giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục A. Dữ kiện: thành phần và giờ ăn

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn Khoảng 44 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 85 dữ kiện của nhánh Thành phần bữa ăn và thời điểm ăn đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, loài, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay mô hình. Mã dữ kiện (vd b1-001) dùng để đối chiếu khi cần sửa.

Carbohydrate, chỉ số đường huyết và cơm#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-001Bữa tối giàu carbohydrate có chỉ số đường huyết (glycemic index, GI) cao, ăn 4 giờ trước giờ ngủ, đi kèm thời gian vào giấc (sleep onset latency, SOL) ngắn hơn so với bữa GI thấp cùng năng lượng, trong một thử nghiệm nhỏ ở nam giới khoẻ.SOL 9,0 ± 6,2 phút (GI cao, 4 giờ trước ngủ) so với 17,5 ± 6,2 phút (GI thấp); P = 0,009. Không thấy khác biệt ở các biến giấc ngủ khác.NgườiThử nghiệm ngẫu nhiên trong cùng đối tượng (within-subject), 3 đêm thử cách nhau 1 tuần sau 1 đêm làm quen; bữa cơm GI cao (gạo Jasmine, GI = 109) hoặc GI thấp (gạo Mahatma, GI = 50) cùng năng lượng; giấc ngủ đo bằng PSG (theo tóm tắt luận án của tác giả chính, Afaghi 2008, Đại học Sydney). · n = 12 nam giới khoẻ, 18–35 tuổiAfaghi và cs., 2007 (tóm tắt)
b1-004Trong một thử nghiệm chéo nội trú khác, tỉ lệ năng lượng từ đường và từ carbohydrate không phải chất xơ cao hơn đi kèm nhiều lần thức giấc ngắn (arousal) hơn trong đêm.% năng lượng từ đường: P = 0,0320; carbohydrate không xơ khác: P = 0,0481 (liên quan với nhiều arousal hơn).NgườiHồi quy trong thử nghiệm chéo nội trú; pha ngủ thường lệ. · n = 26St-Onge và cs., 2016
b1-006Ở công nhân văn phòng Nhật Bản, lượng cơm ăn vào cao hơn đi kèm tỉ lệ ngủ kém (theo PSQI) thấp hơn, sau hiệu chỉnh nhiều yếu tố.OR ngủ kém theo ngũ phân vị cơm (so với thấp nhất): 0,68 (0,49–0,93); 0,61 (0,43–0,85); 0,59 (0,42–0,85); 0,54 (0,37–0,81); P xu hướng = 0,015.NgườiNghiên cứu quan sát tại nơi làm việc (khẩu phần đo năm 2003 bằng bảng hỏi, giấc ngủ đo năm 2004); giấc ngủ đo bằng PSQI bản tiếng Nhật (PSQI-J), ngủ kém = điểm > 5,5; hiệu chỉnh tuổi, giới, BMI, hút thuốc, vận động, rượu, tần suất ăn sáng, lượng hai loại tinh bột còn lại. · n = 1.848 công nhân văn phòng làm ca ngày (1.164 nam, 684 nữ), 20–60 tuổi, tỉnh Toyama, Nhật BảnYoneyama và cs., 2014
b1-007Trong cùng nghiên cứu Nhật Bản, lượng mì ăn vào cao nhất đi kèm tỉ lệ ngủ kém (PSQI) cao hơn; bánh mì không có liên quan có ý nghĩa.OR ngủ kém theo ngũ phân vị mì: 1,25 (0,90–1,74); 1,05 (0,75–1,47); 1,31 (0,94–1,82); 1,82 (1,31–2,51); P xu hướng = 0,002. Bánh mì: không có ý nghĩa.NgườiNhư trên; PSQI-J. · n = 1.848, Nhật BảnYoneyama và cs., 2014
b1-008Phân tích gộp các thử nghiệm dùng đo khách quan cho thấy chế độ/bữa ăn nhiều carbohydrate đi kèm giai đoạn REM dài hơn so với ít carbohydrate.Thời lượng REM: ES = −0,38 (I² = 0%; P < 0,001); tỉ lệ REM: ES = −0,46 (KTC 95% −0,83 đến −0,01). Dấu âm nghĩa là nghiêng về nhóm nhiều carbohydrate.Tổng quanTổng quan hệ thống + phân tích gộp + hồi quy gộp: 11 bài, 27 thử nghiệm dinh dưỡng, 16 bộ so sánh (11 về lượng, 5 về chất lượng carbohydrate); chỉ nhận đo khách quan (phần lớn PSG/EEG, 3 nghiên cứu actigraphy). · 179 người tham gia (59 nam, 6 nữ, 114 không tách giới)Vlahoyiannis và cs., 2021
b1-009Trong cùng phân tích gộp, chế độ/bữa ít carbohydrate đi kèm nhiều N3 (giấc ngủ sóng chậm) hơn so với nhiều carbohydrate.Thời lượng N3: ES = 0,37 (KTC 95% 0,18–0,56; I² = 0%; P < 0,001); tỉ lệ N3: ES = 0,51 (0,33–0,69).Tổng quanNhư trên; đo khách quan (PSG/EEG, actigraphy). · 179 ngườiVlahoyiannis và cs., 2021
b1-010Gộp các thử nghiệm, lượng carbohydrate cao hay thấp không tạo khác biệt có ý nghĩa về thời gian vào giấc hay tổng thời gian ngủ; chất lượng carbohydrate (GI cao/thấp) cũng không khác biệt có ý nghĩa ở thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ, thời gian vào giấc.SOL và TST: không khác biệt có ý nghĩa (SOL không đồng nhất lớn). GI/GL: không khác biệt ở TST, hiệu quả ngủ, SOL, WASO, tỉ lệ các giai đoạn.Tổng quanNhư trên; 5 bộ so sánh về chất lượng carbohydrate (GI/GL). · 179 ngườiVlahoyiannis và cs., 2021
b1-011Trong cùng phân tích gộp, hồi quy gộp cho thấy mức thay đổi tỉ lệ năng lượng từ carbohydrate giải thích một phần khác biệt về thời gian vào giấc giữa các thử nghiệm; bài không nêu rõ chiều của liên quan (vào giấc dài hơn hay ngắn hơn).Hệ số = 0,007 (SE 0,003; KTC 95% 0,0003–0,014; P = 0,018; R² hiệu chỉnh 25,87).Tổng quanHồi quy gộp (meta-regression) theo % năng lượng từ carbohydrate. · 11 bộ so sánh về lượngVlahoyiannis và cs., 2021
b1-032Theo tổng quan Binks 2020, một nghiên cứu cho thấy bữa nhiều carbohydrate 4 giờ trước ngủ không làm thay đổi thời gian vào giấc so với bữa nhiều chất béo, nhưng giảm thời gian N3 trong chu kỳ ngủ đầu.SOL: không khác; N3 chu kỳ đầu: giảm (tổng quan không nêu số cụ thể).Tổng quanTổng quan tường thuật, dẫn một thử nghiệm (tài liệu tham khảo số 51 của tổng quan). · Không ghi trong phần đã đọcBinks và cs., 2020
b1-047Ở nam thanh niên tập luyện, bữa cơm GI cao sau buổi tập tối đi kèm tổng thời gian ngủ dài hơn, hiệu quả giấc ngủ cao hơn và thời gian thức sau khi ngủ ít hơn so với bữa GI thấp, đo bằng PSG.TST 426,0 ± 71,7 so với 363,6 ± 49,0 phút (P = 0,019); hiệu quả 89,0 ± 4,3% so với 80,9 ± 10,6% (P = 0,049); WASO 47,4 ± 21,7 so với 80,3 ± 43,6 phút (P = 0,034).NgườiRCT chéo, mù đôi, cân bằng thứ tự; tập luyện cường độ cao ngắt quãng buổi tối (~18:00), ăn ngay bữa cơm GI cao (gạo Jasmine) hoặc GI thấp (gạo đồ) kèm rau, ~2 g carbohydrate/kg; tải đường huyết ~170 so với ~81; đo PSG di động cả đêm tại nhà, bắt đầu ~2 giờ sau bữa, chấm theo AASM. · n = 10 nam tập luyện giải trí, 23,2 ± 1,8 tuổi, SípVlahoyiannis và cs., 2018
b1-048Trong cùng thử nghiệm, thời gian vào giấc ngắn hơn sau bữa GI cao (kết quả có được sau khi loại một giá trị ngoại lai), còn tỉ lệ N3 và REM không khác.SOL 5,7 ± 1,9 so với 24,6 ± 8,1 phút (P = 0,026); N3 20,8% so với 22,7% (P = 0,495); REM 28,6% so với 28,8% (P = 0,959).NgườiRCT chéo, mù đôi, cân bằng thứ tự; tập luyện cường độ cao ngắt quãng buổi tối (~18:00), ăn ngay bữa cơm GI cao (gạo Jasmine) hoặc GI thấp (gạo đồ) kèm rau, ~2 g carbohydrate/kg; tải đường huyết ~170 so với ~81; đo PSG di động cả đêm tại nhà, bắt đầu ~2 giờ sau bữa, chấm theo AASM. · n = 10 nam tập luyện giải trí, 23,2 ± 1,8 tuổi, SípVlahoyiannis và cs., 2018
b1-049Ở trẻ 8–12 tuổi, đồ uống sữa GI cao 1 giờ trước giờ ngủ đi kèm chỉ số arousal nửa đầu đêm cao hơn so với đồ uống GI thấp; thời gian vào giấc, độ trễ REM, tổng thời gian ngủ không khác.Chỉ số arousal tổng nửa đầu đêm 12,9 ± 4,6 so với 9,9 ± 2,2 (P = 0,03); chỉ số arousal NREM 12,7 ± 4,8 so với 9,6 ± 2,3 (P = 0,05 trong tóm tắt, 0,04 trong kết quả).NgườiSo sánh ngẫu nhiên trong cùng đối tượng, 1 đêm làm quen + 2 đêm thử; GI cao: 200 ml sữa ít béo + 50 g glucose (tải đường huyết 52,8); GI thấp: 200 ml sữa nguyên kem + 50 g mật ong GI thấp (tải 7,4); bữa mì spaghetti chuẩn 4 giờ trước ngủ; PSG đầy đủ, chấm mù theo Rechtschaffen & Kales. · n = 8 trẻ 8–12 tuổi (4 gái, 4 trai)Jalilolghadr và cs., 2011
b1-079Trong dữ liệu Women's Health Initiative ở phụ nữ sau mãn kinh Hoa Kỳ, khẩu phần có GI cao hơn (đặc biệt từ đường bổ sung và ngũ cốc tinh chế) đi kèm nguy cơ xuất hiện mất ngủ cao hơn; ăn nhiều rau và trái cây nguyên quả đi kèm nguy cơ thấp hơn.GI ngũ phân vị cao nhất so với thấp nhất: mất ngủ mới mắc sau 3 năm OR 1,16 (KTC 95% 1,08–1,25; P xu hướng < 0,0001); mất ngủ hiện mắc lúc ban đầu OR 1,11 (1,05–1,16). Đường bổ sung, tinh bột, ngũ cốc không nguyên hạt đi kèm OR mất ngủ mới mắc cao hơn; rau và trái cây nguyên quả (không phải nước ép) đi kèm OR thấp hơn (tóm tắt không nêu số).NgườiThuần tập tiến cứu (Women's Health Initiative Observational Study), phân tích cắt ngang lúc ban đầu (1994–1998) và dọc sau 3 năm (1997–2001); khẩu phần tự báo cáo bằng bảng hỏi tần suất; mất ngủ tự báo cáo (công cụ cụ thể không nêu trong tóm tắt đã đọc). · 77.860 phụ nữ sau mãn kinh lúc ban đầu; 53.069 người trong phân tích dọc, Hoa KỳGangwisch và cs., 2020 (tóm tắt)
b1-081Ở nhân viên trung niên Nhật Bản, tỉ lệ năng lượng từ carbohydrate thấp (< 50%) đi kèm khó duy trì giấc ngủ nhưng khoảng tin cậy chạm 1 (chưa chắc chắn).DMS OR 1,19 (KTC 95% 0,97–1,45).NgườiCắt ngang; khẩu phần đo bằng bảng hỏi lịch sử ăn uống rút gọn (BDHQ, 58 thực phẩm, 1 tháng); triệu chứng mất ngủ tự báo cáo: khó vào giấc (DIS), khó duy trì giấc ngủ (DMS), chất lượng ngủ kém (PQS); hồi quy logistic hiệu chỉnh yếu tố nhân khẩu, tâm lý, hành vi, tiền sử bệnh. · n = 4.435 nhân viên trung niên không làm ca, Nhật BảnTanaka và cs., 2013 (tóm tắt)

Giờ ăn, bữa tối muộn và ăn đêm#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-002Trong cùng thử nghiệm Afaghi 2007, bữa GI cao ăn 4 giờ trước giờ ngủ đi kèm thời gian vào giấc ngắn hơn so với cùng bữa đó ăn 1 giờ trước giờ ngủ.SOL 9,0 ± 6,2 phút (4 giờ trước ngủ) so với 14,6 ± 9,9 phút (1 giờ trước ngủ); P = 0,01.NgườiThử nghiệm ngẫu nhiên trong cùng đối tượng, 3 đêm thử; giấc ngủ đo bằng PSG (theo luận án Afaghi 2008). · n = 12 nam giới khoẻ, 18–35 tuổiAfaghi và cs., 2007 (tóm tắt)
b1-020Ở người trưởng thành khoẻ tại Brazil, lượng chất béo ăn vào ban đêm cao hơn đi kèm hiệu quả giấc ngủ thấp hơn, độ trễ REM dài hơn, tỉ lệ REM thấp hơn và thời gian thức sau khi ngủ (WASO) nhiều hơn, đo bằng PSG.Hiệu quả giấc ngủ β = −0,17 (P = 0,004); độ trễ REM β = 1,25 (P = 0,001); %REM β = −0,12 (P = 0,002); WASO β = 0,55 (P = 0,01); thời gian vào giấc β = 0,21 (P = 0,07, không ý nghĩa).NgườiNghiên cứu quan sát tương quan; khẩu phần ghi nhật ký 3 ngày; giấc ngủ đo bằng 2 đêm PSG (EMBLA S7000); hồi quy hiệu chỉnh tuổi, giới, BMI, tình trạng kinh tế–xã hội. · n = 52 người khoẻ 19–45 tuổi (27 nữ, 25 nam), BrazilCrispim và cs., 2011
b1-021Trong cùng nghiên cứu, ở nữ, tỉ lệ năng lượng ăn vào ban đêm cao hơn đi kèm thời gian vào giấc dài hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn (PSG).Thời gian vào giấc: r = 0,67 (P < 0,001); hiệu quả giấc ngủ: r = −0,51 (P = 0,007).NgườiNhư trên; tương quan đơn biến ở nhóm nữ; PSG. · Nhóm nữ (bài ghi n = 15 cho phân tích này trong phần hình; tổng số nữ được tuyển là 27)Crispim và cs., 2011
b1-022Ăn bữa tối lúc 22:00 (1 giờ trước giờ ngủ) so với 18:00 không làm thay đổi tổng thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ, thời gian vào giấc hay cấu trúc giấc ngủ đo bằng PSG ở người trẻ khoẻ.Hiệu quả giấc ngủ 86,5% (18:00) so với 88,4% (22:00); N3 24,0% so với 22,9%; REM 20,8% so với 20,6%; tất cả P > 0,05.NgườiRCT chéo trong phòng thí nghiệm; bữa tối muộn 22:00 so với bữa tối thường lệ 18:00, giờ ngủ cố định 23:00–07:00; khẩu phần đẳng năng lượng, bữa tối = 35% năng lượng ngày (50% carbohydrate, 35% chất béo) kèm chất đánh dấu lipid; giấc ngủ đo bằng PSG qua đêm. · n = 20 người khoẻ (10 nam, 10 nữ), 26,0 ± 0,6 tuổi, BMI 23,2 ± 0,7 kg/m², Hoa KỳGu và cs., 2020
b1-023Trong cùng thử nghiệm, bữa tối 22:00 làm đỉnh glucose sau ăn cao hơn khoảng 18% so với bữa 18:00 cùng thành phần, và giai đoạn sau ăn chồng lên thời gian ngủ.Đỉnh glucose 150,3 ± 5,6 mg/dL (22:00) so với 127,0 ± 4,5 mg/dL (18:00).NgườiRCT chéo trong phòng thí nghiệm; bữa tối muộn 22:00 so với bữa tối thường lệ 18:00, giờ ngủ cố định 23:00–07:00; khẩu phần đẳng năng lượng, bữa tối = 35% năng lượng ngày (50% carbohydrate, 35% chất béo) kèm chất đánh dấu lipid; giấc ngủ đo bằng PSG qua đêm. · n = 20 người khoẻ (10 nam, 10 nữ), 26,0 ± 0,6 tuổi, BMI 23,2 ± 0,7 kg/m², Hoa KỳGu và cs., 2020
b1-024Bữa tối 22:00 đi kèm tỉ lệ chất béo từ bữa ăn được oxy hoá thấp hơn và cortisol đáy ban đêm cao hơn so với bữa 18:00.Palmitate oxy hoá 74,5 ± 5,7% so với 84,5 ± 5,2% (P = 0,02); cortisol đáy 4,1 ± 0,5 so với 2,9 ± 0,3 (đơn vị bài ghi µg/mL; P < 0,01).NgườiRCT chéo trong phòng thí nghiệm; bữa tối muộn 22:00 so với bữa tối thường lệ 18:00, giờ ngủ cố định 23:00–07:00; khẩu phần đẳng năng lượng, bữa tối = 35% năng lượng ngày (50% carbohydrate, 35% chất béo) kèm chất đánh dấu lipid; giấc ngủ đo bằng PSG qua đêm. · n = 20 người khoẻ (10 nam, 10 nữ), 26,0 ± 0,6 tuổi, Hoa Kỳ; phân tích oxy hoá palmitate trên 17 người (loại 3 ngoại lai)Gu và cs., 2020
b1-025Ở sinh viên đại học Úc, ăn bữa chính hoặc bữa phụ trong vòng 3 giờ trước giờ ngủ đi kèm khả năng thức giấc ban đêm cao hơn; sau hiệu chỉnh, liên quan yếu đi và cận ngưỡng ý nghĩa.OR thô 1,61 (KTC 95% 1,15–2,27); OR hiệu chỉnh 1,43 (1,00–2,04 trong tóm tắt; 1,01–2,04 trong bảng).NgườiCắt ngang, khảo sát trực tuyến ẩn danh; giấc ngủ tự báo cáo (giờ ngủ–dậy, số lần thức giấc, thời gian vào giấc); hiệu chỉnh dân tộc và BMI. · n = 793 sinh viên 18–29 tuổi (74% nữ), ÚcChung và cs., 2020
b1-026Trong cùng khảo sát, ăn trong vòng 3 giờ trước khi ngủ không liên quan có ý nghĩa với thời gian vào giấc kéo dài (> 30 phút).OR thô 1,24 (KTC 95% 0,89–1,73); OR hiệu chỉnh 1,10 (0,78–1,56).NgườiNhư trên; tự báo cáo. · n = 793, ÚcChung và cs., 2020
b1-036Ở người trẻ Nhật Bản, nhóm có khoảng cách bữa tối–giờ ngủ trung bình (3,80–4,94 giờ) có thời gian vào giấc tự báo cáo dài hơn nhóm có khoảng cách dài nhất (≥ 4,95 giờ); nhóm khoảng cách ngắn nhất (≤ 3,79 giờ) không khác biệt có ý nghĩa.SOL 30,8 ± 2,2 phút (3,80–4,94 giờ; P = 0,001) và 26,4 ± 2,2 phút (≤ 3,79 giờ; P = 0,081) so với 19,6 ± 2,2 phút (≥ 4,95 giờ).NgườiCắt ngang; giấc ngủ đo bằng PSQI tự báo cáo (SOL, thời lượng, hiệu quả lấy từ thành phần PSQI); ANCOVA hiệu chỉnh tuổi, giới, hoàn cảnh sống, hút thuốc, rượu, kiểu thời sinh học (MEQ), mệt mỏi (CFS), vận động (IPAQ); hiệu chỉnh Bonferroni. · n = 264 người 18–40 tuổi (149 nam, 115 nữ), Shiga, Nhật BảnYasuda và cs., 2023
b1-037Trong cùng nghiên cứu, nhóm ăn tối gần giờ ngủ nhất (≤ 3,79 giờ) có xu hướng hiệu quả giấc ngủ cao hơn nhóm có khoảng cách dài nhất, không đạt ý nghĩa thống kê.Hiệu quả giấc ngủ 77,5 ± 1,6% (≤ 3,79 giờ) so với 72,1 ± 1,6% (≥ 4,95 giờ); P = 0,061.NgườiNhư trên; PSQI. · n = 264, Nhật BảnYasuda và cs., 2023
b1-045Bữa tối 1 giờ trước ngủ không làm thay đổi tổng thời gian ngủ, hiệu quả, thời gian vào giấc hay phân bố giai đoạn toàn đêm, nhưng phân bố lại giai đoạn theo từng phần tư đêm: nhiều N2 hơn ở phần tư thứ hai và nhiều REM hơn ở phần tư thứ ba.N2 phần tư thứ 2: 49,0% (22:00) so với 36,5% (18:00), P = 0,0056; REM phần tư thứ 3: 28,1% so với 21,9%, P = 0,035.NgườiPhân tích hậu kiểm (post hoc) của RCT chéo nội trú (cùng thử nghiệm Gu 2020); bữa tối 18:00 (~5 giờ trước ngủ) so với 22:00 (~1 giờ trước ngủ), đẳng năng lượng; tắt đèn 23:00–07:00; PSG có giám sát, chấm theo AASM; phân tích phổ EEG (C4-A1) bằng hồi quy spline hỗn hợp. · n = 20 người khoẻ 18–30 tuổi (10 nam, 10 nữ), Hoa KỳDuan và cs., 2021
b1-046Trong cùng phân tích, bữa tối muộn làm tăng nhẹ công suất sóng delta đầu đêm, hiệu ứng giảm dần theo giờ và đảo chiều sau khoảng 5 giờ; công suất alpha và beta đầu đêm giảm; số arousal không khác.Delta +2,54% đầu đêm, giảm 0,5% mỗi giờ, đảo chiều ở ~302 phút; alpha −1,42%; beta −1,32%; arousal: không khác ở phần tư nào.NgườiPhân tích hậu kiểm (post hoc) của RCT chéo nội trú (cùng thử nghiệm Gu 2020); bữa tối 18:00 (~5 giờ trước ngủ) so với 22:00 (~1 giờ trước ngủ), đẳng năng lượng; tắt đèn 23:00–07:00; PSG có giám sát, chấm theo AASM; phân tích phổ EEG (C4-A1) bằng hồi quy spline hỗn hợp. · n = 20 người khoẻ 18–30 tuổi (10 nam, 10 nữ), Hoa KỳDuan và cs., 2021
b1-055Trong Khảo sát Sức khoẻ Cộng đồng Hàn Quốc 2018, bỏ bữa sáng đi kèm thời điểm giữa giấc ngủ (mid-sleep) muộn hơn và chất lượng ngủ PSQI kém hơn.Liên quan có ý nghĩa thống kê (phần tóm tắt đã đọc không nêu OR).NgườiCắt ngang, hồi quy logistic mẫu phức hợp có hiệu chỉnh yếu tố gây nhiễu; giấc ngủ đo bằng PSQI. · n = 173.272 người trưởng thành ≥ 19 tuổi, Hàn QuốcJung và Lee, 2024 (tóm tắt)
b1-056Trong khảo sát dân số chung Nhật Bản 16–79 tuổi, 1,5% có kiểu ăn quá mức buổi tối và 2,6% có kiểu thức dậy ăn trong đêm — hai thành phần cốt lõi của hội chứng ăn đêm (night eating syndrome, NES).119/8.348 (1,5%) ăn quá mức buổi tối; 208/8.348 (2,6%) ăn khi thức giấc ban đêm.NgườiCắt ngang, khảo sát trực tuyến (4/2016); ăn quá mức buổi tối (evening hyperphagia) = ≥ 25% năng lượng ngày ăn sau bữa tối; ăn khi thức giấc ban đêm (nocturnal ingestion) = ≥ 2 lần/tuần; giấc ngủ tự báo cáo, mất ngủ đo bằng ISI; hồi quy logistic đa biến. · n = 8.348 (trên 10.000 người trả lời), 16–79 tuổi, Nhật BảnMatsui và cs., 2021
b1-057Trong cùng khảo sát, ăn quá mức buổi tối đi kèm mất ngủ mức trung bình–nặng, ngủ < 6 giờ và lịch ngủ–thức muộn; ăn khi thức giấc ban đêm cũng đi kèm mất ngủ nhưng lại đi kèm lịch ngủ–thức sớm.Ăn quá mức buổi tối: ISI 15–28 OR 2,653 (1,558–4,515); ngủ < 6 giờ OR 1,687 (1,152–2,472); lịch muộn OR 2,196 (1,450–3,326). Ăn ban đêm: ISI 15–28 OR 2,507 (1,571–4,001); ISI 8–14 OR 1,577 (1,149–2,165); lịch sớm OR 2,153 (1,562–2,967).NgườiCắt ngang, khảo sát trực tuyến (4/2016); ăn quá mức buổi tối (evening hyperphagia) = ≥ 25% năng lượng ngày ăn sau bữa tối; ăn khi thức giấc ban đêm (nocturnal ingestion) = ≥ 2 lần/tuần; giấc ngủ tự báo cáo, mất ngủ đo bằng ISI; hồi quy logistic đa biến. · n = 8.348, Nhật BảnMatsui và cs., 2021
b1-066Ở người trưởng thành Hoa Kỳ (NHANES), nhóm có giờ bữa đầu, giờ bữa cuối và điểm giữa thời gian ăn muộn nhất (tam phân vị cao) đi kèm điểm PSQI cao hơn (chất lượng ngủ tự báo cáo kém hơn) so với nhóm sớm nhất; độ dài cửa sổ ăn không liên quan có ý nghĩa.β (tam phân vị 3 so với 1): bữa đầu 0,545 (0,226–0,864); điểm giữa 0,586 (0,277–0,896); bữa cuối 0,385 (0,090–0,680) điểm PSQI.NgườiCắt ngang, dữ liệu NHANES 2005–2008; thời điểm ăn tính từ 2 lần nhớ lại khẩu phần 24 giờ; giấc ngủ đo bằng điểm mà bài gọi là PSQI, dựng từ các câu hỏi giấc ngủ tự báo cáo của NHANES (thời gian vào giấc, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng ban ngày; thang 0–23, khác PSQI chuẩn 0–21); mô hình đầy đủ hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc, học vấn, thu nhập, hôn nhân, BMI, hút thuốc, rượu, chỉ số chất lượng ăn HEI-2015 và tổng năng lượng. · n = 7.023 người trưởng thành, Hoa KỳYan và cs., 2024
b1-074Ở Hồng Kông, thói quen ăn bữa thứ tư trước khi ngủ (siu-yeh, ăn đêm) rất phổ biến và đi kèm chất lượng ngủ PSQI kém hơn, cùng giấc mơ có cường độ cảm nhận mạnh hơn.Liên quan định tính trong tóm tắt (không nêu hệ số).NgườiNghiên cứu bảng hỏi (Night Eating Questionnaire, PSQI, thang trải nghiệm giấc mơ); tương quan. · n = 215 người Hồng KôngYu và Lam, 2017 (tóm tắt)
b1-083Trong thử nghiệm phòng thí nghiệm của Đại học Surrey, lùi giờ ba bữa ăn muộn hơn 5 giờ trong 6 ngày làm nhịp glucose máu lùi khoảng 5,7 giờ và nhịp biểu hiện gen PER2 ở mô mỡ lùi khoảng 1 giờ. Trong khi đó, nhịp melatonin và cortisol (chỉ dấu đồng hồ trung tâm) không đổi; giấc ngủ đo bằng actigraphy cũng không đổi.Nhịp glucose lùi 5,69 ± 1,29 giờ; glucose trung bình giảm 0,27 ± 0,05 mmol/L; PER2 mô mỡ lùi 0,97 ± 0,29 giờ (n = 7); DLMO melatonin không đổi (P = 0,372); pha cortisol không đổi (P = 0,182).NgườiThử nghiệm trong phòng thí nghiệm 13 ngày: 3 bữa đẳng năng lượng cách nhau 5 giờ, lịch sớm (bữa đầu 0,5 giờ sau thức) rồi lịch muộn 6 ngày (bữa đầu 5,5 giờ sau thức); nhịp sinh học đo trong hai đợt "constant routine" 37 giờ; giấc ngủ theo dõi bằng actigraphy (không phải kết cục chính). · n = 10 nam trẻ khoẻ 18–30 tuổi, Anh (sinh thiết mô mỡ dùng được ở 7 người)Wehrens và cs., 2017 (tóm tắt)
b1-084Tổng quan tường thuật năm 2026 kết luận bằng chứng về thời điểm ăn và giấc ngủ không nhất quán và chủ yếu là quan sát; bằng chứng hiện có không ủng hộ một lịch ăn đơn lẻ nào cho mục đích giấc ngủ.Định tính.Tổng quanTổng quan tường thuật; không đánh giá nguy cơ sai lệch, không theo PRISMA, không phân hạng độ chắc chắn. · Không áp dụngIvanišin và cs., 2026

Chất béo#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-003Trong nghiên cứu nội trú có kiểm soát chế độ ăn, lượng chất xơ ăn vào cao hơn đi kèm ít giai đoạn N1 hơn và nhiều giấc ngủ sóng chậm (slow wave sleep, SWS) hơn; tỉ lệ năng lượng từ chất béo bão hoà cao hơn đi kèm ít SWS hơn.Chất xơ: ít N1 hơn (P = 0,0198), nhiều SWS hơn (P = 0,0286). % năng lượng từ chất béo bão hoà: ít SWS hơn (P = 0,0422).NgườiDữ liệu từ thử nghiệm chéo ngẫu nhiên nội trú (2 pha 5 đêm); chỉ phân tích pha ngủ thường lệ (9 giờ trên giường); hồi quy tuyến tính giữa ăn uống ban ngày và giấc ngủ đêm; giấc ngủ đo bằng PSG mỗi đêm trong phòng thí nghiệm; chế độ ăn kiểm soát ~31% năng lượng từ chất béo (~7,5% chất béo bão hoà), 53% carbohydrate, 17% protein. · n = 26 người trưởng thành cân nặng bình thường, 30–45 tuổi, thường ngủ 7–9 giờ/đêmSt-Onge và cs., 2016
b1-035Theo tổng quan Binks 2020, một thử nghiệm 4 ngày ghi nhận chế độ nhiều chất béo đi kèm giấc ngủ tự báo cáo tốt hơn chế độ nhiều carbohydrate; tổng quan đặt kết quả này đối lập ("Conversely") với các thử nghiệm carbohydrate trước đó.Định tính; tự báo cáo.Tổng quanTổng quan tường thuật dẫn thử nghiệm số 52; giấc ngủ tự báo cáo. · Không ghi trong phần đã đọcBinks và cs., 2020
b1-041Ở nam giới khoẻ Nhật Bản, bữa tối rất nhiều carbohydrate (80% năng lượng) ăn lúc 20:00 đi kèm ít giấc ngủ sóng chậm hơn trong chu kỳ ngủ đầu so với bữa tối nhiều chất béo; chu kỳ 2 và 3 không khác.SWS giảm ở chu kỳ 1, không đổi ở chu kỳ 2–3 (tóm tắt không nêu số phút). Tỉ lệ protein:chất béo:carbohydrate 10:10:80 so với 10:78:12.NgườiThử nghiệm chéo cân bằng, so sánh trong cùng người; 3 đêm không liên tiếp trong buồng đo năng lượng toàn phòng (đêm 1 làm quen); bữa tối 20:00, ngủ 00:00–08:00; giấc ngủ đo bằng PSG kèm đo năng lượng gián tiếp. · n = 10 nam khoẻ, Nhật BảnYajima và cs., 2014 (tóm tắt)

Năng lượng và chất đa lượng nói chung#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-005Đêm sau một ngày ăn tự chọn (ad libitum) có ít SWS hơn và thời gian vào giấc dài hơn so với đêm sau các ngày ăn chế độ có kiểm soát; tổng thời gian ngủ không khác.SWS ít hơn (p = 0,0430); thời gian vào giấc dài hơn (P = 0,0085); thời lượng ngủ không khác.NgườiNội trú; ngày 1–4 ăn kiểm soát, ngày 5 tự chọn; so sánh đêm 5 với đêm 3 trong cùng người; giấc ngủ đo bằng PSG. · n = 26St-Onge và cs., 2016
b1-031Tổng quan tường thuật Binks 2020 ghi nhận phần lớn nghiên cứu về chất đa lượng và giấc ngủ dùng thang đo chủ quan, và bằng chứng quá không đồng nhất để phân tích gộp.Trong 10 nghiên cứu về chất đa lượng: 5 dùng PSG, 2 dùng actigraphy, 5 dùng đánh giá chủ quan (một số dùng nhiều phương pháp); toàn bài: 20/32 nghiên cứu dùng đo khách quan.Tổng quanTổng quan tường thuật (narrative review); không phân tích gộp. · 10 nghiên cứu can thiệp chất đa lượng (cùng các nghiên cứu khác về mẫu hình ăn)Binks và cs., 2020
b1-038Trong RCT CALERIE 2 ở người trưởng thành không béo phì, nhóm hạn chế năng lượng (calorie restriction, CR) 25% có điểm thành phần thời lượng ngủ PSQI tốt hơn nhóm ăn tự do ở tháng 12, nhưng khác biệt không còn ở tháng 24; điểm PSQI tổng không khác ở cả hai thời điểm.Thành phần thời lượng ngủ PSQI, chênh lệch giữa nhóm: tháng 12 −0,26 (KTC 95% −0,49 đến −0,02; P = 0,03); tháng 24 −0,13 (−0,35 đến 0,09; P = 0,26). PSQI tổng: −0,55 (−1,28 đến 0,17; P = 0,27) và −0,36 (−0,99 đến 0,26; P = 0,51).NgườiRCT song song đa trung tâm (3 cơ sở), ngẫu nhiên 2:1, 24 tháng; CR 25% so với ăn tự do; giấc ngủ đo bằng PSQI (tự báo cáo). · 220 người ngẫu nhiên, 218 phân tích theo nhóm được phân bổ (intention-to-treat) (CR 143, đối chứng 75); người trưởng thành không béo phì, Hoa KỳMartin và cs., 2016
b1-042Trong thử nghiệm bữa tối ở nam giới Nhật Bản (Yajima và cs., 2014), tiêu hao năng lượng khi ngủ không khác giữa bữa tối nhiều carbohydrate và nhiều chất béo, nhưng tỉ lệ oxy hoá cơ chất phản ánh thành phần bữa tối trong chu kỳ ngủ 1 và 2.Tiêu hao năng lượng: không khác; oxy hoá cơ chất: khác ở chu kỳ 1–2 (tóm tắt không nêu số).NgườiNhư trên; buồng đo năng lượng (whole-room calorimeter). · n = 10 nam khoẻ, Nhật BảnYajima và cs., 2014 (tóm tắt)
b1-043Tổng quan hệ thống và hồi quy gộp từ Singapore không tìm thấy quan hệ liều–đáp ứng có ý nghĩa giữa tỉ lệ năng lượng từ carbohydrate, protein hay chất béo với thời lượng ngủ.19 bài (15 cắt ngang, 4 RCT), 86.961 người, 8 quốc gia; hồi quy gộp chỉ làm được cho thời lượng ngủ (6 bài): không có ý nghĩa.Tổng quanTổng quan hệ thống + hồi quy gộp; kết cục: thời lượng ngủ, điểm PSQI tổng, thời gian vào giấc, hiệu quả giấc ngủ ("ngủ tốt" = ≥ 7 giờ, PSQI ≤ 5, vào giấc ≤ 30 phút, hiệu quả > 85%). · 86.961 người trong 19 nghiên cứuSutanto và cs., 2020
b1-082Ở người trưởng thành Úc, mô hình thay thế đẳng năng lượng cho thấy thay 5% năng lượng từ protein bằng chất béo bão hoà đi kèm khả năng buồn ngủ ban ngày quá mức (ESS ≥ 11) cao hơn, và thay chất béo bão hoà bằng protein đi kèm khả năng thấp hơn; các phép thay thế khác có KTC chứa 1.Protein → chất béo bão hoà: OR 1,57 (1,00–2,45); chất béo bão hoà → protein: OR 0,63 (0,41–0,99) theo tóm tắt (phần Kết quả ghi 0,74); chất béo bão hoà → chất béo không bão hoà: OR 0,74 (0,51–1,06); protein → carbohydrate: OR 1,23 (0,92–1,65). Tỉ lệ buồn ngủ quá mức 10,6%.NgườiCắt ngang (dữ liệu North West Adelaide Health Study); khẩu phần đo bằng bảng hỏi tần suất (DQES-V3.1); buồn ngủ ban ngày đo bằng ESS; mô hình thay thế đẳng năng lượng 5% năng lượng, hiệu chỉnh nhiều yếu tố (gồm thời lượng ngủ, ngưng thở khi ngủ, trầm cảm). · n = 1.997 người ≥ 24 tuổi (1.590 có dữ liệu đầy đủ theo phần Phương pháp), ÚcMelaku và cs., 2019

Nhịn ăn và ăn giới hạn thời gian#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-012Tổng quan hệ thống 6 RCT (≥ 8 tuần, nhịn ≥ 14 giờ/ngày) về ăn giới hạn thời gian (time-restricted eating, TRE) kết luận TRE ngắn–trung hạn nhìn chung không làm thay đổi chất lượng giấc ngủ đo chủ quan hay khách quan; chỉ 1/6 nghiên cứu thấy cải thiện chất lượng ngủ tự báo cáo.6 RCT; 548 người tham gia, 430 hoàn tất (~21,5% bỏ cuộc); 1/5 nghiên cứu dùng PSQI có cải thiện; không nghiên cứu nào dùng PSG; không gộp số liệu.Tổng quanTổng quan hệ thống (PRISMA), tổng hợp tường thuật, không phân tích gộp; giấc ngủ đo bằng PSQI (5 nghiên cứu) và thiết bị đeo/actigraphy (3 nghiên cứu: Oura, Actiwatch, ActiGraph). · 548 người trưởng thành trong 6 RCTBohlman và cs., 2024
b1-013Trong RCT của Lowe và cộng sự (TRE 12:00–20:00, 12 tuần) được tổng quan Bohlman 2024 tóm lược, hiệu quả giấc ngủ đo bằng nhẫn Oura giảm có ý nghĩa.Hiệu quả giấc ngủ trung bình giảm 2,7%.NgườiRCT 12 tuần, cửa sổ ăn 8 giờ (12:00–20:00); giấc ngủ đo bằng nhẫn Oura (thiết bị đeo). · Người trưởng thành (cỡ mẫu từng thử nghiệm không ghi trong phần đã đọc)Bohlman và cs., 2024
b1-014Trong RCT Steger và cộng sự (TRE sớm 07:00–15:00 kèm hạn chế năng lượng, 14 tuần), thời lượng ngủ tự báo cáo giảm, hiệu quả giấc ngủ giảm và thời gian vào giấc tăng.Thời lượng ngủ tự báo cáo giảm trung bình 0,5 giờ so với ban đầu.NgườiRCT 14 tuần; giấc ngủ tự báo cáo; dữ liệu qua tổng quan Bohlman 2024. · Người trưởng thành (cỡ mẫu không ghi trong phần đã đọc)Bohlman và cs., 2024
b1-027Tổng quan 9 thử nghiệm nhịn ăn gián đoạn (8 TRE, 1 nhịn ăn cách ngày — alternate-day fasting, ADF) kết luận chất lượng và thời lượng ngủ không thay đổi; không thử nghiệm nào đủ cỡ mẫu để phát hiện thay đổi về giấc ngủ.Thời lượng ngủ không đổi ở 7/8 thử nghiệm TRE và thử nghiệm ADF; PSQI không thay đổi ròng; cỡ mẫu từng thử nghiệm 8–116; giảm cân 1–6%.Tổng quanTổng quan tường thuật các thử nghiệm trên người; giấc ngủ đo bằng bảng hỏi (PSQI, ISI), nhật ký, thang VAS, ứng dụng điện thoại, nhẫn Oura, actigraphy cổ tay; không thử nghiệm nào dùng PSG; chưa tìm được thử nghiệm 5:2 nào đo giấc ngủ. · 9 thử nghiệm, n = 8–116 mỗi thử nghiệmMcStay và cs., 2021
b1-028Trong thử nghiệm ADF được tổng quan McStay 2021 mô tả, nhóm "ngủ kém" giảm điểm mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) ở tuần 12 nhưng thay đổi không còn ý nghĩa ở tuần 24.ISI 12 → 8 (tuần 12) → 9 (tuần 24, không còn khác biệt có ý nghĩa so với ban đầu).NgườiThử nghiệm ADF 24 tuần; ISI tự báo cáo; dữ liệu qua tổng quan. · Phân nhóm "ngủ kém" trong một thử nghiệm ADF (cỡ mẫu không ghi trong phần đã đọc)McStay và cs., 2021
b1-029Trong các thử nghiệm TRE 4 giờ và 6 giờ được tổng quan McStay 2021 mô tả, tỉ lệ người có nguy cơ cao ngưng thở khi ngủ (theo bảng hỏi Berlin) giảm sau can thiệp nhưng thay đổi không có ý nghĩa thống kê.Nguy cơ cao ban đầu 44% (TRE 4 giờ), 47% (TRE 6 giờ) → 25% và 20% sau can thiệp (không có ý nghĩa); ADF ban đầu 45%.NgườiBảng hỏi Berlin (sàng lọc nguy cơ, không phải chẩn đoán); dữ liệu qua tổng quan. · Người tham gia các thử nghiệm TRE 4 giờ và 6 giờ (cỡ mẫu không ghi trong phần đã đọc)McStay và cs., 2021
b1-051Theo tổng quan Almeneessier và BaHammam 2018, giảm tỉ lệ REM là thay đổi cấu trúc giấc ngủ nhất quán duy nhất khi nhịn ăn ban ngày, cả trong lẫn ngoài Ramadan, và trở lại bình thường sau Ramadan.Định tính (tổng quan không nêu số gộp).Tổng quanTổng quan tường thuật các nghiên cứu PSG. · Các nghiên cứu nhỏAlmeneessier và BaHammam, 2018
b1-053Trong RCT 12 tuần ở người thừa cân/béo phì tại Tây Ban Nha, thêm TRE 8 giờ (sớm, muộn hay tự chọn) vào chăm sóc thường quy không làm thay đổi có ý nghĩa tổng thời gian ngủ đo bằng gia tốc kế so với nhóm chỉ chăm sóc thường quy.TRE sớm so với chăm sóc thường quy: chênh tổng thời gian ngủ 0,2 giờ (KTC 95% −0,2 đến 0,6). TRE muộn và tự chọn: không khác có ý nghĩa.NgườiPhân tích thứ cấp định trước của RCT song song (NCT05310721); 4 nhánh: chăm sóc thường quy (cửa sổ ăn ≥ 12 giờ + giáo dục ăn kiểu Địa Trung Hải), TRE sớm (cửa sổ 8 giờ bắt đầu trước 10:00), TRE muộn (bắt đầu sau 13:00), TRE tự chọn; giấc ngủ đo bằng gia tốc kế 2 tuần trước và 2 tuần cuối can thiệp. · n = 197 người 30–60 tuổi thừa cân/béo phì (49 / 49 / 52 / 47), Granada và Pamplona, Tây Ban NhaClavero-Jimeno và cs., 2025 (tóm tắt)
b1-067Trong cùng phân tích NHANES, độ dài khoảng thời gian ăn trong ngày (eating window) không liên quan có ý nghĩa với điểm PSQI; số bữa ăn nhiều hơn đi kèm PSQI cao hơn một chút.Cửa sổ ăn: không ý nghĩa (bài không nêu hệ số); số bữa: β 0,332 (0,021–0,642).NgườiCắt ngang, dữ liệu NHANES 2005–2008; thời điểm ăn tính từ 2 lần nhớ lại khẩu phần 24 giờ; giấc ngủ đo bằng điểm mà bài gọi là PSQI, dựng từ các câu hỏi giấc ngủ tự báo cáo của NHANES (thời gian vào giấc, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng ban ngày; thang 0–23, khác PSQI chuẩn 0–21); mô hình đầy đủ hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc, học vấn, thu nhập, hôn nhân, BMI, hút thuốc, rượu, chỉ số chất lượng ăn HEI-2015 và tổng năng lượng. · n = 7.023, Hoa KỳYan và cs., 2024
b1-068Trong phân tích hậu kiểm một thử nghiệm cung cấp thức ăn đẳng năng lượng, ăn trong khung 08:00–18:00 suốt 12 tuần đi kèm tổng thời gian ngủ (actigraphy) tăng so với ăn 08:00–24:00.TST tăng 55 phút so với đối chứng (P = 0,03); không nêu KTC.NgườiPhân tích hậu kiểm của thử nghiệm cung cấp thức ăn có kiểm soát, song song, 12 tuần; TRE 08:00–18:00 so với kiểu ăn thường (08:00–24:00); giấc ngủ đo bằng actigraphy cổ tay 7 ngày ở đầu và tuần 12. · 38 người phân tích (18 TRE, 20 đối chứng) trên 41 người ngẫu nhiên; người trưởng thành béo phì kèm tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường, tuổi TB 59,6, 92% nữ, 92% người da đen, BMI TB 36,3, Hoa KỳDuan và cs., 2025 (tóm tắt)
b1-069Trong cùng phân tích, nhóm TRE 08:00–18:00 có điểm giữa giấc ngủ sớm hơn 44 phút, nhóm đối chứng không đổi; giờ thức dậy và tính liên tục giấc ngủ không khác.Điểm giữa giấc ngủ 03:24 → 02:40 (P = 0,01); đối chứng giữ ~3:15.NgườiPhân tích hậu kiểm của thử nghiệm cung cấp thức ăn có kiểm soát, song song, 12 tuần; TRE 08:00–18:00 so với kiểu ăn thường (08:00–24:00); giấc ngủ đo bằng actigraphy cổ tay 7 ngày ở đầu và tuần 12. · 38 người phân tích (18 TRE, 20 đối chứng) trên 41 người ngẫu nhiên; người trưởng thành béo phì kèm tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường, tuổi TB 59,6, 92% nữ, 92% người da đen, BMI TB 36,3, Hoa KỳDuan và cs., 2025 (tóm tắt)
b1-070Trong RCT nhỏ ở người thừa cân/béo phì, TRE 8 giờ tự chọn trong 12 tuần không tạo khác biệt ở các chỉ số giấc ngủ đo bằng actigraphy giữa hai nhóm; mức rút ngắn cửa sổ ăn lớn hơn đi kèm thời lượng ngủ cuối kỳ dài hơn.Thời lượng ngủ toàn mẫu 6,32 ± 0,55 giờ → 6,29 ± 0,49 giờ; khác biệt giữa nhóm P > 0,05; rút ngắn cửa sổ ăn – thời lượng ngủ: β = −0,46 (KTC 95% −9,2 đến −0,4), P = 0,03.NgườiPhân tích thứ cấp RCT (NCT03129581), 12 tuần; TRE cửa sổ 8 giờ tự chọn so với không TRE; giấc ngủ đo bằng gia tốc kế cổ tay ActiGraph 2 tuần trước và cuối can thiệp (thuật toán Cole-Kripke). · 20 người trưởng thành BMI ≥ 25 (thừa cân/béo phì), cửa sổ ăn ban đầu > 14 giờ, chủ yếu nữ, ngẫu nhiên (TRE 11, đối chứng 9); phân tích cuối kỳ 10 và 8, Hoa KỳSimon và cs., 2022
b1-071Trong cùng thử nghiệm, TRE làm giảm tỉ lệ ngày có ăn trong vòng 2 giờ trước giờ ngủ; tỉ lệ ăn khuya tương quan với glucose lúc đói và HbA1c.Giảm 14 ± 6% (P = 0,028); 63% người TRE bỏ hẳn ăn khuya cuối kỳ; ăn khuya – glucose đói r = 0,59 (P = 0,006); ăn khuya – HbA1c r = 0,46 (P = 0,016).NgườiPhân tích thứ cấp RCT (NCT03129581), 12 tuần; TRE cửa sổ 8 giờ tự chọn so với không TRE; giấc ngủ đo bằng gia tốc kế cổ tay ActiGraph 2 tuần trước và cuối can thiệp (thuật toán Cole-Kripke). · 20 người trưởng thành BMI ≥ 25 (thừa cân/béo phì), cửa sổ ăn ban đầu > 14 giờ, chủ yếu nữ, ngẫu nhiên (TRE 11, đối chứng 9); phân tích cuối kỳ 10 và 8, Hoa KỳSimon và cs., 2022
b1-076Trong nghiên cứu thí điểm mở ở người không béo phì, sau 7 ngày nhịn ăn cải biên tại nhà, số arousal và cử động chi chu kỳ (periodic limb movements, PLM) đo bằng PSG giảm, chất lượng ngủ tự đánh giá tăng; REM tăng không có ý nghĩa.Arousal giảm có ý nghĩa; PLM giảm; REM tăng không ý nghĩa (tóm tắt không nêu số). Cân nặng 66,5 ± 11,7 → 63 ± 11,9 kg; melatonin niệu giảm vừa phải.NgườiThí điểm mở, không nhóm chứng; PSG trước và sau 7 ngày nhịn ăn cải biên; bảng hỏi giấc ngủ và đánh giá hoạt động ban ngày. · 15 người tuyển, 13 hoàn tất (12 nữ, 1 nam; 41,2 ± 13,4 tuổi; BMI 23,9 ± 4,2), ĐứcMichalsen và cs., 2003 (tóm tắt)
b1-077Ở phụ nữ thừa cân/béo phì, 8 tuần nhịn ăn cách ngày cải biên không làm điểm PSQI tổng hay điểm buồn ngủ Epworth thay đổi khác biệt so với nhóm hạn chế năng lượng hằng ngày, dù tiêu đề bài nêu "cải thiện".Thay đổi PSQI tổng −0,39 (1,43) so với −0,45 (1,88); P = 0,73. ESS −0,22 (1,24) so với −0,54 (1,67); P = 0,43.NgườiRCT song song 8 tuần (IRCT20220522054958N3); nhịn ăn cách ngày cải biên (ADMF: ngày nhịn 25% nhu cầu năng lượng, ngày ăn 100%) so với hạn chế năng lượng hằng ngày (63% nhu cầu); giấc ngủ đo bằng PSQI và ESS (tự báo cáo). · 56 phụ nữ ngẫu nhiên, 47 phân tích (ADMF 23, CR 24), 18–50 tuổi, BMI 25–40, Kashan, IranHosseini và cs., 2023
b1-078Trong cùng thử nghiệm, nhóm nhịn ăn cách ngày cải thiện thành phần "chất lượng ngủ chủ quan" và "rối loạn chức năng ban ngày" nhiều hơn, nhưng điểm thành phần "thời gian vào giấc" tăng (xấu hơn) so với hạn chế năng lượng hằng ngày.Chất lượng ngủ chủ quan −0,69 (0,47) so với −0,08 (0,40), P < 0,001; rối loạn chức năng ban ngày −0,65 (0,57) so với 0,04 (0,75), P = 0,001; thời gian vào giấc +0,87 (0,69) so với −0,17 (1,01), P < 0,001.NgườiRCT song song 8 tuần (IRCT20220522054958N3); nhịn ăn cách ngày cải biên (ADMF: ngày nhịn 25% nhu cầu năng lượng, ngày ăn 100%) so với hạn chế năng lượng hằng ngày (63% nhu cầu); giấc ngủ đo bằng PSQI và ESS (tự báo cáo). · 56 phụ nữ ngẫu nhiên, 47 phân tích (ADMF 23, CR 24), 18–50 tuổi, BMI 25–40, Kashan, IranHosseini và cs., 2023
b1-085Cùng tổng quan nhận định tác động của TRE lên giấc ngủ không nhất quán: TRE ngắn–trung hạn nhìn chung không làm xấu giấc ngủ, một phân tích hậu kiểm thấy tăng thời gian ngủ đo bằng actigraphy, còn các cải thiện nhỏ trong phân tích gộp không có ý nghĩa khi chỉ xét thử nghiệm có đối chứng. Tác giả cho rằng hiện chưa nên dùng TRE chủ yếu như một can thiệp giấc ngủ.Định tính; dẫn kết quả +55 phút TST (Duan 2025).Tổng quanTổng quan tường thuật. · Không áp dụngIvanišin và cs., 2026

Nhịn ăn tháng Ramadan#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-015Phân tích gộp 24 nghiên cứu cho thấy tổng thời gian ngủ (total sleep time, TST) giảm trong tháng nhịn ăn ban ngày Ramadan so với trước Ramadan.TST từ 7,2 giờ/đêm (KTC 95% 6,7–7,8) trước Ramadan xuống 6,4 giờ (KTC 95% 5,3–7,5) trong Ramadan; Hedges' g = −0,43 (KTC 95% −0,64 đến −0,22; 22 nghiên cứu, 571 người); I² = 78%.Tổng quanTổng quan hệ thống + phân tích gộp 24 nghiên cứu (2001–2019), 12 quốc gia; so sánh trước–trong Ramadan; tóm tắt không tách phương pháp đo. · 646 người (tuổi trung vị 23,7; 73% nam)Faris và cs., 2020 (tóm tắt)
b1-016Trong cùng phân tích gộp, điểm buồn ngủ ban ngày Epworth (ESS) tăng nhẹ trong Ramadan, khác biệt nhỏ và khoảng tin cậy chứa 0.ESS 6,1 (KTC 95% 4,5–7,7) trước Ramadan lên 7,0; Hedges' g = −0,06 (KTC 95% −0,43 đến 0,28); I² = 76%.Tổng quanNhư trên; ESS (thang tự báo cáo). · 646 người, 24 nghiên cứuFaris và cs., 2020 (tóm tắt)
b1-017Trong nghiên cứu đo PSG ở nam thanh niên khoẻ (giờ ngủ được giữ trong phòng thí nghiệm), tỉ lệ REM thấp hơn khi nhịn ăn (cả nhịn thử trước Ramadan lẫn trong Ramadan) so với giai đoạn không nhịn; TST, thời gian vào giấc, độ trễ REM và tỉ lệ các giai đoạn NREM không khác.REM 17,7 ± 8,1% (nhịn ăn nền) và 18,6 ± 10,7% (Ramadan) so với 25,6 ± 4,8% (không nhịn); P < 0,05.NgườiNghiên cứu chéo theo ca (case-crossover), 4 lần vào phòng thí nghiệm (làm quen, nhịn ăn nền, không nhịn, Ramadan); PSG do kỹ thuật viên không biết điều kiện chấm tay; actigraphy ở nhà. · n = 8 nam khoẻ, 25,3 ± 2,9 tuổi, Ả Rập Xê ÚtBaHammam và cs., 2013
b1-018Trong cùng nghiên cứu, actigraphy tại nhà cho thấy giờ đi ngủ và giờ thức dậy lùi muộn có ý nghĩa trong Ramadan; buồn ngủ đo khách quan (thang Johns, thời lượng chớp mắt) và thời gian phản ứng không thay đổi.Giờ ngủ và giờ dậy muộn hơn (P < 0,05); không thay đổi thời gian phản ứng trung bình.NgườiNhư trên; actigraphy cổ tay; Johns Drowsiness Scale đo bằng thiết bị theo dõi mí mắt. · n = 8 nam khoẻBaHammam và cs., 2013
b1-050Tổng quan tường thuật ghi nhận các nghiên cứu Ramadan trong đời thực (không kiểm soát lối sống) thấy thay đổi giấc ngủ và nhịp sinh học. Tuy vậy, các nghiên cứu về sau có kiểm soát lịch ngủ–thức, khẩu phần, năng lượng và ánh sáng không thấy thay đổi các chỉ dấu đồng hồ sinh học hay cấu trúc giấc ngủ NREM.Định tính; các nghiên cứu có kiểm soát thường chỉ 6–8 người.Tổng quanTổng quan tường thuật (PubMed, Clarivate, Google Scholar); nghiên cứu gốc dùng PSG, actigraphy, nhật ký, ESS, MSLT, đo nhãn cầu hồng ngoại. · Các nghiên cứu nhỏ (thường 6–8 người)Almeneessier và BaHammam, 2018
b1-052Tổng quan ghi nhận một nghiên cứu Ramadan sớm thấy thời gian vào giấc tăng, nhưng trong nghiên cứu đó bữa tối được phục vụ chỉ 30 phút trước giờ ngủ; các nghiên cứu kiểm soát về sau không thấy thay đổi thời gian vào giấc.Bữa tối 30 phút trước giờ ngủ (nghiên cứu sớm) so với 3–3,5 giờ (phần lớn nghiên cứu có kiểm soát).Tổng quanTổng quan tường thuật. · Các nghiên cứu nhỏAlmeneessier và BaHammam, 2018
b1-054Phân tích gộp 14 nghiên cứu dùng PSQI cho thấy trong Ramadan thời lượng ngủ và hiệu quả giấc ngủ tự báo cáo giảm, điểm PSQI tổng tăng (xấu hơn) so với trước Ramadan; thời gian vào giấc và rối loạn giấc ngủ không thay đổi có ý nghĩa.Thời lượng ngủ ES = −0,613 (KTC 95% −0,943 đến −0,283; I² 86,9%); hiệu quả ES = −0,375 (−0,541 đến −0,208; I² 44,5%); PSQI tổng ES = 0,809 (0,366–1,152; I² 90,1%); vào giấc ES = −0,258 (P = 0,100). Thời lượng ngủ trung bình 7,65 giờ, giảm 62 phút trong Ramadan.Tổng quanTổng quan hệ thống + phân tích gộp trước–sau (hiệu ứng ngẫu nhiên DerSimonian-Laird) + hồi quy gộp; PROSPERO CRD42022327245; giấc ngủ đo bằng PSQI. · 14 nghiên cứu (2014–2024), Singapore, Tunisia, Maroc, Liban; tổng 426 người (bài mô tả phân nhóm không nhất quán)El-Jaziz và Lotfi, 2025
b1-061Ở người trưởng thành khoẻ tại Jeddah, thời lượng ngủ theo nhật ký không thay đổi trong Ramadan so với trước Ramadan, trong khi tỉ lệ người có kiểu thời sinh học buổi tối tăng.Thời lượng ngủ 7,54 ± 1,69 giờ trước so với 7,59 ± 1,04 giờ trong Ramadan (P = 0,83); kiểu buổi tối 27,8% → 43,9% (P < 0,001).NgườiNghiên cứu tiến cứu đo lặp (2 tháng trước Ramadan và 3 tuần cuối Ramadan); nhịn ~15 giờ (04:20–19:00); thời lượng ngủ ghi nhật ký 7 ngày; buồn ngủ ban ngày đo bằng ESS bản tiếng Ả Rập; kiểu thời sinh học bằng bảng hỏi. · n = 115 người trưởng thành khoẻ 18–44 tuổi (96 nữ, 19 nam), Jeddah, Ả Rập Xê ÚtAlzhrani và cs., 2022
b1-062Trong cùng nghiên cứu, năng lượng và carbohydrate ăn vào tăng trong Ramadan, cân nặng giảm rất ít.Năng lượng 1.482,9 ± 536,4 → 1.635,5 ± 635,1 kcal/ngày (P = 0,01); carbohydrate 180,8 ± 72,1 → 202,6 ± 88,7 g/ngày (P = 0,001); cân nặng 66,4 → 66,1 kg (P = 0,02).NgườiNghiên cứu tiến cứu đo lặp (2 tháng trước Ramadan và 3 tuần cuối Ramadan); nhịn ~15 giờ (04:20–19:00); thời lượng ngủ ghi nhật ký 7 ngày; buồn ngủ ban ngày đo bằng ESS bản tiếng Ả Rập; kiểu thời sinh học bằng bảng hỏi. · n = 115 người trưởng thành khoẻ 18–44 tuổi (96 nữ, 19 nam), Jeddah, Ả Rập Xê ÚtAlzhrani và cs., 2022

Giờ ăn và trào ngược#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-019Ở Nhật Bản, khoảng cách từ lúc ăn xong bữa tối đến lúc đi ngủ dưới 3 giờ đi kèm khả năng mắc bệnh trào ngược dạ dày–thực quản (gastro-esophageal reflux disease, GERD) cao hơn nhiều so với từ 4 giờ trở lên.OR hiệu chỉnh = 7,45 (KTC 95% 3,38–16,4) cho khoảng cách < 3 giờ so với ≥ 4 giờ.NgườiNghiên cứu bệnh–chứng, chứng ghép cặp theo tuổi và giới; khoảng cách bữa tối–giờ ngủ tự báo cáo; hiệu chỉnh hút thuốc, uống rượu, BMI. · 147 bệnh nhân GERD và 294 người chứng, Nhật BảnFujiwara và cs., 2005 (tóm tắt)
b1-072Ở người khoẻ, ăn tối lúc 18:00 so với 21:00 (khẩu phần chuẩn hoá) đi kèm độ acid dạ dày ban đêm thấp hơn (pH cao hơn); các khoảng thời gian khác trong ngày không khác.pH trung vị ban đêm 1,67 (ăn tối 18:00) so với 1,39 (21:00); P < 0,001.NgườiSo sánh trong cùng người, giờ ăn tối theo thứ tự ngẫu nhiên; bữa sáng 07:00, trưa 12:00 chuẩn hoá; đo pH dạ dày lưu động 22 giờ. Không đo giấc ngủ. · n = 23 người khoẻ (12 nam)Duroux và cs., 1989 (tóm tắt)
b1-073Trong thuần tập trẻ sinh toàn quốc Nhật Bản, trẻ đi ngủ trong vòng 120 phút sau bữa tối có nguy cơ hen được cha mẹ báo cáo cao hơn một chút so với trẻ có khoảng cách > 120 phút; viêm tai giữa và viêm mũi dị ứng không khác.Hen: RR hiệu chỉnh 1,10 (KTC 95% 1,03–1,18); viêm tai giữa 1,00 (0,96–1,05); viêm mũi dị ứng 1,02 (0,97–1,07).NgườiThuần tập dọc (phân tích thứ cấp thuần tập trẻ sinh dựa trên dân số); hồi quy Poisson cải tiến, hiệu chỉnh giới, sinh non, BMI z, anh chị, mẹ hút thuốc, học vấn và việc làm của mẹ, dị tật bẩm sinh; kết cục do cha mẹ báo cáo. · n = 60.392 trẻ (trên 65.471 tuyển), Nhật BảnUraguchi và cs., 2025

Chất lỏng buổi tối và tiểu đêm#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-030Ở nam giới Nhật Bản bị tiểu đêm, sau 1 tháng được hướng dẫn điều chỉnh lượng nước và thức ăn sao cho lượng nước tiểu 24 giờ ≤ 30 ml/kg cân nặng, khoảng hai phần ba giảm ít nhất 1 lần tiểu đêm.44/65 bệnh nhân (67%) giảm ≥ 1 lần tiểu đêm; không ghi nhận biến cố bất lợi.NgườiSo sánh trước–sau 1 tháng, không có nhóm chứng; phần tóm tắt đã đọc không nêu công cụ đo tần suất tiểu đêm. · 67 nam giới tuyển, 65 được đánh giá; Đại học Y Nara, Nhật BảnTani và cs., 2014 (tóm tắt)
b1-064Ở bệnh nhân cao tuổi Nhật Bản bị tiểu đêm, sau gói 4 biện pháp lối sống (trong đó có hạn chế nước uống), số lần tiểu đêm và thể tích nước tiểu ban đêm giảm; khoảng một nửa giảm ít nhất 1 lần/đêm.Tiểu đêm (FVC) 3,57 → 2,68 lần/đêm (P < 0,0001); thể tích nước tiểu đêm 929 → 771 ml (P = 0,0008); 28/50 (56%) giảm ≥ 1 lần; 11/43 (26%) giảm ≥ 2 lần.NgườiSo sánh trước–sau, không nhóm chứng (10/2005–1/2009); 4 biện pháp lối sống: hạn chế nước uống, tránh nằm trên giường quá lâu, vận động vừa phải hằng ngày, giữ ấm khi ngủ; tiểu đêm đo bằng nhật ký tần suất–thể tích 4 tuần (FVC) và câu 7 IPSS; kiểm định Wilcoxon. · n = 50 (42 nam, 8 nữ), 74,5 ± 5,5 tuổi, Nhật BảnSoda và cs., 2009
b1-065Trong cùng nghiên cứu, người có lượng nước tiểu 24 giờ > 1.800 mL (đa niệu) có tỉ lệ đáp ứng mạnh với biện pháp lối sống cao hơn rõ rệt so với người < 1.800 mL; tổng lượng nước tiểu 24 giờ chỉ giảm nhẹ, không có ý nghĩa.Đáp ứng mạnh 10/24 (> 1.800 ml) so với 1/19 (< 1.800 ml), P = 0,0066; nước tiểu 24 giờ 1.862 → 1.744 ml (P = 0,0513).NgườiSo sánh trước–sau, không nhóm chứng (10/2005–1/2009); 4 biện pháp lối sống: hạn chế nước uống, tránh nằm trên giường quá lâu, vận động vừa phải hằng ngày, giữ ấm khi ngủ; tiểu đêm đo bằng nhật ký tần suất–thể tích 4 tuần (FVC) và câu 7 IPSS; kiểm định Wilcoxon. · 43 người có dữ liệu FVCSoda và cs., 2009

Ketogenic và chế độ rất ít carbohydrate#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-033Theo tổng quan Binks 2020, một nghiên cứu cho thấy trạng thái ketosis đi kèm tăng tỉ lệ N3 và giảm tỉ lệ REM so với đối chứng.Tỉ lệ N3 tăng, tỉ lệ REM giảm (định tính trong tổng quan).Tổng quanTổng quan tường thuật, dẫn một nghiên cứu (tài liệu số 49). · Không ghi trong phần đã đọcBinks và cs., 2020
b1-063Ở nam giới khoẻ ngủ tốt, chế độ đẳng năng lượng gần như không carbohydrate (< 1% năng lượng) đi kèm tỉ lệ REM thấp hơn và tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm cao hơn so với chế độ đối chứng nhiều carbohydrate, cả ở đêm đầu lẫn sau 48 giờ (pha ketosis), trong một nghiên cứu nhỏ.REM %TST giảm (P = 0,006 đêm cấp, n = 11; P = 0,05 đêm ketosis, n = 14); SWS %TST 13,9 ± 6,3 (đối chứng) so với 17,7 ± 6,7 (cấp) và 17,8 ± 6,1 (ketosis), P = 0,02. Đối chứng 15,5% protein/12,5% chất béo/72% carbohydrate; chế độ rất ít carbohydrate 38%/61%/< 1%.NgườiĐo lặp trong cùng người, khẩu phần đẳng năng lượng (2.400 kcal); bữa tối thử 4 giờ trước giờ ngủ thường lệ; PSG qua các đêm: làm quen, đối chứng, đêm đầu sau bữa rất ít carbohydrate (pha cấp), sau 48 giờ (pha ketosis). · n = 14 nam khoẻ, 18–35 tuổi, BMI 23,4 ± 1,9, tự nhận ngủ tốt, ÚcAfaghi và cs., 2008 (tóm tắt)
b1-075Ở trẻ động kinh kháng thuốc, sau 3 tháng chế độ ăn ketogenic, tổng thời gian ngủ và ngủ đêm giảm, REM tăng, N2 giảm, giấc ngủ sóng chậm được giữ nguyên; ngủ ngày giảm ở tháng 12.Tổng thời gian ngủ giảm (P = 0,05); thời gian ngủ đêm giảm (P = 0,006); REM tăng (P = 0,01; tăng tiếp ở tháng 12, P = 0,06); N2 giảm (P = 0,004); ngủ ngày giảm ở tháng 12 (P = 0,01). REM tăng tương quan với cải thiện chất lượng sống (r = 0,6).NgườiNghiên cứu trước–sau không nhóm chứng; PSG lưu động ở thời điểm ban đầu, 3 tháng và 12 tháng. · n = 18 trẻ (11 trẻ ở tháng 12), Thuỵ ĐiểnHallböök và cs., 2007 (tóm tắt)

Protein#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-034Theo tổng quan Binks 2020, trong một thử nghiệm giảm năng lượng, chế độ 20% năng lượng từ protein đi kèm giấc ngủ tốt hơn so với 10% và 30%; một nghiên cứu khác ghi nhận ít lần thức giấc hơn sau các bữa giàu protein.Protein 20% tốt hơn 10% và 30% năng lượng; nguồn protein không tạo khác biệt.Tổng quanTổng quan tường thuật dẫn các thử nghiệm số 54 và số 50. · Không ghi trong phần đã đọcBinks và cs., 2020
b1-039Ở người thừa cân/béo phì ăn chế độ giảm 750 kcal/ngày trong 16 tuần, nhóm protein cao (1,5 g/kg/ngày) có điểm PSQI tổng tốt hơn nhóm protein thường (0,8 g/kg/ngày) ở cuối can thiệp.Điểm PSQI tổng tuần 16: 4,0 ± 0,6 (protein cao) so với 5,9 ± 0,5 (protein thường); P < 0,01. Điểm cao hơn = ngủ kém hơn.NgườiRCT song song: 3 tuần nền (0,8 g/kg/ngày) rồi 16 tuần giảm 750 kcal/ngày; giấc ngủ đo bằng PSQI tự báo cáo ở tuần 4, 8, 12, 16. · n = 44 người thừa cân/béo phì (12 nam, 32 nữ; tuổi TB 52; BMI TB 31,4); protein thường n = 23, protein cao n = 21Zhou và cs., 2016 (tóm tắt)
b1-040Trong thử nghiệm thí điểm chéo cùng bài, điểm PSQI tổng xấu hơn khi ăn 10% năng lượng từ protein so với 20%; mức 30% ở giữa — quan hệ không tuyến tính.PSQI tổng: 6,0 ± 0,4 (10%) so với 5,0 ± 0,4 (20%), P < 0,05; 5,4 ± 0,6 (30%).NgườiThử nghiệm chéo thí điểm: 3 giai đoạn 4 tuần liên tiếp (10%, 20%, 30% protein), thứ tự ngẫu nhiên, đều giảm 750 kcal/ngày; nguồn protein bò–heo (5 người) hoặc đậu nành–đậu (9 người); PSQI. · n = 14 người thừa cân/béo phì (3 nam, 11 nữ; tuổi TB 56)Zhou và cs., 2016 (tóm tắt)
b1-044Trong dữ liệu RCT mà tổng quan Sutanto 2020 tổng hợp, nhóm "ngủ tốt" có tỉ lệ năng lượng từ protein cao hơn nhóm "ngủ kém" ở cả 4 kết cục; tỉ lệ carbohydrate thấp hơn ở 3 kết cục (thời lượng, vào giấc, hiệu quả) nhưng cao hơn ở kết cục PSQI.Protein (RCT): ngủ tốt 30,0%, 22,5%, 31,1%, 33,8% so với ngủ kém 18,3%, 16,7%, 20,0%, 20,0% (theo thời lượng, PSQI, vào giấc, hiệu quả). Carbohydrate (RCT): 45,0%, 39,4%, 37,5% so với 52,5%, 48,8%, 48,8% (thời lượng, vào giấc, hiệu quả). Ngoại lệ PSQI: carbohydrate 56,3% (ngủ tốt) so với 45,0% (ngủ kém).Tổng quanTrung bình mô tả theo nhóm, không phải ước lượng gộp có KTC; chủ yếu từ 4 RCT. · 4 RCT (cỡ mẫu từng RCT không ghi trong phần đã đọc)Sutanto và cs., 2020
b1-058Ở người tập luyện, 7 ngày ăn protein rất cao (> 2,2 g/kg/ngày) so với mức thấp hơn không làm thay đổi chất lượng hay thời lượng ngủ đo bằng actigraphy.Không khác biệt ở mọi chỉ số giấc ngủ; nhóm protein cao ăn nhiều protein và năng lượng hơn có ý nghĩa.NgườiRCT chéo 14 ngày (mỗi chế độ 7 ngày, thứ tự ngẫu nhiên); giấc ngủ đo bằng actigraphy cổ tay (Actiwatch). · n = 18 nam và nữ tập luyện, tuổi 32 ± 8Antonio và cs., 2019 (tóm tắt)
b1-059Ở nam thanh niên khoẻ, 3 ngày ăn chế độ carbohydrate cao/protein thấp đi kèm thời gian vào giấc ngắn lại, còn chế độ protein cao/carbohydrate thấp đi kèm độ trễ REM dài ra và arousal vỏ não tăng.LPHC: SOL 15,8 → 11,4 phút (P < 0,001). HPLC: độ trễ REM 97,2 ± 19,9 → 112,0 ± 20,7 phút (P < 0,001); arousal vỏ não 7,2 → 8,5 lần/giờ.NgườiRCT chéo; hai giai đoạn 3 ngày đẳng năng lượng: protein cao/carbohydrate thấp (HPLC, tỉ lệ protein/carbohydrate 0,44; 2 g protein/kg và 4,45 g carbohydrate/kg) so với protein thấp/carbohydrate cao (LPHC, tỉ 0,20); giai đoạn thải trừ (washout) 2 tuần; giờ ăn cố định 07:30, 12:30, 19:30; giờ ngủ 23:00–07:00; PSG lưu động tại nhà (Sleep Profiler) đêm 0 và đêm 3; melatonin nước bọt 8 mẫu. · n = 24 nam khoẻ 19–25 tuổi, BMI bình thường, PhápSaidi và cs., 2022
b1-060Trong cùng thử nghiệm, diện tích dưới đường cong melatonin nước bọt ban đêm cao hơn sau chế độ carbohydrate cao/protein thấp; ngày hôm sau, năng lượng ăn vào cao hơn sau chế độ protein cao.AUC melatonin cao hơn với LPHC (P < 0,001); năng lượng ngày 4 cao hơn ~63–64 kcal sau HPLC (P < 0,05).NgườiRCT chéo; hai giai đoạn 3 ngày đẳng năng lượng: protein cao/carbohydrate thấp (HPLC, tỉ lệ protein/carbohydrate 0,44; 2 g protein/kg và 4,45 g carbohydrate/kg) so với protein thấp/carbohydrate cao (LPHC, tỉ 0,20); giai đoạn thải trừ (washout) 2 tuần; giờ ăn cố định 07:30, 12:30, 19:30; giờ ngủ 23:00–07:00; PSG lưu động tại nhà (Sleep Profiler) đêm 0 và đêm 3; melatonin nước bọt 8 mẫu. · n = 24 nam khoẻ 19–25 tuổi, BMI bình thường, PhápSaidi và cs., 2022
b1-080Ở nhân viên trung niên Nhật Bản, tỉ lệ năng lượng từ protein thấp (< 16%) đi kèm chất lượng ngủ kém, trong khi protein cao (≥ 19%) đi kèm khó duy trì giấc ngủ.Protein thấp: PQS OR 1,24 (1,04–1,48); DIS OR 1,24 (0,99–1,56). Protein cao: DMS OR 1,40 (1,12–1,76).NgườiCắt ngang; khẩu phần đo bằng bảng hỏi lịch sử ăn uống rút gọn (BDHQ, 58 thực phẩm, 1 tháng); triệu chứng mất ngủ tự báo cáo: khó vào giấc (DIS), khó duy trì giấc ngủ (DMS), chất lượng ngủ kém (PQS); hồi quy logistic hiệu chỉnh yếu tố nhân khẩu, tâm lý, hành vi, tiền sử bệnh. · n = 4.435 nhân viên trung niên không làm ca, Nhật BảnTanaka và cs., 2013 (tóm tắt)

Viết tắt trong trang

ADF
nhịn ăn cách ngày (alternate-day fasting)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
DLMO
thời điểm bắt đầu tiết melatonin trong ánh sáng mờ (dim light melatonin onset)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
ESS
thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
GERD
bệnh trào ngược dạ dày–thực quản (gastro-oesophageal reflux disease)
GI
chỉ số đường huyết (glycemic index)
GL
tải đường huyết (glycemic load)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
MSLT
nghiệm pháp đo độ trễ vào giấc nhiều lần (multiple sleep latency test)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RR
nguy cơ tương đối (relative risk)
SOL
thời gian đi vào giấc ngủ (sleep onset latency)
SWS
giấc ngủ sóng chậm (slow-wave sleep)
TRE
ăn giới hạn thời gian (time-restricted eating)
TST
tổng thời gian ngủ (total sleep time)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục A. Dữ kiện: thành phần và giờ ăn. Trong: Tập 8 — Dinh dưỡng và giấc ngủ: bữa ăn, vi chất, thực phẩm chức năng và chiều ngược lại. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/dinh-duong-va-giac-ngu/phu-luc-a-du-kien-b1/