giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Chế độ ăn cấp dân số: Địa Trung Hải, đồ uống có đường, Việt Nam

Chương 8 Ban biên tập giacngungon.vn Khoảng 20 phút đọc

Trong trang này

Chương cuối của Tập 8 rời phòng thí nghiệm để hỏi một câu ở cấp dân số. Những mô hình ăn uống — chế độ ăn Địa Trung Hải, thực phẩm siêu chế biến, đường và đồ uống có đường, nước tăng lực — đi kèm giấc ngủ ra sao? Dữ liệu ở châu Á, Việt Nam có giống phương Tây không? Kết luận chính là hầu hết các mối liên quan đều có thật về mặt thống kê. Nhưng gần như toàn bộ đến từ nghiên cứu cắt ngang với giấc ngủ tự báo cáo, nên chưa nói được chiều nhân quả. Bằng chứng can thiệp cho chế độ ăn Địa Trung Hải chỉ có một thử nghiệm 5 tuần. Dữ liệu châu Á có chỗ ngược chiều phương Tây, và ở Việt Nam chúng tôi chỉ tìm được vài nghiên cứu cắt ngang hoặc bệnh–chứng, không nghiên cứu nào đo giấc ngủ khách quan.

Mô hình ăn uống ở phương Tây: Địa Trung Hải và chỉ số đường huyết#

Tổng quan hệ thống của Godos và cộng sự năm 2021 (29 nghiên cứu, chủ yếu cắt ngang) thấy thực phẩm lành mạnh đi kèm chất lượng ngủ tốt hơn. Ngược lại, thực phẩm chế biến và giàu đường tự do đi kèm giấc ngủ kém hơn. Tác giả tự đánh giá chất lượng bằng chứng là "kém đến trung bình" (poor to fair). Họ cũng viết rõ dữ liệu không cho phép kết luận nhân quả (Godos và cs., 2021).

Chế độ ăn Địa Trung Hải: gần như toàn cắt ngang#

Chế độ ăn Địa Trung Hải (Mediterranean diet) là mô hình ăn được nghiên cứu nhiều nhất về giấc ngủ. Tổng quan hệ thống của Godos và cộng sự năm 2024 gồm 23 nghiên cứu quan sát (19 cắt ngang và 4 nghiên cứu dọc nhưng được phân tích cắt ngang), cỡ mẫu từ 70 đến 22.627 người. Tuân thủ cao đi kèm giấc ngủ tốt hơn ở đa số nghiên cứu, và tổng quan không có thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) nào (Godos và cs., 2024). Giấc ngủ chủ yếu đo bằng thang tự báo cáo (PSQI, Epworth, ISI); chỉ một nghiên cứu có actigraphy. 13/23 nghiên cứu ở vùng Địa Trung Hải. Tác giả gợi ý quan hệ có thể hai chiều: người ngủ tốt có thể dễ duy trì nếp ăn có tổ chức hơn.

Tổng quan phạm vi của Scoditti và cộng sự (17 nghiên cứu dịch tễ) cho thấy rõ hơn độ mỏng của bằng chứng. Chỉ 2/17 nghiên cứu đo khách quan bằng actigraphy, không nghiên cứu nào dùng đa ký giấc ngủ (PSG), và chỉ 2/17 theo dõi dọc (Scoditti và cs., 2022). Thử nghiệm ngẫu nhiên duy nhất tìm được là ở người thừa cân/béo phì, ăn kiểu Địa Trung Hải với 500 hoặc 200 g thịt đỏ nạc/tuần trong 5 tuần. Thử nghiệm không thấy tác động có ý nghĩa lên giấc ngủ, nhưng thời gian ngắn và cỡ mẫu không đủ (Scoditti và cs., 2022).

Bên trong các nghiên cứu quan sát, mối liên quan không đồng đều giữa các nhóm người. Cùng một nghiên cứu MEAL ở Ý được hai tổng quan trích với hai con số khác nhau. Godos 2024 trích tỉ số chênh (odds ratio, OR) 1,82 (1,32–2,52) cho chất lượng ngủ tốt ở tứ phân vị tuân thủ cao nhất so với thấp nhất trên toàn mẫu (Godos và cs., 2024). Còn Scoditti 2022 trích OR 2,30 (1,49–3,54) chỉ ở người cân nặng bình thường/thừa cân. Ở người béo phì, OR 1,12 (0,33–3,79) không có ý nghĩa (Scoditti và cs., 2022). Đây không phải mâu thuẫn thực chất mà là do cách phân nhóm: con số trích lại phải đi kèm nhóm người mà nó áp dụng. Trong thuần tập Three-City ở Pháp, tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải đi kèm ít triệu chứng mất ngủ hơn chỉ ở nữ (OR 0,80; 0,64–1,00, cận trên chạm 1), ở nam thì không (OR 0,93; 0,69–1,26). Ở thuần tập HELIAD, liên quan chỉ thấy ở người từ 75 tuổi trở xuống (Scoditti và cs., 2022).

Chỉ số đường huyết và mất ngủ mới: một thuần tập lớn#

Dữ liệu tiến cứu lớn nhất trong nhóm này đến từ Women's Health Initiative (WHI). Lúc bắt đầu, nghiên cứu gồm 77.860 phụ nữ sau mãn kinh ở Mỹ (53.069 người ở lần theo dõi 3 năm). Trong đó, nhóm có chế độ ăn chỉ số đường huyết cao nhất đi kèm số chênh mất ngủ mới cao hơn 16% so với nhóm thấp nhất (OR 1,16; 1,08–1,25) (Gangwisch và cs., 2020). Đường bổ sung, tinh bột và ngũ cốc tinh chế đi kèm số chênh mất ngủ mới cao hơn; rau và trái cây nguyên quả (không phải nước ép) đi kèm số chênh thấp hơn (Gangwisch và cs., 2020). Mất ngủ được tự báo cáo, khẩu phần đo bằng bảng tần suất, và phần chúng tôi đọc không liệt kê biến hiệu chỉnh; kết quả chỉ áp dụng cho phụ nữ sau mãn kinh ở Mỹ. Ở Chương 1, kết quả này đứng cạnh hai thử nghiệm một bữa rất nhỏ (12 và 10 người) thấy bữa có chỉ số đường huyết (glycemic index, GI) cao rút ngắn thời gian vào giấc. Kết quả đó không còn ý nghĩa khi gộp trong phân tích gộp 2021. Dù vậy, tác động cấp của một bữa (đo PSG) và thói quen nhiều năm (mất ngủ tự báo cáo) là hai câu hỏi khác nhau.

Một nghiên cứu PSG nhỏ, đã đối chiếu với bài gốc#

Kết quả hay được báo chí trích về chất xơ, chất béo bão hoà, đường và cấu trúc giấc ngủ đến từ phân tích thứ cấp của St-Onge và cộng sự. Phân tích này dựa trên 26 người lớn cân nặng bình thường trong một thử nghiệm chéo nội trú. Theo bài gốc, sau một ngày ăn tự chọn, người tham gia mất nhiều thời gian hơn để đạt 10 phút ngủ đầu tiên so với đêm sau 3 ngày ăn theo thực đơn kiểm soát (p = 0,0085). Phần chúng tôi đọc không cho số phút. Thứ tự hai điều kiện ăn cố định, không hoán vị (St-Onge và cs., 2016). Trong đêm sau ngày ăn tự chọn, ăn nhiều chất xơ đi kèm nhiều giấc ngủ sóng chậm hơn. Tỉ lệ năng lượng từ chất béo bão hoà cao đi kèm ít giấc ngủ sóng chậm hơn, còn ăn nhiều đường đi kèm nhiều lần vi thức tỉnh (arousal) hơn (St-Onge và cs., 2016). Đây là tương quan trong một nghiên cứu nhỏ, một đêm. Nghiên cứu do NIH tài trợ; Almond Board of California và Cabot Cheese cung cấp thực phẩm (theo bài, không can dự). Con số phút lan truyền rộng chỉ có trong thông cáo báo chí, không đối chiếu được với bài gốc, nên chúng tôi không dùng.

Thực phẩm siêu chế biến, đồ uống có đường và nước tăng lực#

Thực phẩm siêu chế biến: một OR chủ yếu đến từ thanh thiếu niên#

Phân tích gộp của Pourmotabbed và cộng sự gồm 7 nghiên cứu định lượng (5 ở Iran, 1 ở Brazil, 1 ở Mexico), được bài mô tả là cắt ngang (một nghiên cứu có tên là bệnh–chứng). Nhóm ăn nhiều thực phẩm siêu chế biến (ultra-processed food) nhất có số chênh mất ngủ cao hơn 53% so với nhóm ăn ít nhất: OR 1,53 (1,20–1,95), I² = 62,3% (Pourmotabbed và cs., 2024). Tách theo tuổi, liên quan rõ ở thanh thiếu niên (OR 1,55; 1,21–1,99) nhưng không có ý nghĩa ở người lớn — tức con số gộp chủ yếu do các nghiên cứu ở thanh thiếu niên kéo lên (Pourmotabbed và cs., 2024). Mức chắc chắn theo GRADE là thấp; công cụ đo mất ngủ khác nhau giữa các nghiên cứu; không đánh giá được quan hệ liều–đáp ứng; không có nghiên cứu nào ở Đông Á. Ngay cỡ mẫu cũng không nhất quán trong bài: 159.427 người ở một chỗ, 107.194 ở phần GRADE. Thiết kế cắt ngang cũng không loại được chiều ngược lại.

Đường và đồ uống có đường#

Một phân tích dữ liệu NHANES 2005–2012 dùng số liệu cắt ngang của 18.779 người lớn Mỹ, với giấc ngủ tự báo cáo và đồ uống đo bằng 2 lần nhớ lại 24 giờ. Kết quả: người ngủ ≤ 5 giờ uống đồ uống có đường nhiều hơn khoảng 21% so với người ngủ 7–8 giờ (tỉ số 1,21, bài ghi là RD; KTC 95% 1,11–1,32). Con số này đã hiệu chỉnh theo nhân khẩu, sức khoẻ và tổng năng lượng (Prather và cs., 2016). Tóm tắt gốc viết rằng khi tách theo loại đồ uống, phần chênh này đến từ đồ uống có đường chứa caffeine. Chi tiết đó quan trọng: một phần liên quan giữa ngủ ngắn và đồ uống có đường có thể là liên quan với caffeine (đã bàn ở Tập 4). Chiều liên quan cũng có thể đi cả hai hướng: uống caffeine làm ngủ ít, hay ngủ ít rồi uống để tỉnh SL. Một con số cho nhóm ngủ 6 giờ chỉ có trong thông cáo của trường, không có trong tóm tắt gốc, nên chúng tôi không dùng.

Phân tích gộp của Shahdadian và cộng sự gồm 22 nghiên cứu ở trẻ em và 12 ở người lớn trong tổng quan, toàn bộ là cắt ngang. Phân tích thấy trẻ ngủ ngắn có số chênh ăn đường cao hơn 16% (OR 1,16; 1,10–1,21) và uống soda cao hơn 21% (OR 1,21; 1,16–1,26). Với nước ngọt nói chung (soft drink), OR 1,17 (0,93–1,48) không có ý nghĩa (Shahdadian và cs., 2023).

Nước tăng lực#

Trong cùng phân tích gộp, ngủ ngắn đi kèm số chênh uống nước tăng lực cao hơn 92% ở trẻ em (OR 1,92; 1,66–2,22) và 58% ở người lớn (OR 1,58; 1,31–1,90) (Shahdadian và cs., 2023). Khảo sát quốc gia sinh viên Na Uy (SHOT2022) gồm 53.226 sinh viên 18–35 tuổi, tỉ lệ trả lời 35,1%, do Bộ Giáo dục và Nghiên cứu cùng Bộ Y tế và Chăm sóc Na Uy tài trợ. Trong khảo sát, người uống nước tăng lực hằng ngày ngủ ít hơn khoảng 30 phút so với người hiếm khi hoặc không uống. Ở nữ, con số là 7 giờ 10 phút so với 7 giờ 39 phút; ở nam là 7 giờ 06 phút so với 7 giờ 39 phút (Kaldenbach và cs., 2024). Tỉ lệ mất ngủ theo tiêu chí DSM-5 ở nhóm uống hằng ngày cao hơn rõ (nữ 51% so với 33%, nam 37% so với 22%). Nguy cơ ngủ dưới 6 giờ cũng gần gấp đôi (nam RR 2,07; nữ RR 1,87) (Kaldenbach và cs., 2024). Nhưng chỉ 4,7% nam và 3,3% nữ uống hằng ngày, mô hình chỉ hiệu chỉnh theo tuổi, và tác giả tự nêu chưa xét vận động, thời gian màn hình, căng thẳng, trầm cảm, rượu.

Châu Á và Việt Nam: dữ liệu không phải lúc nào cũng cùng chiều với phương Tây#

Trung Quốc và Đài Loan: đồ uống có đường, rau quả#

Khảo sát quốc gia Trung Quốc năm 2013 (62.517 trẻ 6–17 tuổi, giờ ngủ do cha mẹ hoặc trẻ báo cáo) thấy trẻ ngủ dưới 7 giờ có số chênh uống đồ uống có đường cao hơn (OR 1,29; 1,19–1,40). Nhóm này cũng ăn rau (OR 0,94) và trái cây (OR 0,94) ít hơn một chút (Cao và cs., 2019). Tỉ lệ ngủ dưới 7 giờ tăng mạnh theo tuổi: 7,5% ở nhóm 6–12 tuổi, 37,1% ở nhóm 13–17 tuổi (Cao và cs., 2019). Một nghiên cứu cắt ngang ở học sinh tiểu học Đài Loan khảo sát 2.628 trẻ 6–12 tuổi, dùng giấc ngủ tự báo cáo và nhận tài trợ của NHRI cùng Bộ Y tế và Phúc lợi Đài Loan. Trong nghiên cứu, nhóm uống đồ uống có đường nhiều có số chênh ngủ dưới 8,5 giờ ngày đi học cao hơn (OR 1,67; 1,23–2,26). Odds "nợ ngủ" từ 2 giờ trở lên cũng cao hơn (OR 1,41) (Shih và cs., 2022). Theo dõi dọc China Health and Nutrition Survey (10.495 người lớn), quỹ đạo tăng nhanh của chế độ ăn "hiện đại" (đồ chiên, sữa, bánh, đồ ăn nhanh) đi kèm thời lượng ngủ ngắn nhất (β = −0,26 giờ). Còn chế độ ăn "truyền thống" (cơm, thịt lợn, cá, rau) không liên quan với giấc ngủ (Cao và cs., 2020).

Hàn Quốc: ngược chiều phương Tây#

Dữ liệu thực nghiệm và quan sát phương Tây (Chương 7) cho thấy ngủ ngắn đi kèm ăn nhiều chất béo hơn (Al Khatib và cs., 2017; Dashti và cs., 2015). Khảo sát quốc gia Hàn Quốc KNHANES 2023 (5.491 người lớn, cắt ngang, giấc ngủ tự báo cáo) lại cho chiều ngược. Ở nam, người ngủ ≥ 8 giờ ăn nhiều đạm hơn (79,13 so với 73,18 g) và nhiều chất béo hơn (55,20 so với 50,89 g) người ngủ dưới 8 giờ. Lượng carbohydrate gần như bằng nhau (285,86 so với 285,53 g; p = 0,944), và nữ có xu hướng tương tự (Lee và Lim, 2025). Nguyên nhân khả dĩ: nền ẩm thực khác (khẩu phần nhiều cơm), cách chia nhóm ngủ (≥ 8 so với <8 giờ, không phải "ngủ ngắn" theo định nghĩa phương Tây), dữ liệu cắt ngang tự báo cáo, và không hiệu chỉnh tổng năng lượng. Một mối liên quan tìm thấy ở Mỹ hay châu Âu không tự động đúng ở dân số ăn cơm SL.

Nhật Bản: bữa sáng gắn với giờ dậy, không với thời lượng ngủ#

Một nghiên cứu cắt ngang khảo sát 2.969 học sinh trung học phổ thông Kyoto và đo giấc ngủ bằng nhật ký tới 8 ngày cùng PSQI và thang buồn ngủ PDSS. Trong nghiên cứu, bỏ bữa sáng đi kèm giờ thức dậy rõ hơn nhiều so với thời lượng ngủ. Người dậy sau 8:00 có số chênh bỏ bữa sáng cao hơn khoảng 9 lần so với dậy trước 6:00 (aOR 9,43; 6,62–13,45). Trong khi đó, các nhóm thời lượng ngủ không có ý nghĩa (aOR 0,80–1,07) (Nagao và cs., 2025). Chất lượng ngủ kém (PSQI ≥ 6: aOR 1,39) và buồn ngủ ban ngày (aOR 1,46) cũng đi kèm bỏ bữa sáng (Nagao và cs., 2025). Ở Hàn Quốc, khảo sát cộng đồng 173.272 người lớn cũng thấy bỏ bữa sáng đi kèm thời điểm giữa giấc ngủ muộn hơn và PSQI kém hơn, dù tóm tắt không nêu OR (Jung và Lee, 2024). Hai kết quả gợi ý rằng "bỏ bữa sáng" trong dữ liệu dân số phần lớn là dấu vết của lịch ngủ muộn, không phải một yếu tố dinh dưỡng độc lập SL.

Các nghiên cứu Nhật khác cho tín hiệu nhỏ, đa chiều. Ở 4.435 người lao động trung niên không làm ca, khẩu phần đạm cao (≥ 19% năng lượng) đi kèm khó duy trì giấc ngủ (OR 1,40), còn đạm thấp (< 16%) đi kèm chất lượng ngủ kém (OR 1,24) (Tanaka và cs., 2013). Ở 3.129 phụ nữ đi làm, chất lượng ngủ kém (PSQI) đi kèm ăn ít rau và cá, nhiều bánh kẹo và mì, cùng bỏ bữa sáng và ăn không đều bữa (Katagiri và cs., 2014).

Việt Nam: chiều liên quan, chưa có số đo khách quan#

Ở Việt Nam, chúng tôi chỉ tìm được nghiên cứu cắt ngang hoặc bệnh–chứng, giấc ngủ đều tự báo cáo hoặc đo bằng PSQI.

Nghiên cứuQuần thểThiết kếĐo giấc ngủĐiều chúng tôi thuật lại
Pham và cs., 2019821 học sinh lớp 6 nội thành Hà NộiCắt ngangBảng hỏi, không rõ người trả lờiNgủ dài hơn đi kèm số chênh thừa cân/béo phì thấp hơn
Viện Dinh dưỡng Quốc giaTrẻ 4–5 tuổi mầm non nội thành TP. Hồ Chí MinhHai khảo sát cắt ngangCha mẹ báo cáoNgủ đêm dài hơn đi kèm thừa cân/béo phì ít hơn
Nguyễn Thành Nam và cs., 20251.440 học sinh THCS Tiền GiangBệnh–chứngTự báo cáoNgủ dưới 8 giờ đi kèm số chênh béo phì cao hơn
Lâm Minh Quang và cs., 2026364 sinh viên Y học dự phòng TP. Hồ Chí MinhCắt ngangPSQINgủ kém đi kèm bỏ bữa sáng nhiều hơn
Trần Danh Tiến Thịnh và cs., 2024737 học sinh THPT Đà NẵngCắt ngangPSQI47,5% ngủ kém
Cao Thị Thu Hà và cs., 20261.209 người trẻ, khảo sát trực tuyếnCắt ngangPSQI53,3% có điểm PSQI >5

Ở học sinh lớp 6 (11–12 tuổi) nội thành Hà Nội năm 2014, tỉ lệ thừa cân là 17,1% và béo phì 19,1% (Pham và cs., 2019). Trong nghiên cứu cắt ngang này, ngủ trên khoảng 8 giờ/ngày (so với nhóm ngủ khoảng 8 giờ trở xuống) đi kèm số chênh thừa cân/béo phì thấp hơn. Bài công bố hai tỉ số chênh cho hai nhóm giờ ngủ, nhưng tóm tắt và phần kết quả gán chúng cho hai nhóm ngược nhau và định nghĩa nhóm tham chiếu khác nhau. Vì vậy, chúng tôi chỉ thuật lại chiều liên quan, không gán số cho nhóm nào (Pham và cs., 2019). Mô hình chỉ hiệu chỉnh theo giới. Ở trẻ mầm non nội thành TP. Hồ Chí Minh, tỉ lệ thừa cân/béo phì tăng từ 21,4% năm 2002 lên 36,8% năm 2005. Số giờ ngủ đêm liên quan có ý nghĩa với thừa cân/béo phì (p < 0,05). Tuy vậy, trang của Viện không ghi tác giả, năm công bố hay cỡ hiệu ứng (Viện Dinh dưỡng Quốc gia).

Nghiên cứu bệnh–chứng ở Tiền Giang gồm 720 học sinh THCS béo phì và 720 học sinh cân nặng bình thường. Nghiên cứu thấy ngủ dưới 8 giờ/đêm đi kèm số chênh béo phì cao hơn, bên cạnh ăn sáng không đủ và ăn ngoài thường xuyên (Nguyễn Thành Nam và cs., 2025). Tóm tắt có nêu tỉ số chênh nhưng không kèm khoảng tin cậy và không nêu tiêu chuẩn béo phì, nên ở đây chúng tôi chỉ thuật lại chiều liên quan. Ở sinh viên Y học dự phòng TP. Hồ Chí Minh, 57,1% có bỏ bữa sáng. Sinh viên ngủ kém theo PSQI có tỉ lệ bỏ bữa sáng cao hơn khoảng 1,24 lần (tỉ số tỉ lệ hiện mắc PR 1,24; khoảng tin cậy không có trong phần chúng tôi đọc) (Lâm Minh Quang và cs., 2026). Kết quả này cùng chiều với dữ liệu Nhật và Hàn ở trên.

Hai nghiên cứu không đo ăn uống nhưng cho số liệu nền về giấc ngủ của người trẻ. Ở 737 học sinh 15–17 tuổi một trường THPT tại Đà Nẵng, 47,5% có chất lượng ngủ kém theo PSQI, điểm trung bình tăng từ 5,5 ở lớp 10 lên 6,4 ở lớp 12 (Trần Danh Tiến Thịnh và cs., 2024). Một khảo sát trực tuyến năm 2025 (1.209 người trẻ) thấy 53,3% có điểm PSQI trên 5, với 61,0% ở nhóm 15–18 tuổi so với 52,3% ở nhóm 19–25 tuổi (p = 0,051) (Cao Thị Thu Hà và cs., 2026). Mẫu trực tuyến tự chọn nên không đại diện. PSQI vượt ngưỡng là chất lượng ngủ kém tự báo cáo, không phải chẩn đoán.

Hướng dẫn chính thức nói gì#

Các hướng dẫn chính thức trong dữ kiện chỉ nói về thời lượng ngủ, không về ăn uống; chúng tôi thuật lại đúng câu của chúng.

Đồng thuận của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) và Hội Nghiên cứu Giấc ngủ (Sleep Research Society, SRS) được xây dựng theo RAND Appropriateness Method sửa đổi. Văn bản viết: "Adults should sleep 7 or more hours per night on a regular basis to promote optimal health". Nghĩa là người lớn nên ngủ từ 7 giờ trở lên mỗi đêm một cách đều đặn để có sức khoẻ tối ưu (Watson và cs., 2015). Văn bản nêu ngủ dưới 7 giờ thường xuyên đi kèm tăng cân và béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim, đột quỵ, trầm cảm và tăng nguy cơ tử vong. Với ngủ hơn 9 giờ thường xuyên, đồng thuận cho rằng có thể phù hợp với người trẻ và một số trường hợp khác, còn với người khác thì ghi là "chưa chắc chắn" (uncertain) (Watson và cs., 2015). Trong khi đó, phân tích gộp quan sát ở Chương 7 thấy ngủ dài cũng đi kèm nguy cơ đái tháo đường type 2 cao hơn. Cụ thể, RR là 1,14 mỗi giờ thêm trên 7 giờ, và RR 1,48 cho >8–9 giờ (Shan và cs., 2015; Cappuccio và cs., 2010). Lưu ý rằng ngưỡng ở đây thấp hơn ngưỡng 9 giờ của đồng thuận. Một cách đọc khả dĩ cho chữ "chưa chắc chắn" là liên quan ở đầu ngủ dài có thể phản ánh bệnh sẵn có hay trầm cảm SL.

Hướng dẫnNhóm tuổiThời lượng khuyến nghị (giờ/24 giờ)
WHO 2019 (trẻ dưới 5 tuổi, kể cả ngủ trưa)0–3 tháng14–17
WHO 20194–11 tháng12–16
WHO 20191–2 tuổi11–14
WHO 20193–4 tuổi10–13
AASM nhi khoa 20164–12 tháng12–16
AASM nhi khoa 20161–2 tuổi11–14
AASM nhi khoa 20163–5 tuổi10–13
AASM nhi khoa 20166–12 tuổi9–12
AASM nhi khoa 201613–18 tuổi8–10
AASM/SRS 2015Người lớn≥7 mỗi đêm

Đồng thuận nhi khoa AASM (13 tác giả) khuyến nghị số giờ ngủ theo tuổi và viết rằng ngủ không đủ làm tăng nguy cơ béo phì và đái tháo đường, cùng tai nạn, chấn thương, tăng huyết áp, trầm cảm (Paruthi và cs., 2016). Như Chương 7 đã trình bày, cách nói này mạnh hơn mức dữ liệu can thiệp ở trẻ hiện cho phép. Hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2019 cho trẻ dưới 5 tuổi khuyến nghị số giờ ngủ theo tuổi. Văn bản ghi việc xây dựng hướng dẫn xuất phát từ khuyến nghị của Uỷ ban Chấm dứt béo phì trẻ em. Tuy vậy, trong văn bản hướng dẫn, chúng tôi không tìm thấy câu nào nối trực tiếp giấc ngủ với béo phì (WHO, 2019). Chúng tôi cũng chưa tìm được khuyến nghị dinh dưỡng chính thức nào của WHO hay Bộ Y tế Việt Nam có câu nói rõ về giấc ngủ.

Điều Tập 8 kết luận được và không kết luận được#

Phần này không thêm dữ kiện mới; nó xếp những gì cả tập đã đo thành ba nhóm theo mức chắc chắn.

Kết luận được, với mức chắc chắn vừa phải. Chiều từ giấc ngủ sang ăn uống là chiều có bằng chứng thực nghiệm tốt nhất trong cả tập. Trong thí nghiệm ngắn ngày, hạn chế giấc ngủ đi kèm ăn thêm một lượng năng lượng nằm trong một khoảng chứ không phải một con số cố định. Phần ăn thêm chủ yếu rơi vào giờ thức khuya, và cảm giác đói tăng nhất quán hơn hormone (Chương 7). Ở cấp dân số, ngủ ngắn đi kèm béo phì và đái tháo đường type 2 trong rất nhiều nghiên cứu quan sát — miễn là đọc đó là "đi kèm".

Có tín hiệu nhưng chưa kết luận được. Chiều từ ăn uống sang giấc ngủ — chủ đề của phần lớn các chương trước — có nhiều tín hiệu nhưng ít kết luận vững. Các mâu thuẫn lặp lại theo cùng một mẫu:

  • Một bữa so với một thói quen. Bữa GI cao rút ngắn thời gian vào giấc trong hai thử nghiệm một đêm 10–12 người (không còn ý nghĩa khi gộp). Trong khi đó, khẩu phần GI cao kéo dài nhiều năm đi kèm mất ngủ mới nhiều hơn. Tương tự với chất béo, protein và giờ ăn tối. Kết quả đổi chiều theo thang đo (PSG so với tự báo cáo), thời gian (một đêm so với nhiều tuần) và thiết kế (quan sát so với can thiệp), chứ không theo một mẫu duy nhất.
  • Thiết kế quyết định kết quả. Với kiwi, anh đào chua và một số thảo dược, các con số ấn tượng nhất đến từ thử nghiệm không có nhóm chứng hoặc rất nhỏ. Các thử nghiệm có nhóm chứng và đo khách quan thường cho kết quả nhỏ hơn hoặc trung tính. Với magnesium và vitamin D, liên quan quan sát mạnh hơn bằng chứng can thiệp.
  • Cách đo. PSQI, nhật ký, actigraphy và PSG đưa ra những câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi, như với thời lượng ngủ trong tháng nhịn ăn Ramadan.
  • Ai tài trợ, ai trích lại. Nhiều thử nghiệm thực phẩm có tài trợ hoặc sản phẩm từ ngành. Có tổng quan thuật lại một xu hướng không có ý nghĩa thành kết quả, có thông cáo đưa ra con số không có trong bài gốc. Trong chương này, hai kết quả như vậy (St-Onge 2016, Prather 2016) được thuật lại theo bài gốc, không theo thông cáo.

Chưa kết luận được. Không có dữ kiện nào trong tập cho phép xếp hạng thực phẩm "tốt cho giấc ngủ", hay nói rằng thay đổi chế độ ăn sẽ làm thay đổi giấc ngủ đo khách quan ở người bình thường trong dài hạn. Chế độ ăn Địa Trung Hải chỉ có một RCT 5 tuần, và thực phẩm siêu chế biến có GRADE thấp. Kéo dài giấc ngủ để giảm năng lượng nạp vào mới được đo trong 2 tuần. Ở trẻ em, can thiệp có thành phần giấc ngủ chưa thấy hiệu quả trên chỉ số khối cơ thể (body mass index, BMI). Dữ liệu châu Á có chỗ ngược chiều phương Tây (KNHANES), và ở Việt Nam không có nghiên cứu nào đo giấc ngủ khách quan kèm khẩu phần. Vì vậy, cách đọc phù hợp nhất cho cả tập là: dinh dưỡng và giấc ngủ có liên quan với nhau theo cả hai chiều, nhưng chiều được đo chắc nhất là giấc ngủ ảnh hưởng đến cách ăn, chứ không phải ngược lại SL.

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được số liệu nào về giấc ngủ (thời lượng, giờ ngủ, ăn đêm, bữa tối) trong Tổng điều tra Dinh dưỡng 2019–2020 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia.
  • Chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ khách quan (actigraphy, PSG) kèm khẩu phần; mọi nghiên cứu Việt Nam thu được đều cắt ngang hoặc bệnh–chứng, giấc ngủ tự báo cáo hoặc PSQI.
  • Chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào về giờ ăn tối, ăn khuya, đồ uống có đường hay nước tăng lực liên quan trực tiếp với giấc ngủ ở người lớn. Một nghiên cứu bệnh–chứng ở Hà Nội về thói quen ăn và thừa cân không đo giấc ngủ.
  • Chúng tôi chưa tìm được khuyến nghị dinh dưỡng chính thức nào của WHO hoặc Bộ Y tế Việt Nam có câu nói rõ về giấc ngủ.
  • Bằng chứng can thiệp về chế độ ăn Địa Trung Hải và giấc ngủ chỉ có 1 RCT 5 tuần, cỡ mẫu không đủ; chưa có thử nghiệm nào đo bằng PSG.
  • Với thực phẩm siêu chế biến, chưa có nghiên cứu nào ở Đông Á trong phân tích gộp, và chưa đánh giá được quan hệ liều–đáp ứng.

Viết tắt trong trang

BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
GI
chỉ số đường huyết (glycemic index)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
RR
nguy cơ tương đối (relative risk)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Chế độ ăn cấp dân số: Địa Trung Hải, đồ uống có đường, Việt Nam. Trong: Tập 8 — Dinh dưỡng và giấc ngủ: bữa ăn, vi chất, thực phẩm chức năng và chiều ngược lại. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/dinh-duong-va-giac-ngu/che-do-an-dan-so-va-viet-nam/