giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục A. Dữ kiện: khác biệt giới, chu kỳ kinh nguyệt và hormone

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 38 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 71 dữ kiện của nhánh Khác biệt giới, chu kỳ kinh nguyệt và hormone đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b1-001) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương.

Dùng ở chương: Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-001Trong phân tích gộp (31 bài tìm được, 29 bài đưa vào phân tích tổng), nữ có nguy cơ mất ngủ cao hơn nam khoảng 41%.Nguy cơ tương đối (relative risk, RR) nữ/nam = 1,41 (KTC 95%: 1,28–1,55)Tổng quanPhân tích gộp nghiên cứu quan sát: 31 bài tìm được, 2 bài chỉ báo tỉ lệ phân nhóm, 29 bài vào phân tích tổng; mất ngủ tự báo cáo theo nhiều định nghĩa; 9 phân tích phân nhóm theo điều kiện khác nhau. Cỡ mẫu: n = 1.265.015 người (718.828 nữ, 546.187 nam)Zhang và Wing, 2006 (tóm tắt)
b1-002Cũng phân tích gộp đó ghi nhận mức trội ở nữ tăng dần theo tuổi, rõ nhất ở người cao tuổi, và thấp hơn tương đối ở Đông Á.Định tính (tóm tắt không nêu RR theo nhóm tuổi hay theo vùng)Tổng quanPhân tích gộp 31 bài; phân tích phân nhóm theo tuổi, vùng, chất lượng nghiên cứu. Cỡ mẫu: n = 1.265.015 ngườiZhang và Wing, 2006 (tóm tắt)
b1-003Phân tích gộp 13 nghiên cứu chỉ nhận mất ngủ chẩn đoán theo DSM/ICSD/ICD cho thấy tỉ lệ mất ngủ ở nữ cao hơn nam.Tỉ số chênh (odds ratio, OR) nữ/nam = 1,58 (KTC 95%: 1,35–1,85); tỉ lệ gộp chung 22,0% (KTC 95%: 17,0–28,0%), I² = 99,7%Tổng quanPhân tích gộp 13 nghiên cứu quan sát, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên; mất ngủ chẩn đoán theo tiêu chuẩn quốc tế (DSM, ICSD, ICD); Egger t = 1,06, p = 0,31 (không thấy sai lệch xuất bản). Cỡ mẫu: n = 326.908 người (139.349 nữ, 187.559 nam)Zeng và cs., 2020
b1-004Trong phân tích gộp 2020, OR nữ/nam là 1,86 ở nhóm tuổi trung bình ≤ 44,7 và 1,31 ở nhóm > 44,7; theo châu lục: châu Á 1,77, châu Âu 1,84, Bắc Mỹ 1,75, châu Phi 1,25; khác biệt giữa các phân nhóm không có ý nghĩa thống kê.OR ≤ 44,7 tuổi: 1,86 (1,80–1,91); > 44,7 tuổi: 1,31 (1,12–1,53); châu Á 1,77; châu Âu 1,84; Bắc Mỹ 1,75; châu Phi 1,25Tổng quanPhân tích phân nhóm và hồi quy gộp (meta-regression) trong phân tích gộp 13 nghiên cứu; tuổi chia theo trung vị tuổi trung bình của nghiên cứu. Cỡ mẫu: 13 nghiên cứu, n = 326.908Zeng và cs., 2020
b1-012Trong mẫu cộng đồng 2.685 người 37–92 tuổi đo PSG, nam ngủ nông hơn nữ và nữ có lượng giấc ngủ sóng chậm trung bình nhiều hơn 106%.Giấc ngủ sóng chậm ở nữ nhiều hơn 106% so với namNgườiCắt ngang trong thuần tập đa trung tâm (Sleep Heart Health Study); PSG; biến độc lập gồm tuổi, giới, dân tộc, bệnh kèm và chỉ số rối loạn hô hấp. Cỡ mẫu: n = 2.685 người, 37–92 tuổi, Hoa KỳRedline và cs., 2004 (tóm tắt)
b1-013Cũng nghiên cứu đó: tuổi cao đi kèm giấc ngủ suy giảm rõ ở nam, còn ở nữ mối liên quan kém nhất quán hơn.Định tínhNgườiCắt ngang, PSG tại nhà trong Sleep Heart Health Study. Cỡ mẫu: n = 2.685Redline và cs., 2004 (tóm tắt)
b1-014Trong mẫu dân số chung không than phiền về giấc ngủ, nữ có tỉ lệ thời gian ngủ cao hơn, ít giai đoạn 1 hơn và nhiều giấc ngủ sóng chậm hơn nam khi đo PSG một đêm trong phòng thí nghiệm.Định tính (tóm tắt không nêu số trung bình)NgườiCắt ngang; PSG 1 đêm trong phòng thí nghiệm; mẫu dân số chung Trung Pennsylvania; kèm một nghiên cứu phụ 66 người trẻ khoẻ mạnh về phản ứng với kích thích (lấy máu). Cỡ mẫu: n = 1.324 người không than phiền về giấc ngủBixler và cs., 2009 (tóm tắt)
b1-021Trong dữ liệu bảo hiểm y tế toàn dân Đài Loan, phụ nữ được chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome, PCOS) đi kèm nguy cơ được chẩn đoán ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea, OSA) về sau cao hơn nhóm chứng ghép cặp tuổi.Tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio, HR) 2,63 (KTC 95%: 1,57–4,04)NgườiThuần tập hồi cứu từ cơ sở dữ liệu NHIRD Đài Loan; PCOS và OSA theo mã chẩn đoán; theo dõi đến cuối 2011; hiệu chỉnh dữ liệu nhân khẩu và bệnh kèm. Cỡ mẫu: 4.595 phụ nữ PCOS và 4.595 người chứng ghép cặp 1:1 (vào nghiên cứu 1998–2009)Lin và cs., 2017 (tóm tắt)
b1-034Trong mẫu ngẫu nhiên vị thành niên 13–16 tuổi, trước khi có kinh, nguy cơ mất ngủ ở nữ không khác nam. Khác biệt giới chỉ xuất hiện sau khi có kinh — tác giả ghi có kinh đi kèm "nguy cơ mất ngủ tăng 2,75 lần" trong phân tích thăm dò (tóm tắt không nêu loại tỉ số và KTC).Tỉ lệ mất ngủ (DSM-IV) suốt đời 10,7%; 88% người từng mất ngủ vẫn đang mất ngủ; có kinh đi kèm nguy cơ tăng 2,75 lần theo chữ của tác giả (không nêu KTC, phân tích thăm dò)NgườiCắt ngang, phỏng vấn chẩn đoán theo DSM-IV; mẫu ngẫu nhiên từ một hệ thống bảo hiểm y tế vùng Detroit (Hoa Kỳ). Cỡ mẫu: n = 1.014 vị thành niên 13–16 tuổiJohnson và cs., 2006 (tóm tắt)
b1-035Ở học sinh Hồng Kông 6–17 tuổi, tỉ lệ triệu chứng mất ngủ tăng theo giai đoạn dậy thì Tanner ở cả hai giới nhưng tăng mạnh hơn ở nữ; ưu thế ở nữ xuất hiện từ Tanner 4, sau hiệu chỉnh tuổi, thu nhập gia đình và giờ vào học.Tanner 1 → 5: nữ 3,4% → 12,2% (gấp 3,6); nam 4,3% → 9,1% (gấp 2,1); tương tác giới × Tanner p < 0,001NgườiCắt ngang tại trường học (31 trường); triệu chứng mất ngủ = khó vào giấc, khó duy trì hoặc thức sớm ≥ 3 lần/tuần trong tháng qua; mức độ bằng ISI; giai đoạn Tanner. Cỡ mẫu: n = 7.507 trẻ và vị thành niên 6–17 tuổi (48,5% nữ, có trọng số), Hồng KôngZhang và cs., 2016 (tóm tắt)
b1-036Trong thực nghiệm lệch pha cưỡng bức (forced desynchrony), biên độ dao động theo nhịp sinh học của hiệu suất nhận thức lớn hơn ở nữ ở 11/39 chỉ số, nên suy giảm nhận thức vào ban đêm ở nữ nhiều hơn nam; biên độ melatonin ở nữ cũng lớn hơn.Nữ có biên độ nhịp lớn hơn ở 11/39 chỉ số hiệu suất; biên độ melatonin 82,62 ± 8,09 so với 59,49 ± 5,95 pg/mL (p < 0,035); thời lượng ngủ thường ngày không khác (p = 0,54)NgườiThực nghiệm phòng thí nghiệm, giao thức ngày 28 giờ kéo dài 10 ngày; đo melatonin, EEG khi ngủ, bộ bài kiểm tra nhận thức 40 phút mỗi ~3 giờ; không kiểm soát pha chu kỳ kinh; 9 nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết. Cỡ mẫu: n = 34 (16 nam, 18 nữ), AnhSanthi và cs., 2016
b1-040Tổng quan 2023 nhận định progesterone và các chất chuyển hoá của nó nhìn chung đi kèm tác dụng thúc đẩy giấc ngủ, còn sự sụt giảm progesterone ở cuối pha hoàng thể đi kèm giấc ngủ bị gián đoạn; estrogen nội sinh không cho thấy tương quan rõ với thay đổi giấc ngủ theo chu kỳ kinh.Định tínhTổng quanTổng quan tường thuật về hormone sinh sản và giấc ngủ qua các giai đoạn đời. Cỡ mẫu: Không áp dụngHaufe và Leeners, 2023
b1-044Phân tích gộp 2025 về tỉ lệ rối loạn mất ngủ trong dân số chung ghi nhận 12/14 nghiên cứu dùng tiêu chuẩn DSM có tỉ lệ ở nữ cao hơn nam, nhưng hồi quy gộp theo tỉ lệ nam trong mẫu không cho thấy liên quan với tỉ lệ mất ngủ.Tỉ lệ gộp (theo DSM) 13,9% (KTC 95%: 10,9–17,6%), I² = 99,6%; ước tính chính xác nhất (phỏng vấn trực tiếp) 12,4% (9,0–16,8%); hồi quy theo % nam: b = 0,036, p = 0,94 (k = 19)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp 47 nghiên cứu (48 mẫu); phân nhóm theo cách chẩn đoán (phỏng vấn DSM, câu hỏi tự báo cáo DSM, bảng hỏi có điểm cắt); hồi quy gộp theo tuổi trung bình và % nam. Cỡ mẫu: 47 nghiên cứu (tổng n không nêu trong phần đọc được)van Straten và cs., 2025
b1-045Trong khảo sát dân số Hồ Nam, tỉ lệ ngủ kém (PSQI > 5) gần như bằng nhau giữa nam và nữ khi so sánh thô, nhưng trong mô hình đa biến nữ giới đi kèm tỉ số chênh ngủ kém cao hơn.Ngủ kém: nam 26,3%, nữ 27,0% (p = 0,232); điểm PSQI trung bình nữ 4,32 ± 2,70 so với nam 4,21 ± 2,64 (p = 0,003); OR hiệu chỉnh cho nữ 1,367 (p < 0,001)NgườiCắt ngang dân số, chọn mẫu cụm 135 điểm, phỏng vấn trực tiếp tại nhà (2012); chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) bản tiếng Trung, điểm cắt > 5; hồi quy logistic hiệu chỉnh tuổi, giới, hôn nhân, học vấn, thành thị/nông thôn, hút thuốc, uống rượu. Cỡ mẫu: n = 25.827 người ≥ 12 tuổi, Hồ Nam, Trung QuốcTang và cs., 2017
b1-046Phân tích gộp 17 nghiên cứu dân số chung ở Trung Quốc không thấy khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ mất ngủ giữa nam và nữ.Tỉ lệ gộp 15,0% (KTC 95%: 12,1–18,5%), I² = 99,5%; không khác biệt theo giới (tóm tắt không nêu số theo giới)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp 17 nghiên cứu quan sát dân số chung, phân tích phân nhóm theo giới và thời kỳ. Cỡ mẫu: n = 115.988Cao và cs., 2017
b1-054Ở chuột cống cái đã cắt buồng trứng, bổ sung estradiol làm giấc ngủ NREM và REM trong pha tối (pha hoạt động của chuột) giảm còn khoảng 45% mức nền; ở chuột nhắt tác dụng yếu hơn; ở chuột đực không có tác dụng.NREM và REM pha tối còn khoảng 45% mức nền (chuột cống cái)Động vậtTổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên chuột cống (Rattus) và chuột nhắt (Mus) đã cắt tuyến sinh dục, bổ sung hormone, đo EEG/EMG. Cỡ mẫu: Không áp dụng (tổng quan)Mong và Cusmano, 2016
b1-055Ở loài gặm nhấm, cắt buồng trứng xoá các dao động giấc ngủ ban đêm theo chu kỳ động dục, và khi không còn steroid sinh dục lưu hành, khác biệt giới về hành vi và cấu trúc giấc ngủ biến mất; cắt tinh hoàn không làm thay đổi đáng kể giấc ngủ ở con đực.Định tínhĐộng vậtTổng quan thực nghiệm trên chuột cống và chuột nhắt. Cỡ mẫu: Không áp dụngMong và Cusmano, 2016
b1-056Tổng quan nêu nghịch lý: nữ ở nhiều lứa tuổi báo nhiều vấn đề giấc ngủ hơn và có nguy cơ mất ngủ suốt đời cao hơn nam khoảng 40%, trong khi các đo lường khách quan (PSG, hoạt động sóng chậm) lại cho thấy giấc ngủ của nữ sâu và liên tục hơn.Nguy cơ mất ngủ suốt đời ở nữ cao hơn khoảng 40%; hoạt động sóng chậm cao hơn ở nữ ở mọi lứa tuổi (định tính)Tổng quanTổng quan tường thuật. Cỡ mẫu: Không áp dụngMong và Cusmano, 2016
b1-059Trong 2.827 bệnh nhân OSA, nữ lớn tuổi hơn, BMI cao hơn nhưng chỉ số ngưng thở–giảm thở (AHI) và chỉ số giảm bão hoà oxy thấp hơn nam. Nữ báo nhiều hơn nghẹt thở về đêm, đau đầu buổi sáng, mệt mỏi, triệu chứng mất ngủ, giảm trí nhớ, rối loạn khí sắc, còn nam báo ngưng thở có người chứng kiến nhiều hơn; tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tuyến giáp, hen gặp nhiều hơn ở nữ.Tuổi: nữ 56,1 ± 9,7 so với nam 50,4 ± 11,6 (p < 0,0001); BMI: 36,3 ± 8,6 so với 31,8 ± 5,9 kg/m² (p < 0,0001); AHI thấp hơn ở nữ (p < 0,0001)NgườiNghiên cứu lâm sàng so sánh đặc điểm nhân khẩu, lâm sàng và PSG giữa nam và nữ bệnh nhân OSA. Cỡ mẫu: n = 2.827 bệnh nhân (2.052 nam, 775 nữ)Başoğlu và Tasbakan, 2018 (tóm tắt)
b1-060Ở người ≥ 65 tuổi sống tại cộng đồng, hơn 70% cả nam lẫn nữ có ít nhất một triệu chứng mất ngủ; nữ thường có 2–3 triệu chứng cùng lúc, nam thường chỉ một. Ngáy to đi kèm khó duy trì giấc ngủ chỉ ở nam; ở nữ, dùng liệu pháp hormone, chế độ ăn Địa Trung Hải, cà phê và rượu đi kèm ít triệu chứng hơn.> 70% có ≥ 1 triệu chứng mất ngủ ở cả hai giới; khó duy trì giấc ngủ là triệu chứng thường gặp nhấtNgườiCắt ngang trong thuần tập cộng đồng người cao tuổi; triệu chứng mất ngủ tự báo cáo (khó vào giấc, khó duy trì, thức sớm). Cỡ mẫu: n = 5.886 (2.673 nam, 3.213 nữ) ≥ 65 tuổiJaussent và cs., 2011 (tóm tắt)
b1-061Trong 160 người trưởng thành đo PSG, nữ có biên độ thoi ngủ nhanh lớn hơn và tần số đỉnh thoi ngủ (chậm và nhanh) cao hơn nam, còn mật độ thoi ngủ nhanh ở vùng đỉnh–chẩm cao hơn ở nam; tương quan giữa thoi ngủ và trí thông minh chủ yếu thấy ở nữ.Biên độ thoi ngủ nhanh tại Cz: nữ 8,02 so với nam 6,81 μV (p = 0,0005); tần số đỉnh thoi ngủ nhanh 13,92 so với 13,55 Hz (p = 0,00006); mật độ thoi ngủ nhanh tại O2: nam 7,29 so với nữ 6,76/phút (p = 0,002)NgườiCắt ngang; PSG 2 đêm liên tiếp (phân tích đêm 2); phát hiện thoi ngủ bằng phương pháp điều chỉnh theo cá nhân (IAM); so sánh nam–nữ bằng kiểm định t không hiệu chỉnh tuổi (tương quan với trí thông minh hiệu chỉnh tuổi). Cỡ mẫu: n = 160 (72 nữ, 88 nam), 17–69 tuổiUjma và cs., 2014
b1-068Trong thuần tập RHINE, triệu chứng rối loạn thở khi ngủ (ngáy kèm buồn ngủ ban ngày) đi kèm nguy cơ mắc mới tăng huyết áp và đái tháo đường ở cả nam và nữ, độc lập với tuổi, BMI, hút thuốc và tăng cân.Tăng huyết áp OR hiệu chỉnh 1,5 (1,2–1,8); đái tháo đường 1,5 (1,05–2,3)NgườiThuần tập bảng hỏi, theo dõi khoảng 11 năm (1999–2001 đến 2010–2012); hiệu chỉnh tuổi, BMI, hút thuốc, tăng cân. Cỡ mẫu: n = 10.854 (4.962 nam, 5.892 nữ)Lindberg và cs., 2017 (tóm tắt)
b1-070Trong mẫu thực nghiệm lệch pha cưỡng bức, nữ có giờ đi ngủ và thức dậy ngày nghỉ sớm hơn nam, nhưng thời lượng ngủ thường ngày không khác.Ngày nghỉ: giờ đi ngủ nữ 23:51 so với nam 01:02 (p = 0,01); giờ thức 08:35 so với 09:56 (p = 0,003); thời lượng ngủ không khác (p = 0,54)NgườiGiờ ngủ thường ngày tự báo cáo trước khi vào phòng thí nghiệm. Cỡ mẫu: n = 34 (16 nam, 18 nữ), AnhSanthi và cs., 2016
b1-071Bản thảo phân tích gộp 2026 (chưa bình duyệt) trên người ngủ bình thường cho thấy nữ có công suất sigma (vùng thoi ngủ) và công suất delta cao hơn nam. Mật độ thoi ngủ có xu hướng cao hơn ở nữ nhưng không có ý nghĩa thống kê (chỉ 2 nghiên cứu); không gộp được dữ liệu tương tác giới × mất ngủ do báo cáo thống kê thiếu.SMD (giá trị âm nghiêng về nữ): công suất sigma tuyệt đối −0,29 (KTC 95%: −0,50 đến −0,08), k = 5, n = 365, I² = 0%; công suất delta −0,50 (−0,70 đến −0,30), k = 7, n = 407, I² = 0%; mật độ thoi ngủ −0,65 (−1,95 đến 0,66), k = 2, n = 190, I² = 85% (không có ý nghĩa)Tổng quanTổng quan hệ thống (PubMed, Embase, Scopus, PsycInfo), công cụ Cochrane đánh giá sai lệch; phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên ở 13 nghiên cứu người ngủ bình thường; tổng 43 nghiên cứu đạt tiêu chuẩn. Cỡ mẫu: 13 nghiên cứu, n = 668 người ngủ bình thườngWalsh và cs., 2026

Dùng ở chương: Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-005Phụ nữ có hội chứng tiền kinh nguyệt (premenstrual syndrome, PMS) nặng tự đánh giá chất lượng giấc ngủ kém hơn ở pha hoàng thể muộn, trong khi cấu trúc giấc ngủ đo bằng đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) không khác có ý nghĩa theo mức triệu chứng (hiệu quả giấc ngủ có xu hướng thấp hơn ở nhóm PMS, p = 0,06).Chất lượng giấc ngủ tự báo cáo kém hơn ở pha hoàng thể muộn (p = 0,02) chỉ ở nhóm PMS; hiệu quả giấc ngủ PSG có xu hướng thấp hơn ở nhóm PMS (p = 0,06); % giấc ngủ sóng chậm tương đương (vd. pha nang noãn: 16,8% nhóm chứng, 18,4% nhóm PMS)NgườiNghiên cứu bệnh–chứng trong phòng thí nghiệm; PSG ở pha nang noãn giữa và pha hoàng thể muộn (rụng trứng xác nhận bằng que thử LH); PMS chẩn đoán bằng SCID, PSST và thang Penn theo dõi ít nhất 2 chu kỳ. Cỡ mẫu: n = 9 phụ nữ PMS nặng (5 đạt tiêu chuẩn PMDD theo DSM-IV) và 12 phụ nữ không triệu chứng, 18–40 tuổiBaker và cs., 2007
b1-006Ở cả phụ nữ có và không có PMS, pha hoàng thể muộn đi kèm thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) tăng và công suất dải sigma (vùng thoi ngủ, spindle) tăng, mạnh nhất ở 14–15 Hz.WASO tăng ở pha hoàng thể muộn (p = 0,02); công suất sigma tăng (p < 0,01)NgườiPSG và phân tích phổ điện não (EEG) ở pha nang noãn giữa so với pha hoàng thể muộn. Cỡ mẫu: n = 21 phụ nữ (9 PMS, 12 chứng), 18–40 tuổiBaker và cs., 2007
b1-007Ở phụ nữ đầu giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh (STRAW) còn rụng trứng, pha hoàng thể (progesterone cao) đi kèm nhiều lần thức giấc và vi thức giấc (arousal) mỗi giờ ngủ hơn pha nang noãn, đo bằng PSG.Số lần thức giấc/giờ tăng (p = 0,003), arousal/giờ tăng (p = 0,025); WASO không khác có ý nghĩa theo pha (p = 0,087)NgườiThiết kế lặp trong cùng người; 1 đêm PSG ở pha nang noãn và 1 đêm ở pha hoàng thể; rụng trứng xác nhận bằng progesterone ≥ 3 ng/mL. Cỡ mẫu: n = 20 phụ nữ, tuổi 48,8 ± 2,9 (11 có rối loạn mất ngủ, 9 không)de Zambotti và cs., 2015b
b1-008Trong cùng nghiên cứu, tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm (N3) thấp hơn ở pha hoàng thể so với pha nang noãn.N3 (% thời gian trên giường): nhóm mất ngủ 12,4% → 10,5%; nhóm không mất ngủ 12,6% → 10,0% (p = 0,024)NgườiPSG 2 đêm (nang noãn, hoàng thể) trong cùng người. Cỡ mẫu: n = 20 phụ nữ đầu chuyển tiếp mãn kinhde Zambotti và cs., 2015b
b1-009Pha hoàng thể đi kèm mật độ thoi ngủ cao hơn, thoi ngủ dài hơn và hoạt động EEG 14–17 Hz tăng; tần số đỉnh thoi ngủ tăng chỉ ở nhóm không mất ngủ.Mật độ thoi ngủ p = 0,007; độ dài thoi ngủ p = 0,037; công suất 14–15 Hz và 15–16 Hz p < 0,001; tương tác nhóm × pha cho tần số đỉnh p = 0,018NgườiPhân tích phổ EEG kênh Cz trên PSG 2 pha. Cỡ mẫu: n = 20de Zambotti và cs., 2015b
b1-010Đo bằng nhẫn Oura, nhiệt độ da ngoại vi (distal skin temperature) và nhịp tim trong khi ngủ theo mô hình hai pha: cao hơn ở giữa và cuối pha hoàng thể so với khi hành kinh.Nhiệt độ da: giữa pha hoàng thể +0,198 (KTC 95%: 0,103–0,293), cuối pha hoàng thể +0,242 (0,148–0,336), p < 0,001 (đơn vị theo thiết bị, so với kỳ kinh); nhịp tim: +2,38 và +2,49 nhịp/phút, p = 0,001NgườiNghiên cứu quan sát tại nhà qua 1 chu kỳ; nhẫn Oura đo liên tục + nhật ký hằng ngày; rụng trứng xác nhận bằng que thử LH nước tiểu; mô hình tuyến tính phân cấp; không đo hormone. Cỡ mẫu: n = 26 phụ nữ khoẻ mạnh 18–35 tuổi (trung bình 24,4), California, Hoa KỳAlzueta và cs., 2022
b1-011Trong cùng nghiên cứu, tổng thời gian ngủ, độ trễ vào giấc, WASO và tỉ lệ các giai đoạn ngủ do nhẫn Oura ước tính không thay đổi có ý nghĩa giữa các pha chu kỳ; chất lượng giấc ngủ tự báo cáo cũng không đổi, trong khi triệu chứng cơ thể tăng khi hành kinh.Tổng thời gian ngủ trung bình 7,04 giờ (SD 1,25); hiệu quả giấc ngủ giữa pha hoàng thể thấp hơn kỳ kinh 1,96 điểm % (p = 0,026) nhưng mô hình tổng thể không ý nghĩa (p = 0,12)NgườiNhư trên; giai đoạn ngủ do thuật toán thiết bị ước tính, không phải PSG. Cỡ mẫu: n = 26Alzueta và cs., 2022
b1-022Trong nghiên cứu phòng thí nghiệm, nhiệt độ trực tràng trung bình 24 giờ cao hơn ở pha hoàng thể so với pha nang noãn và cao hơn ở phụ nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết; mức giảm nhiệt độ ban đêm ở phụ nữ có chu kỳ tự nhiên bị san phẳng so với nam.Nhiệt độ trung bình 24 giờ: nang noãn 37,0 °C, hoàng thể 37,4 °C (p = 0,005), dùng thuốc tránh thai 37,5 °C, nam 37,1 °C; chỉ số đáp ứng nhiệt 7 giờ trên giường: −1,9; −1,5; −2,8; −4,2 °C·giờ (p = 0,0005)NgườiThực nghiệm phòng thí nghiệm; nhiệt độ trực tràng ghi mỗi phút ≥ 24 giờ; PSG 7 giờ đầu; phụ nữ chu kỳ tự nhiên đo ở giữa pha nang noãn và giữa pha hoàng thể (lặp trong người), nam và người dùng thuốc đo 1 lần. Cỡ mẫu: n = 8 mỗi nhóm (nữ chu kỳ tự nhiên, nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết, nam), khoảng 21–22 tuổi, Nam PhiBaker và cs., 2001
b1-023Trong cùng nghiên cứu, cấu trúc giấc ngủ hầu như không khác theo pha chu kỳ hay giới, nhưng nhóm dùng thuốc tránh thai nội tiết có ít giấc ngủ sóng chậm hơn nhóm chu kỳ tự nhiên.Giấc ngủ sóng chậm: nang noãn 25%, hoàng thể 26%, dùng thuốc 18%, nam 22% (ANOVA p = 0,045); hiệu quả giấc ngủ 95%, 94%, 92%, 91% (không khác biệt)NgườiPSG 7 giờ đầu đêm, 1 đêm ở phòng thí nghiệm mỗi lần đo. Cỡ mẫu: n = 24 (8 mỗi nhóm)Baker và cs., 2001
b1-024Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 13 nghiên cứu không thấy thuốc tránh thai nội tiết đi kèm thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về giấc ngủ; khác biệt có ý nghĩa thống kê duy nhất là WASO ngắn hơn khoảng 7 phút ở người dùng.WASO −7,12 phút (KTC 95%: −12,80 đến −1,44), I² = 65%, p = 0,01; 33 phép gộp (3 đo chủ quan, 30 đo PSG)Tổng quanTổng quan hệ thống (PubMed, Scopus, Web of Science) và phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên DerSimonian–Laird; kết cục chủ quan và PSG. Cỡ mẫu: 13 nghiên cứu (tóm tắt không nêu tổng số người)Bezerra và cs., 2023 (tóm tắt)
b1-025Trong khảo sát trực tuyến ở phụ nữ 18–40 tuổi, người dùng thuốc tránh thai nội tiết báo nhiều than phiền về giấc ngủ hơn, điểm buồn ngủ ban ngày (ESS) và điểm mức độ mất ngủ (ISI) cao hơn người không dùng; nhóm dùng thuốc thế hệ ba có tổng thời gian ngủ tự báo cáo ngắn hơn.Định tính trong tóm tắt (không nêu OR hay trung bình)NgườiCắt ngang, bảng hỏi trực tuyến; thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale, ESS) và chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI). Cỡ mẫu: 2.055 người trả lời, 1.286 đủ tiêu chuẩn phân tích, trong đó 918 đang dùng thuốc tránh thai nội tiếtBezerra và cs., 2020 (tóm tắt)
b1-028Ở phụ nữ trẻ đau bụng kinh nguyên phát nặng, đêm đau kinh dùng giả dược có hiệu quả giấc ngủ và tỉ lệ REM thấp hơn đêm không đau (đo PSG); chất lượng giấc ngủ tự đánh giá đêm giả dược thấp hơn nhưng không khác có ý nghĩa. Trong đêm đau, dùng thuốc giảm đau chống viêm không steroid (diclofenac) đi kèm hiệu quả giấc ngủ, REM và chất lượng giấc ngủ tự đánh giá cao hơn đêm giả dược.Hiệu quả giấc ngủ: không đau 97 ± 1%, đau + giả dược 95 ± 3% (p < 0,05 so với không đau), đau + diclofenac 97 ± 1% (p < 0,05 so với giả dược); REM (% TST): 26 ± 4, 22 ± 5 (p < 0,05 so với không đau), 26 ± 3 (p < 0,01 so với giả dược); chất lượng giấc ngủ (VAS): 70 ± 20, 56 ± 19 (không có ý nghĩa so với không đau), 77 ± 15 mm (p < 0,05 so với giả dược); giấc ngủ sóng chậm và WASO không khácNgườiThử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, bắt chéo, có giả dược; PSG trong phòng thí nghiệm 3 đêm: pha nang noãn (không đau), ngày kinh 1 với thuốc, ngày kinh 1 với giả dược. Cỡ mẫu: n = 10 nữ sinh viên chưa sinh, 21 ± 1 tuổi, Nam PhiIacovides và cs., 2009
b1-029Phụ nữ đau bụng kinh nguyên phát có nhiệt độ thân trên giường cao hơn, ít REM hơn và estrogen buổi sáng cao hơn nhóm chứng ở các pha nang noãn giữa, hoàng thể giữa và hành kinh; ở cả hai nhóm, REM ít hơn khi nhiệt độ cao ở pha hoàng thể và hành kinh.Nhiệt độ trung bình 7 giờ trên giường cao hơn ở nhóm đau bụng kinh (hiệu ứng nhóm p = 0,005); REM ít hơn (p = 0,03), REM giảm ở pha hoàng thể và hành kinh so với nang noãn ở cả hai nhóm (p = 0,001); estrogen buổi sáng cao hơn (p = 0,005); đêm hành kinh: hiệu quả giấc ngủ 88 ± 11% so với 96 ± 2% ở các pha khác (tương tác p = 0,02), nhóm chứng 95%; chất lượng giấc ngủ (VAS) 48 ± 24 so với 65 ± 21 mm ở nhóm chứng (p = 0,04)NgườiNghiên cứu bệnh–chứng trong phòng thí nghiệm, ghi giấc ngủ, nhiệt độ thân ban đêm và hormone ở nhiều pha chu kỳ. Cỡ mẫu: n = 10 phụ nữ đau bụng kinh nguyên phát, 8 phụ nữ chu kỳ bình thườngBaker và cs., 1999
b1-030Trong mẫu dịch tễ giấc ngủ São Paulo (EPISONO) đo PSG một đêm, phụ nữ có đau bụng kinh có hiệu quả giấc ngủ thấp hơn, điểm mệt mỏi cao hơn và chất lượng sống thể chất kém hơn phụ nữ không đau bụng kinh; chỉ dấu viêm không khác.Hiệu quả giấc ngủ 82,5% ± 13,8 so với 86,2% ± 10,9NgườiCắt ngang, phân tích lại dữ liệu EPISONO 2007; PSG loại I một đêm trong phòng thí nghiệm; đau bụng kinh tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 328 phụ nữ, São Paulo, BrazilIshikura và cs., 2024 (tóm tắt)
b1-031Ở 18 phụ nữ PMS nặng, chất lượng giấc ngủ tự đánh giá kém hơn ở pha hoàng thể muộn nhưng PSG không thấy thay đổi tương ứng. Nhóm PMS có nhiều giấc ngủ sóng chậm và hoạt động sóng chậm hơn nhóm chứng ở cả hai pha, và có lo âu nét tính cách, trầm cảm, mệt mỏi, căng thẳng cao hơn.Định tính trong tóm tắtNgườiBệnh–chứng; PSG 1 đêm ở pha nang noãn và 1 đêm ở pha hoàng thể muộn; thang tự báo cáo về lo âu, trầm cảm, mệt mỏi, căng thẳng. Cỡ mẫu: n = 18 phụ nữ PMS nặng (30,5 ± 7,6 tuổi) và 18 phụ nữ ít triệu chứngBaker và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-032Ở phụ nữ rối loạn khí sắc tiền kinh (premenstrual dysphoric disorder, PMDD) có mất ngủ pha hoàng thể, ngủ phòng thí nghiệm mỗi đêm thứ ba suốt một chu kỳ: nhóm PMDD có nhiều giấc ngủ sóng chậm hơn và melatonin thấp hơn nhóm chứng. Ở cả hai nhóm, giai đoạn 2 tăng ở giữa pha hoàng thể và REM giảm ở đầu pha hoàng thể.Định tính trong tóm tắtNgườiBệnh–chứng, PSG lặp lại mỗi đêm thứ ba qua trọn một chu kỳ kinh; đo melatonin. Cỡ mẫu: n = 7 phụ nữ PMDD có mất ngủ pha hoàng thể, 5 người chứngShechter và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-033Trong khảo sát dịch tễ giấc ngủ São Paulo, 72,6% phụ nữ báo có PMS. Nhóm PMS có chất lượng giấc ngủ tự báo cáo kém hơn, cảm giác ngủ không phục hồi và mất ngủ dưới ngưỡng nhiều hơn, trong khi tổng thời gian ngủ đo bằng PSG lại dài hơn và độ bão hoà oxy ngoại vi thấp hơn.Tỉ lệ PMS tự báo cáo 72,6%; các khác biệt khác định tính trong tóm tắtNgườiCắt ngang trong khảo sát dịch tễ EPISONO; bảng hỏi chủ quan + PSG. Cỡ mẫu: n = 230 phụ nữ, São Paulo, BrazilNicolau và cs., 2018 (tóm tắt)
b1-039Trong thuần tập RHINE Bắc Âu, ở người có triệu chứng rối loạn thở khi ngủ (ngáy kèm buồn ngủ ban ngày), nam tự báo cáo đã được chẩn đoán ngưng thở khi ngủ và được can thiệp nhiều hơn nữ. Ở cả hai giới, các triệu chứng này đi kèm nguy cơ mắc mới tăng huyết áp và đái tháo đường.Trong nhóm có triệu chứng: đã được chẩn đoán nam 25% so với nữ 14% (p < 0,001); có can thiệp bất kỳ 17% so với 11% (p = 0,05); CPAP 6% so với 3% (p = 0,04); nữ giới đi kèm xác suất được can thiệp thấp hơn, OR hiệu chỉnh 0,3 (KTC 95%: 0,3–0,5)NgườiThuần tập dựa trên bảng hỏi, ban đầu 1999–2001 và theo dõi 2010–2012; triệu chứng, chẩn đoán và can thiệp đều tự báo cáo; tóm tắt nêu tuổi, BMI, triệu chứng ban đầu và tăng cân là các yếu tố dự báo được can thiệp. Cỡ mẫu: Thuần tập n = 10.854 (4.962 nam, 5.892 nữ); các tỉ lệ chẩn đoán và can thiệp tính trên nhóm có triệu chứng (tóm tắt không nêu cỡ nhóm này)Lindberg và cs., 2017 (tóm tắt)
b1-042Theo dõi hằng ngày qua hai chu kỳ cho thấy không phải ai cũng khó ngủ theo cùng một kiểu: có nhóm khó ngủ tăng quanh kỳ kinh, có nhóm tăng giữa chu kỳ, và có nhóm không thay đổi theo chu kỳ. Khó ngủ tự báo cáo liên quan với tất cả các triệu chứng tâm lý được khảo sát nhưng chỉ với khoảng một nửa số triệu chứng cơ thể.Định tính (tóm tắt không nêu tỉ lệ mỗi nhóm)NgườiThuần tập ngắn, bảng hỏi trực tuyến hằng ngày về giấc ngủ, triệu chứng tâm lý và cơ thể trong 2 chu kỳ; phân nhóm theo kiểu biến thiên. Cỡ mẫu: n = 213 phụ nữ, tuổi trung bình 21,29 ± 4,01Van Reen và Kiesner, 2016 (tóm tắt)
b1-048Ở phụ nữ trẻ, mật độ thoi ngủ nhanh (13–15 Hz) cao hơn ở pha hoàng thể so với pha nang noãn và ở vùng trán cao hơn ở người dùng thuốc tránh thai đường uống so với pha nang noãn. Người dùng thuốc có tỉ lệ REM thấp hơn nhóm pha hoàng thể; các chỉ số TST, hiệu quả giấc ngủ, WASO, N3 không khác.Mật độ thoi ngủ nhanh: hoàng thể > nang noãn (p = 0,009); vùng trán: dùng thuốc > nang noãn (p = 0,002); REM: dùng thuốc < hoàng thể (p = 0,001); progesterone nước bọt: hoàng thể 129,2, nang noãn 70,6, dùng thuốc 58,4 pg/mLNgườiSo sánh giữa các nhóm (không lặp trong người); PSG 1 đêm thích nghi + 1 đêm thực nghiệm; pha chu kỳ ước tính theo lịch; progesterone nước bọt (ELISA); thuốc kết hợp ethinylestradiol với dienogest hoặc levonorgestrel. Cỡ mẫu: n = 62 (16 pha nang noãn, 27 pha hoàng thể, 19 dùng thuốc tránh thai), ~21–22 tuổi, ÁoPlamberger và cs., 2021
b1-049Ở nữ sinh trung học Hàn Quốc, chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5) đi kèm mức độ và tần suất triệu chứng kinh nguyệt nặng hơn và triệu chứng tiền kinh nhiều hơn sau hiệu chỉnh. Ngủ < 5 giờ đi kèm triệu chứng tiền kinh nhiều hơn; giờ đi ngủ muộn không còn liên quan sau hiệu chỉnh.Sau hiệu chỉnh: PSQI > 5 liên quan với độ nặng triệu chứng kinh (CMSS) p < 0,01, tần suất p < 0,001, triệu chứng tiền kinh (PSST) p < 0,01; ngủ < 5 giờ với PSST p < 0,05 (bài báo cáo hệ số hồi quy, không báo cáo OR)NgườiCắt ngang, bảng hỏi (8–9/2021, thời kỳ COVID-19); PSQI bản Hàn; VAS đau; thang Cox (CMSS); công cụ sàng lọc tiền kinh PSST; hiệu chỉnh tiền sử gia đình, tuổi có kinh, đặc điểm chu kỳ, căng thẳng cảm nhận, caffeine, bữa sáng, hút thuốc, rượu. Cỡ mẫu: n = 519 nữ sinh 15–18 tuổi, Gyeonggi-do, Hàn QuốcJeong và cs., 2023
b1-058Ghi PSG mỗi đêm thứ hai suốt một chu kỳ có rụng trứng ở phụ nữ trẻ không có PMS: tổng thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ, độ trễ vào giấc, độ trễ REM, giấc ngủ sóng chậm và cảm nhận chủ quan không thay đổi có ý nghĩa. Riêng công suất EEG dải 14,25–15,0 Hz (vùng thoi ngủ) dao động lớn, đạt đỉnh ở pha hoàng thể, song song với nhiệt độ lõi cơ thể.Định tính trong tóm tắt (cực đại công suất 14,25–15,0 Hz ở pha hoàng thể)NgườiThuần tập lặp trong người, PSG trong phòng thí nghiệm mỗi đêm thứ hai qua một chu kỳ; rụng trứng xác nhận bằng LH nước tiểu, nhiệt độ cơ thể, estrogen và progesterone giữa pha hoàng thể; phân tích phổ EEG. Cỡ mẫu: n = 9 phụ nữ trẻ, 138 đêm ghiDriver và cs., 1996 (tóm tắt)
b1-063Trong khảo sát nữ sinh điều dưỡng, 37,5% đạt tiêu chuẩn sàng lọc "có thể PMDD"; nhóm này báo chất lượng giấc ngủ trước kỳ kinh kém hơn, mệt mỏi và buồn ngủ ban ngày nhiều hơn nhóm không PMDD.Tỉ lệ có thể PMDD 37,5%; mệt mỏi ban ngày χ² = 36,68, buồn ngủ ban ngày χ² = 18,16 (cả hai p < 0,001)NgườiCắt ngang, bảng hỏi hồi cứu theo tiêu chí DSM-IV-TR (không ghi triệu chứng tiến cứu); bảng hỏi giấc ngủ tự soạn tiếng Hindi, không phải thang đã chuẩn hoá. Cỡ mẫu: n = 269 nữ sinh điều dưỡng, tuổi 19,06 ± 1,56Lahan và cs., 2012
b1-065Trong nghiên cứu nhẫn Oura, chỉ số biến thiên nhịp tim phản ánh hoạt động phó giao cảm (rMSSD) khi ngủ thấp hơn ở cuối pha hoàng thể so với kỳ kinh, nhưng mô hình tổng thể không có ý nghĩa thống kê.rMSSD cuối pha hoàng thể −5,96 (SE 2,76; p = 0,034) so với kỳ kinh; giữa pha hoàng thể −5,47 (p = 0,054); mô hình tổng thể p = 0,13NgườiQuan sát tại nhà qua 1 chu kỳ, nhẫn Oura, mô hình tuyến tính phân cấp. Cỡ mẫu: n = 26 phụ nữ 18–35 tuổiAlzueta và cs., 2022

Dùng ở chương: Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-015Trong mẫu dân số chung Trung Pennsylvania (b1-014), mãn kinh mà không dùng liệu pháp hormone đi kèm độ trễ vào giấc dài hơn và ít giấc ngủ sâu hơn trên PSG.Định tínhNgườiCắt ngang, PSG 1 đêm. Cỡ mẫu: Phân nhóm nữ trong n = 1.324Bixler và cs., 2009 (tóm tắt)
b1-016Tổng quan tường thuật đăng trên European Respiratory Review: tỉ lệ nam:nữ mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea, OSA) là 3:1 đến 5:1 trong dân số chung nhưng 8:1 đến 10:1 ở các mẫu lâm sàng chọn lọc.Nam:nữ 3–5:1 (dân số) so với 8–10:1 (phòng khám); nữ chiếm tới 40–50% số người đến phòng khám giấc ngủ hiện nayTổng quanTổng quan tường thuật. Cỡ mẫu: Không áp dụngBonsignore và cs., 2019
b1-017Phụ nữ bị OSA ít báo ngáy và ngưng thở có người chứng kiến hơn, nhưng hay báo mệt ban ngày, thiếu năng lượng, triệu chứng mất ngủ, đau đầu buổi sáng, rối loạn khí sắc và ác mộng; vì vậy thường bị chẩn đoán và can thiệp thiếu so với nam.Định tínhTổng quanTổng quan tường thuật. Cỡ mẫu: Không áp dụngBonsignore và cs., 2019
b1-018So với nam, nữ bị OSA có chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index, AHI) thấp hơn, biến cố tập trung trong giấc ngủ REM và tỉ lệ OSA phụ thuộc tư thế nằm ngửa thấp hơn; áp lực đóng tới hạn (Pcrit) đường thở trên thấp hơn và đường thở ngắn hơn.Định tínhTổng quanTổng quan tường thuật. Cỡ mẫu: Không áp dụngBonsignore và cs., 2019
b1-019Trong mẫu dân số 589 phụ nữ đo PSG trong phòng thí nghiệm, sau mãn kinh đi kèm tỉ số chênh cao hơn về rối loạn thở khi ngủ so với trước mãn kinh, sau hiệu chỉnh tuổi, thể trạng và hút thuốc; quanh mãn kinh không khác có ý nghĩa.AHI ≥ 5: OR quanh mãn kinh 1,2 (0,7–2,2), sau mãn kinh 2,6 (1,4–4,8); AHI ≥ 15: OR 1,1 (0,5–2,2) và 3,5 (1,4–8,8)NgườiCắt ngang trong thuần tập dân số Wisconsin Sleep Cohort; PSG trong phòng thí nghiệm; giai đoạn mãn kinh xác định bằng tiền sử kinh, phẫu thuật phụ khoa, dùng hormone, FSH, triệu chứng vận mạch; hồi quy logistic hiệu chỉnh tuổi, thể trạng (body habitus), hút thuốc và các yếu tố khác. Cỡ mẫu: n = 589 phụ nữ, Wisconsin, Hoa KỳYoung và cs., 2003 (tóm tắt)
b1-020Phân tích gộp các nghiên cứu đo bằng PSG cho thấy phụ nữ trưởng thành có hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome, PCOS) đi kèm tỉ số chênh OSA cao hơn nhóm chứng; ở trẻ vị thành niên khác biệt không có ý nghĩa.OR chung 8,3 (KTC 95%: 3,30–20,87); người lớn OR 9,74 (2,76–34,41); vị thành niên OR 4,54 (0,56–36,43); tỉ lệ OSA gộp trong PCOS 0,22 (0,08–0,40), người lớn 0,32, vị thành niên 0,08; I² = 94,1%Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp 13 nghiên cứu (8 người lớn, 5 vị thành niên), chỉ nhận nghiên cứu đo OSA bằng PSG qua đêm; OR tính được từ 6 nghiên cứu; không hồi quy gộp được theo BMI. Cỡ mẫu: 404 bệnh nhân PCOS và 611 người chứngHelvaci và cs., 2017
b1-037Trong mẫu dân số Lausanne đo PSG đầy đủ tại nhà, tỉ lệ rối loạn thở khi ngủ mức trung bình–nặng (AHI ≥ 15/giờ) là 23,4% ở nữ và 49,7% ở nam.Nữ 23,4% (KTC 95%: 20,9–26,0); nam 49,7% (46,6–52,8)NgườiNghiên cứu dân số cắt ngang (HypnoLaus, 2009–2013); PSG đầy đủ tại nhà; chấm điểm theo AHI. Cỡ mẫu: n = 2.121 người (1.024 nam), 40–85 tuổi (trung vị 57), Thuỵ SĩHeinzer và cs., 2015 (tóm tắt)
b1-038Trong mẫu cộng đồng Wisconsin chưa từng được chẩn đoán ngưng thở khi ngủ, nữ bị ngưng thở khi ngủ không báo triệu chứng khác biệt có ý nghĩa so với nam ở mọi mức độ nặng; ngáy là yếu tố dự báo nhạy nhất ở cả hai giới.Định tínhNgườiCắt ngang trong thuần tập cộng đồng Wisconsin Sleep Cohort; PSG đo tần suất ngưng thở/giảm thở; so sánh triệu chứng tự báo cáo theo giới ở từng mức độ. Cỡ mẫu: n = 939 (551 nam, 388 nữ)Young và cs., 1996 (tóm tắt)
b1-041Tổng quan 2023 dẫn các nghiên cứu cho thấy phụ nữ thừa cân có PCOS có nhiều rối loạn thở khi ngủ hơn phụ nữ cùng cân nặng không có PCOS, và nêu giả thuyết một phần là do testosterone cao.Định tínhTổng quanTổng quan tường thuật. Cỡ mẫu: Không áp dụngHaufe và Leeners, 2023
b1-047Trong mẫu ngẫu nhiên người 40–69 tuổi thuộc Nghiên cứu Sức khoẻ và Hệ gen Hàn Quốc đo PSG đầy đủ qua đêm, tỉ lệ rối loạn thở khi ngủ ở nữ thấp hơn nam; khi tính cả buồn ngủ ban ngày, khoảng cách hẹp lại.AHI ≥ 5: nam 27%, nữ 16%; hội chứng OSA (AHI ≥ 5 + buồn ngủ ban ngày quá mức): nam 4,5%, nữ 3,2%NgườiCắt ngang; mẫu ngẫu nhiên từ thuần tập Korean Health and Genome Study; PSG đầy đủ qua đêm; hồi quy logistic (giới, BMI, tăng huyết áp liên quan chặt với SDB). Cỡ mẫu: n = 457 người (từ 5.020 người của thuần tập), 40–69 tuổi, Hàn QuốcKim và cs., 2004 (tóm tắt)
b1-050Phân tích gộp 17 nghiên cứu đo PSG ước tính khoảng một phần ba phụ nữ PCOS có OSA; ở hai nghiên cứu có phân tầng theo BMI, không ghi nhận OSA ở phụ nữ PCOS không béo phì.Tỉ lệ gộp 35,0% (KTC 95%: 22,2–48,9%), I² = 92%; OR so với nhóm chứng 3,83 (1,43–10,24), 8 nghiên cứu, 957 người; chênh lệch tỉ lệ béo phì so với không béo phì +37,9% (15,0–60,9%); Hoa Kỳ 43,7% so với nước khác 22,8% (p = 0,725)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp 17 nghiên cứu, tất cả dùng PSG nhưng điểm cắt AHI không thống nhất. Cỡ mẫu: 17 nghiên cứuKahal và cs., 2019
b1-051Phân tích gộp 18 nghiên cứu cho thấy phụ nữ PCOS đi kèm tỉ số chênh rối loạn giấc ngủ cao hơn, điểm PSQI cao hơn và thời gian ngủ ngắn hơn khoảng 16 phút so với nhóm chứng; tỉ số chênh lớn nhất ở nhóm rối loạn thở khi ngủ, nhỏ nhất ở các vấn đề giấc ngủ khác.OR rối loạn giấc ngủ 6,22 (KTC 95%: 2,77–13,97); PSQI chênh 2,10 điểm (0,29–3,90), I² = 97%; thời gian ngủ −15,65 phút (−27,18 đến −4,13), I² = 90%; phân nhóm: rối loạn thở khi ngủ OR 38,94 (16,20–93,64), OSA OR 6,27 (3,98–9,86), vấn đề giấc ngủ khác OR 1,41 (1,19–1,68)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp 18 nghiên cứu (2 thuần tập, 16 cắt ngang); kết cục đo bằng nhiều công cụ (PSG, PSQI, tự báo cáo thời lượng ngủ). Cỡ mẫu: 16.152 người trong 18 nghiên cứu (bài không nêu tổng số phụ nữ PCOS gộp)Zhang và cs., 2022
b1-057Trong 830 bệnh nhân OSA chẩn đoán bằng PSG, nữ có AHI trong giấc ngủ NREM thấp hơn nam khoảng một nửa nhưng AHI trong REM tương đương; OSA tập trung ở REM gặp nhiều hơn ở nữ, còn OSA chủ yếu khi nằm ngửa gần như chỉ gặp ở nam.AHI NREM: nữ 14,6 ± 1,6 so với nam 29,6 ± 1,1 /giờ (p < 0,001); AHI REM: 42,7 ± 1,6 so với 39,9 ± 1,2 /giờ; tỉ lệ nam:nữ 3,2:1NgườiNghiên cứu hồi cứu trên bệnh nhân phòng khám giấc ngủ, PSG qua đêm. Cỡ mẫu: n = 830 bệnh nhân OSAO'Connor và cs., 2000 (tóm tắt)
b1-062Hướng dẫn quốc tế dựa trên bằng chứng về PCOS (2023) có khuyến cáo mạnh (1.10.1–1.10.2, bằng chứng chất lượng trung bình) và điểm thực hành (1.10.3–1.10.4); gộp lại, hướng dẫn nêu nhân viên y tế cần biết phụ nữ PCOS có tỉ lệ OSA cao hơn, độc lập với BMI, và nên hỏi triệu chứng OSA (ngáy kèm thức dậy không tỉnh táo, buồn ngủ ban ngày hoặc mệt mỏi), nếu có thì sàng lọc bằng công cụ đã kiểm định hoặc chuyển đánh giá. Chẩn đoán cần nghiên cứu giấc ngủ chính thức.Khuyến cáo 1.10.1 và 1.10.2: dựa trên bằng chứng, mức mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình; 1.10.3–1.10.4: điểm thực hànhHướng dẫn, tiêu chuẩnHướng dẫn thực hành lâm sàng quốc tế xây dựng theo GRADE. Cỡ mẫu: Không áp dụngTeede và cs., 2023
b1-069Tổng quan Bonsignore và cs. (2019, b1-016) nêu tỉ lệ OSA ở nữ tăng sau mãn kinh; dữ kiện này ghi số liệu của hai bài gốc: ở thuần tập Wisconsin, sau mãn kinh đi kèm tỉ số chênh rối loạn thở khi ngủ 2,6 (AHI ≥ 5) và 3,5 (AHI ≥ 15) so với trước mãn kinh sau hiệu chỉnh tuổi và thể trạng. Trong hai thuần tập điều dưỡng Hoa Kỳ, mãn kinh do phẫu thuật đi kèm nguy cơ được chẩn đoán OSA cao hơn mãn kinh tự nhiên (HR 1,27), và nguy cơ cao hơn vẫn thấy với OSA chẩn đoán hơn 15 năm sau mãn kinh.Mãn kinh do phẫu thuật so với tự nhiên: HR đa biến 1,27 (KTC 95%: 1,17–1,38) (Huang 2018); sau mãn kinh so với trước mãn kinh: OR 2,6 (1,4–4,8) với AHI ≥ 5 và 3,5 (1,4–8,8) với AHI ≥ 15 (Young 2003)NgườiHuang 2018: thuần tập tiến cứu Nurses' Health Study (2002–2012) và NHS II (1995–2013); OSA = tự báo cáo được bác sĩ/nghiên cứu giấc ngủ chẩn đoán (xác nhận bằng hồ sơ ở mẫu con); Cox hiệu chỉnh BMI, vòng eo, hút thuốc, rượu, liệu pháp hormone, chủng tộc, đái tháo đường, tăng huyết áp, thuốc tránh thai, số lần sinh, hoạt động thể lực, chế độ ăn, thời lượng ngủ. Young 2003: cắt ngang, PSG phòng thí nghiệm (xem b1-019). Cỡ mẫu: Huang 2018: 50.473 (NHS) + 53.827 (NHS II) phụ nữ sau mãn kinh, 4.272 ca OSA mớiHuang và cs., 2018

Dùng ở chương: Làm ca đêm, chu kỳ kinh và khả năng sinh sản#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-026Phân tích gộp cho thấy phụ nữ làm ca đi kèm tỉ lệ rối loạn chu kỳ kinh nguyệt cao hơn; làm ca đêm đi kèm sẩy thai sớm nhiều hơn; liên quan với vô sinh không còn ý nghĩa sau hiệu chỉnh.Rối loạn kinh: 16,05% so với 13,05%, OR 1,22 (1,15–1,29), OR hiệu chỉnh 1,15 (1,01–1,31); vô sinh OR 1,80 (1,01–3,20), hiệu chỉnh 1,11 (0,86–1,44); sẩy thai sớm khi làm ca nói chung OR 0,96 (0,88–1,05); ca đêm: OR 1,29 (1,11–1,50), hiệu chỉnh 1,41 (1,22–1,63)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên; làm ca = làm ngoài 08:00–18:00; rối loạn kinh = chu kỳ < 25 hoặc > 31 ngày; vô sinh = thời gian có thai > 12 tháng; sẩy thai sớm < 25 tuần. Cỡ mẫu: 16 thuần tập từ 15 nghiên cứu, 123.403 phụ nữStocker và cs., 2014 (tóm tắt)
b1-027Ở nữ điều dưỡng Nhật làm hai ca luân phiên, số ca đêm mỗi tháng nhiều hơn đi kèm tỉ lệ chu kỳ kinh không đều và vô kinh ≥ 3 tháng cao hơn so với không làm đêm; ở hệ ba ca, mối liên quan không theo chiều liều.Hai ca, ≥ 6 đêm/tháng: tỉ số tỉ lệ hiện mắc (prevalence ratio, PR) chu kỳ không đều 1,78 (1,34–2,35); vô kinh 2,39 (1,27–4,50); hai ca 4–5 đêm/tháng: PR 1,41 (1,08–1,83); ba ca ≤ 5 đêm/tháng: PR 1,93 (1,29–2,89); ba ca ≥ 8 đêm/tháng: PR 1,24 (0,81–1,89)NgườiCắt ngang, bảng hỏi trực tuyến tự điền (2019); ca đêm và chu kỳ kinh tự báo cáo (không đều = ≤ 21 hoặc ≥ 39 ngày vài lần/năm hoặc vô kinh ≥ 3 tháng); hồi quy Poisson hiệu chỉnh tuổi, BMI, quy mô bệnh viện, khoa. Cỡ mẫu: n = 1.249 nữ điều dưỡng < 45 tuổi, không dùng thuốc tránh thai, Nhật BảnMayama và cs., 2020
b1-043Trong thuần tập toàn quốc Đan Mạch dùng dữ liệu bảng lương để đo chính xác ca đêm, làm từ 2 ca đêm trở lên trong tuần trước đi kèm nguy cơ sẩy thai cao hơn sau tuần thai thứ 8 so với không làm đêm; số ca đêm tích luỹ đi kèm nguy cơ tăng theo liều.HR 1,32 (KTC 95%: 1,07–1,62) với ≥ 2 ca đêm/tuần trướcNgườiThuần tập tiến cứu dựa trên sổ bộ; phơi nhiễm ca đêm từ Cơ sở dữ liệu giờ làm việc Đan Mạch (DWHD) của nhân viên bệnh viện công; kết cục từ sổ bộ sinh và nhập viện; hồi quy Cox với phơi nhiễm thay đổi theo thời gian, hiệu chỉnh một tập yếu tố nhiễu định sẵn; theo dõi tuần thai 4–22. Cỡ mẫu: n = 22.744 phụ nữ mang thai, 377.896 tuần thai theo dõiBegtrup và cs., 2019
b1-052Trong 71.077 nữ điều dưỡng Hoa Kỳ, làm ca xoay vòng có đêm từ 20 tháng trở lên trong 2 năm trước đi kèm khả năng có chu kỳ kinh không đều cao hơn một cách khiêm tốn, có xu hướng tăng theo số tháng làm ca.Chu kỳ không đều (dao động > 7 ngày): RR hiệu chỉnh 1,13 (1–9 tháng), 1,18 (10–19 tháng), 1,23 (KTC 95%: 1,14–1,33) (≥ 20 tháng); chu kỳ < 21 ngày RR 1,27 (0,99–1,62); chu kỳ > 40 ngày RR 1,49 (1,19–1,87); khoảng 10% người tham gia có chu kỳ không đềuNgườiCắt ngang trong thuần tập Nurses' Health Study II (bảng hỏi 1993); phơi nhiễm = số tháng làm ca xoay vòng có ≥ 3 đêm/tháng kể từ 6/1991 (0, 1–9, 10–19, ≥ 20 tháng); chu kỳ kinh tự báo cáo; hồi quy log-binomial hiệu chỉnh tuổi, tuổi có kinh, số lần sinh, chủng tộc, hút thuốc, rượu, hoạt động thể lực, BMI. Cỡ mẫu: n = 71.077 nữ điều dưỡng 28–45 tuổi còn kinh, không dùng thuốc tránh thai đường uốngLawson và cs., 2011
b1-053Ở nữ điều dưỡng đang cố gắng có thai, không kiểu làm ca nào (kể cả ca đêm) đi kèm thời gian cố gắng có thai dài hơn; ngược lại, làm > 40 giờ/tuần và thường xuyên nâng vật nặng đi kèm thời gian có thai dài hơn.> 40 giờ/tuần: thời gian cố gắng có thai trung vị dài hơn 20% (KTC 95%: 7–35%); nâng/di chuyển vật ≥ 25 lb > 15 lần/ngày: tỉ số thời gian (time ratio, TR) 1,49 (1,20–1,85); riêng ở người BMI ≥ 25, nâng vật nặng > 15 lần/ngày: TR 2,03 (1,48–2,79) (BMI < 25: 1,17 [0,88–1,56]); không kiểu làm ca/ca đêm nào liên quanNgườiThuần tập tiến cứu Nurses' Health Study 3; lịch làm việc, số đêm/tháng, giờ làm và lao động thể lực tự báo cáo một lần lúc đầu; thời gian cố gắng có thai tự báo cáo mỗi ~6 tháng; mô hình thời gian thất bại gia tốc (log-normal); hiệu chỉnh tuổi, chủng tộc, BMI, hút thuốc, hôn nhân và các yếu tố nghề nghiệp khác. Cỡ mẫu: n = 1.739 nữ điều dưỡng đang đi làm và đang cố có thaiGaskins và cs., 2015
b1-064Phân tích gộp cho thấy điều dưỡng làm ca xoay vòng và làm đêm cố định có chất lượng giấc ngủ (PSQI) kém hơn điều dưỡng làm ngày cố định; ở ca xoay vòng, khác biệt nhỏ hơn ở người > 40 tuổi.Ca xoay vòng so với ngày cố định: SMD 0,38 (KTC 95%: 0,24–0,52); đêm cố định so với ngày cố định: SMD 0,58 (0,38–0,78); hồi quy theo tuổi (ca xoay vòng) β = −0,368, p = 0,011Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp 29 bài (34 bộ dữ liệu); kết cục PSQI; hồi quy gộp theo tuổi. Cỡ mẫu: 3.935 điều dưỡng ca ngày cố định, 3.777 ca xoay vòng, 1.559 đêm cố địnhChang và Peng, 2021 (tóm tắt)
b1-067Ở nữ điều dưỡng Nhật làm hệ ba ca với ≥ 8 đêm/tháng, tỉ lệ đau bụng kinh hoặc triệu chứng tiền kinh ảnh hưởng đến công việc cao hơn nhóm không làm đêm; ở hệ hai ca không thấy liên quan có ý nghĩa.Ba ca, ≥ 8 đêm/tháng: PR 1,23 (1,02–1,49) cho ảnh hưởng bất kỳ; PR 1,93 (1,03–3,61) cho ảnh hưởng "thường xuyên"; hai ca ≥ 6 đêm/tháng: PR 1,09 (0,94–1,27)NgườiCắt ngang, bảng hỏi trực tuyến; hồi quy Poisson hiệu chỉnh tuổi, BMI, quy mô bệnh viện, khoa. Cỡ mẫu: n = 1.249 nữ điều dưỡng, Nhật BảnMayama và cs., 2020

Dùng ở chương: Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-066Ở phụ nữ đầu chuyển tiếp mãn kinh, nhóm có rối loạn mất ngủ có thời gian ngủ PSG ngắn hơn, WASO nhiều hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn nhóm không mất ngủ, bất kể pha chu kỳ.Thời gian ngủ ngắn hơn (p = 0,012); WASO nhiều hơn (p = 0,031); hiệu quả giấc ngủ thấp hơn (p = 0,034)NgườiBệnh–chứng lồng trong thiết kế lặp, PSG 2 pha chu kỳ. Cỡ mẫu: n = 20 (11 mất ngủ, 9 không), 48,8 ± 2,9 tuổide Zambotti và cs., 2015b

Viết tắt trong trang

AHI
chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
CPAP
thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
ESS
thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
FSH
hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
HR
tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
OSA
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
PCOS
hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome)
PMDD
rối loạn khí sắc tiền kinh nguyệt (premenstrual dysphoric disorder)
PMS
hội chứng tiền kinh nguyệt (premenstrual syndrome)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RR
tỉ số nguy cơ, còn gọi là nguy cơ tương đối (risk ratio, relative risk)
SD
độ lệch chuẩn (standard deviation)
SMD
chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)
STRAW
hệ phân giai đoạn lão hoá sinh sản (Stages of Reproductive Aging Workshop)
TST
tổng thời gian ngủ (total sleep time)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục A. Dữ kiện: khác biệt giới, chu kỳ kinh nguyệt và hormone. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/phu-luc-a-du-kien-b1/