trừ khối lượng người), đo dài × rộng × dày bằng thước. Lấy khối lượng (kg) chia thể tích (m³). Ví dụ: tấm 2,00 × 1,60 × 0,05 m có thể tích 0,16 m³; nếu nặng 5,6 kg thì khối lượng riêng là 35 kg/m³. So với mốc từ 2,0 pcf (khoảng 32 kg/m³) mà ngành foam nêu cho foam trong nệm [3]. Giới hạn: vỏ, keo và lớp vải làm tăng khối lượng; cân sức khoẻ kém nhạy với vật nhẹ; nệm nhiều lớp dán liền thì không tính riêng từng lớp được. 2) Độ cứng: IFD không đo được tại nhà vì cần đầu ấn chuẩn và mẫu dày 4 inch [4]. Chỉ nên so cảm giác giữa các tấm cùng độ dày. 3) Mùi: mở bao bì, để nơi thoáng vài ngày trước khi nằm. Mũi người không cảm nhận được mọi VOC, nên "hết mùi" không có nghĩa là hết phát thải (suy luận biên tập). 4) Hỏi giấy chứng nhận phát thải và đọc điều kiện thử (nhiệt độ, thời gian, kích thước buồng) [5].

Giới hạn

Chúng tôi chưa tìm được số đo bình duyệt về nhiệt độ hay độ ẩm vi khí hậu giường riêng cho nệm foam PU thường ở phòng 28–32 °C. Lời quảng cáo "foam thoáng khí, mát" thường không kèm số lưu lượng khí hay số đo trên người nằm. Khối lượng riêng không nói lên độ cứng [2]. Giới hạn của CertiPUR-US là nồng độ trong buồng thử chuẩn, không phải nồng độ trong phòng ngủ [5]. Nghiên cứu Boor 2014 dùng nệm cũi trẻ em; chúng tôi chỉ đọc qua thông cáo báo chí [8], và không suy trực tiếp ra nệm người lớn. Mốc áp lực tiếp xúc dưới 45 mmHg là cách phân loại của ngành foam [3]; một tổng quan năm 2019 kết luận các ngưỡng áp lực và căn chỉnh cột sống đề xuất cho nệm chưa đủ bằng chứng [10].

Nguồn

  1. Polyurethane Foam Association. IN•TOUCH Vol. 1, No. 1: Flexible Polyurethane Foam: a Primer (bản sửa 2016). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  2. Polyurethane Foam Association. In-Touch Vol. 1, No. 2: Density (bản sửa 2016). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  3. Polyurethane Foam Association. In-Touch Vol. 5, No. 1: Foam in Mattresses (bản sửa 2019). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  4. American Chemistry Council / ngành foam. The Furniture Industry's Guide to Today's Flexible Foam. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  5. Alliance for Flexible Polyurethane Foam. CertiPUR-US Technical Guidelines for Slabstock Foam, 2025 v1 (Mục 6 và 13a). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  6. Schupp T. Derivation of indoor air guidance values for volatile organic compounds (VOC) emitted from polyurethane flexible foam: VOC with repeated dose toxicity data. EXCLI Journal 2018;17:784–791. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  7. Boor BE, Järnström H, Novoselac A, Xu Y. Infant exposure to emissions of volatile organic compounds from crib mattresses. Environmental Science & Technology 2014;48(6):3541–3549. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
  8. University of Texas at Austin News. Crib Mattresses Emit High Rates of Potentially Harmful Chemicals, Cockrell School Engineers Find. 02/04/2014. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  9. ASTM D3574-17. Standard Test Methods for Flexible Cellular Materials—Slab, Bonded, and Molded Urethane Foams (trang mô tả). đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
  10. Wong DWC, Wang Y, Lin J, Tan Q, Chen TLW, Zhang M. Sleeping mattress determinants and evaluation: a biomechanical review and critique. PeerJ 2019;7:e6364. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  11. Consumer Council (Hồng Kông). Thông cáo báo chí: thử nghiệm 14 mẫu nệm đôi (Choice số 581), 17/03/2025. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30