giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Vật liệu

Memory foam (foam đàn hồi chậm)

Foam polyurethane đàn hồi chậm (viscoelastic polyurethane foam)

Cấu tạo

Memory foam là một loại foam PU mềm ô hở, sản xuất trên cùng dây chuyền slabstock hoặc đúc khuôn như foam thường; công thức được điều chỉnh để đổi tốc độ hồi, độ đàn hồi và độ cứng [2]. Đặc trưng là hồi chậm sau khi nén. Độ nảy bi dưới 20 %, so với 50–60 % ở các loại foam PU khác [2]. Khối lượng riêng thường 2–6 pcf (khoảng 32–96 kg/m³) [2]. Độ cứng trải từ rất mềm (dưới 10 lbf ở IFD 25 %) đến bán cứng (tới 120 lbf) [2]. Biến thể: foam trộn vật liệu chuyển pha (PCM) như sáp, dầu, axit béo, polyglycol [2]. Trên thị trường còn có memory foam pha gel hoặc than; chúng tôi chưa tìm được tài liệu đo cho các biến thể này.

Chỉ số đo được

Chỉ sốKhoảngGhi chúNguồn
Khối lượng riêng của foam 32–96,1 kg/m³ Quy đổi 2–6 pcf × 16,02 kg/m³.[2]
Nhiệt độ không khí phòng ngủ 12,8–29,4 °C Khoảng nhiệt độ hoạt động tối ưu của foam đàn hồi chậm do ngành nêu (55–85 °F); không phải nhiệt độ phòng khuyến nghị.[2]
Độ cứng nén lõm (IFD/ILD) 44,5–533,8 N IFD 25 %; từ dưới 10 lbf (dưới 44,5 N) đến 120 lbf (533,8 N).[2]

Trong khí hậu nóng ẩm

Độ mềm phụ thuộc nhiệt độ. Tài liệu ngành ghi tốc độ hồi tăng khi nóng, và foam cứng lên khi lạnh; khoảng nhiệt độ hoạt động tối ưu thường là 55–85 °F (khoảng 12,8–29,4 °C) [2]. Foam đàn hồi chậm trong nệm phản ứng với thân nhiệt và nhiệt độ phòng, mềm đi khi nóng [1]. Phòng không điều hoà ở Sài Gòn thường vượt mức trên của khoảng này; tấm nệm vì vậy có thể mềm và lún hơn lúc thử trong cửa hàng có máy lạnh (suy luận biên tập từ [2]). Tản nhiệt: trong thử nghiệm mô hình vật lý ở 37 °C có mô phỏng mồ hôi, dòng nhiệt qua foam đàn hồi chậm là 10,4 W/m², so với 33,6 W/m² qua vải spacer; khi không có luồng khí chủ động, độ ẩm tại mặt tiếp xúc giảm rất ít ở cả hai vật liệu [5]. Bối cảnh nghiên cứu này là bề mặt nằm trong chăm sóc y tế, không phải nệm gia dụng. PCM: tài liệu ngành mô tả PCM nóng chảy ở 28 °C giữ nhiệt độ foam quanh mức đó cho đến khi dùng hết khả năng hấp thụ của PCM [2]; tác dụng vì vậy có giới hạn theo thời gian. Áp lực: một nghiên cứu Hàn Quốc ghi memory foam có áp lực cơ thể trung bình thấp nhất khi nằm ngửa trong các dạng nệm được so sánh [6]; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, không có số. Phát thải: memory foam là foam PU, nên có cùng cơ chế phát thải VOC khi mới [4] và cùng bộ giới hạn CertiPUR-US [3].

Thử tại nhà

1) Ấn tay đo thời gian hồi: ấn lòng bàn tay khoảng 5 giây, nhấc ra, đếm số giây đến khi vết lõm phẳng. Thử hai lần: khi phòng mát (bật máy lạnh) và khi phòng nóng. Nếu thời gian hồi ngắn đi rõ khi nóng, tấm nhạy nhiệt. Giới hạn: tài liệu ngành không nêu số giây chuẩn [2], nên phép thử chỉ để so sánh giữa các tấm hoặc giữa hai nhiệt độ. 2) Nhiệt ẩm kế dưới lưng: đặt một nhiệt ẩm kế số mỏng dưới ga ở vùng lưng, đọc số sau khoảng 1 giờ nằm và so với nhiệt độ phòng. Một nghiên cứu ở thời tiết nóng ghi khoảng thoải mái của vi khí hậu giường là 32,8–33,6 °C [7]. Giới hạn: cảm biến rẻ phản hồi chậm, độ chính xác chưa được kiểm chứng, và lực đè của cơ thể có thể làm sai số. 3) Khối lượng riêng: cân và đo tấm topper như với foam thường, so với khoảng 32–96 kg/m³ [2].

Giới hạn

Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu bình duyệt đo nhiệt độ vi khí hậu giường trên nệm memory foam ở phòng 28–32 °C. Các quảng cáo "gel làm mát", "than tre", "mát lạnh" thường không kèm số đo; tài liệu ngành chỉ mô tả PCM có dung lượng giới hạn [2]. Con số "hấp thụ đến 90 % chấn động" là tuyên bố của nhà sản xuất, chính tài liệu ngành ghi là "claim" [2]. Số đo dòng nhiệt [5] lấy từ mô hình vật lý, không phải người ngủ. Kết quả áp lực [6] chỉ đọc ở mức tóm tắt.

Nguồn

  1. Polyurethane Foam Association. In-Touch Vol. 5, No. 1: Foam in Mattresses (bản sửa 2019). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  2. Polyurethane Foam Association. In-Touch Vol. 11, No. 1: Examining Viscoelastic Polyurethane Foam (bản sửa 2016). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  3. Alliance for Flexible Polyurethane Foam. CertiPUR-US Technical Guidelines for Slabstock Foam, 2025 v1 (Mục 6 và 13a). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  4. Schupp T. Derivation of indoor air guidance values for volatile organic compounds (VOC) emitted from polyurethane flexible foam: VOC with repeated dose toxicity data. EXCLI Journal 2018;17:784–791. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  5. Worsley P, Bader D. A modified evaluation of spacer fabric and airflow technologies for controlling microclimate at the loaded support interface. Textile Research Journal 2018. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
  6. Kim, Cheng. A Comparative Study on Body Pressure and Subjective Comfort for the Mattress Forms. Journal of the Ergonomics Society of Korea 2018;37(1):75–82. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
  7. Li X, Shen L, Califano R. The comparative study of thermal comfort and sleep quality for innovative designed mattress in hot weather. Science and Technology for the Built Environment 2020;26(5):643–657. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30