Phụ lục này liệt kê toàn bộ 68 dữ kiện của nhánh Thai kỳ và sau sinh đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b2-029) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương.
Dùng ở chương: Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-029 | Phân tích gộp 35 nghiên cứu ghi nhận rối loạn thở khi ngủ (sleep-disordered breathing, SDB: ngáy hoặc ngưng thở tắc nghẽn) trong thai kỳ đi kèm tỉ số chênh cao hơn về đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes mellitus, GDM), tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật và sinh non; không thấy khác biệt về cân nặng sơ sinh hay Apgar. | GDM OR 1,95 (1,60–2,37), I² 72%; tăng huyết áp thai kỳ OR 1,84 (1,53–2,22); tiền sản giật OR 2,19 (1,70–2,82), I² 71%; sinh non OR 1,47 (1,14–1,91); cân nặng sơ sinh WMD 16,75 g (−53,53 đến 87,03) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp (PubMed, Embase đến 2017); SDB chẩn đoán bằng theo dõi giấc ngủ qua đêm/PSG, bảng hỏi Berlin hoặc ICSD-3; gộp OR hiệu chỉnh khi có, nếu không dùng OR thô. Cỡ mẫu: 35 nghiên cứu; tổng 56.751.837 đối tượng (chủ yếu từ dữ liệu hành chính lớn) | Li và cs., 2018 |
| b2-030 | Thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm ở Bangkok (thai phụ nguy cơ cao có ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn nhẹ–trung bình đo bằng PSG): thở áp lực dương liên tục (CPAP) từ sớm làm giảm huyết áp tâm trương khoảng 2 mmHg so với chăm sóc thông thường, dù tuân thủ CPAP thấp. Tỉ lệ tiền sản giật, một kết cục phụ của thử nghiệm nhãn mở, cũng thấp hơn. | Huyết áp tâm trương −2,2 mmHg (KTC 95% −3,9 đến −0,4; p = 0,014); tiền sản giật 13,1% (20/153) so với 22,3% (35/157), chênh nguy cơ −9% (−18% đến −1%), NNT 11; rối loạn tăng huyết áp 13,7% so với 24,8%; tuân thủ 32,7%, trung bình 2,5 giờ/đêm | Người | RCT đa trung tâm, nhãn mở (không che mù), đăng ký hồi cứu (NCT03356106); CPAP + chăm sóc thường so với chăm sóc thường; OSA định nghĩa RDI 5–29,99/giờ trên PSG; tuổi thai TB khi ngẫu nhiên 14,8 tuần; kết cục chính huyết áp, tiền sản giật là kết cục phụ. Cỡ mẫu: 340 ngẫu nhiên hoá (169 CPAP, 171 chứng); 310 trong phân tích ITT sửa đổi; 3 bệnh viện đại học ở Bangkok, Thái Lan | Tantrakul và cs., 2023 |
| b2-037 | Trong thuần tập tiến cứu phụ nữ con so (Mỹ) đo rối loạn thở khi ngủ tại nhà, tỉ lệ AHI ≥ 5 là 3,6% đầu thai kỳ và 8,3% giữa thai kỳ; SDB đi kèm tỉ số chênh tiền sản giật, rối loạn tăng huyết áp và GDM cao hơn, được tác giả mô tả là liên quan độc lập. | Tiền sản giật aOR 1,94 (1,07–3,51) đầu thai kỳ, 1,95 (1,18–3,23) giữa thai kỳ; rối loạn tăng huyết áp 1,46 (0,91–2,32) và 1,73 (1,19–2,52); GDM 3,47 (1,95–6,19) và 2,79 (1,63–4,77) | Người | Thuần tập tiến cứu (nghiên cứu phụ SDB của nuMoM2b); thiết bị đo giấc ngủ tại nhà mức 3, 6 kênh, tự đeo, chấm tập trung; đo ở tuần 6–15 và 22–31; SDB định nghĩa AHI ≥ 5; hiệu chỉnh tuổi mẹ, BMI, tăng huyết áp mạn (giữa thai kỳ thêm tốc độ tăng cân). Cỡ mẫu: 3.705 phụ nữ con so tuyển, 3.306 vào phân tích (3.132 có AHI đầu thai kỳ, 2.474 giữa thai kỳ); Mỹ | Facco và cs., 2017b |
| b2-038 | Trong thuần tập tiến cứu ở Michigan, 25% thai phụ tam cá nguyệt ba bắt đầu ngáy thường xuyên trong thai kỳ; ngáy khởi phát trong thai kỳ đi kèm tỉ số chênh tăng huyết áp thai kỳ và tiền sản giật cao hơn sau hiệu chỉnh BMI, còn ngáy mạn (có từ trước) thì không có ý nghĩa. | Ngáy thường xuyên 34%, khởi phát trong thai kỳ 25%, mạn 9%; khởi phát trong thai kỳ: tăng huyết áp thai kỳ aOR 2,36 (1,48–3,77), tiền sản giật aOR 1,59 (1,06–2,37); ngáy mạn: 1,72 (0,80–3,71) và 1,12 (0,58–2,14) | Người | Thuần tập tiến cứu tại một trung tâm tuyến ba; ngáy tự báo cáo ở tam cá nguyệt ba (≥ 3–4 lần/tuần); hiệu chỉnh tuổi, chủng tộc, BMI trước thai, tăng cân vượt khuyến nghị IOM, số lần mang thai, hút thuốc, học vấn, tiền sử bản thân/gia đình tăng huyết áp thai kỳ. Cỡ mẫu: 1.719 thai phụ (1.673 trong phân tích kết cục); Michigan, Mỹ | O'Brien và cs., 2012 |
| b2-057 | Phân tích gộp 31 nghiên cứu: khi chỉ gộp các ước tính đã hiệu chỉnh, rối loạn thở khi ngủ của mẹ đi kèm tỉ số chênh tăng huyết áp thai kỳ/tiền sản giật và GDM cao hơn. | Tăng huyết áp thai kỳ/tiền sản giật aOR 2,34 (1,60–3,09; 5 nghiên cứu); GDM aOR 1,86 (1,30–2,42; 5 nghiên cứu) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp; gộp riêng OR đã hiệu chỉnh "cho các yếu tố nhiễu tiềm tàng" (tóm tắt không nêu cụ thể đã hiệu chỉnh béo phì hay chưa). Cỡ mẫu: 31 nghiên cứu (trên 4.386 bài sàng lọc); 9 nghiên cứu có ước tính hiệu chỉnh | Pamidi và cs., 2014 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Giấc ngủ khi mang thai#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-019 | Thử nghiệm ngẫu nhiên ở California (3 nguồn tuyển): liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) 5 buổi trong thai kỳ làm giảm điểm mức độ mất ngủ ISI nhiều hơn nhóm chứng tích cực (giải mẫn cảm giả), với cỡ hiệu ứng trung bình. | ISI 15,4 → 8,0 (CBT-I) so với 15,9 → 11,2 (chứng); d = 0,5, p < 0,001; thuyên giảm 63,8% so với 51,9%; trung vị thời gian đến thuyên giảm 31 so với 48 ngày; HR 2,55 (KTC 95% 1,51–4,32) | Người | RCT song song, người tham gia không che mù (nhóm nghiên cứu được giữ mù qua điều phối viên); nhóm chứng tích cực: liệu pháp giải mẫn cảm giả (pseudo-desensitization) ghép trải nghiệm ban đêm gây khó chịu với hình ảnh trung tính; 5 buổi cá nhân mỗi nhánh; kết cục chính ISI; phụ: nhật ký ngủ, actigraphy (ghi vận động bằng thiết bị đeo cổ tay), thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale, EPDS). Cỡ mẫu: 194 thai phụ 18–32 tuần (179 vào phân tích; tóm tắt ghi 149 hoàn thành); phòng khám sản Stanford, Santa Clara Valley Medical Center và tuyển qua cộng đồng, Mỹ | Manber và cs., 2019 |
| b2-020 | Trong cùng thử nghiệm, CBT-I làm giảm thời gian thức tự báo cáo nhiều hơn nhóm chứng, nhưng actigraphy chỉ ghi nhận giảm trung bình khoảng 3 phút thời gian thức; điểm trầm cảm EPDS giảm nhiều hơn một chút. | Actigraphy: giảm tổng thời gian thức chỉ ~3 phút; EPDS: giảm nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê | Người | Như b2-019; thời gian thức đo song song bằng nhật ký và actigraphy. Cỡ mẫu: 194 thai phụ | Manber và cs., 2019 |
| b2-021 | Thử nghiệm ngẫu nhiên CBT-I số (ứng dụng Sleepio, 6 buổi ~20 phút) ở thai phụ ≤ 28 tuần có triệu chứng mất ngủ: sau 10 tuần, điểm ISI giảm nhiều hơn nhóm chăm sóc thông thường với cỡ hiệu ứng lớn và tỉ lệ thuyên giảm cao gấp đôi. Thời lượng ngủ theo nhật ký không khác có ý nghĩa. | Cohen d = −1,03; thuyên giảm (ISI ≤ 7) 44,0% so với 22,3% (p = 0,002); tuần 18: 42,7% so với 28,6% (p = 0,048); thời lượng ngủ p = 0,07 | Người | RCT song song; nhóm chứng là chăm sóc thông thường kiểu danh sách chờ (không giới hạn các can thiệp ngoài nghiên cứu; nhận mã Sleepio sau khi kết thúc); người tham gia và nhân viên không che mù, nhà thống kê che mù; kết cục tự báo cáo ISI, nhật ký ngủ, PSQI, EPDS, GAD-7; không đo khách quan. Cỡ mẫu: 208 thai phụ (105 CBT-I số, 103 chứng); tuổi thai TB 17,6 tuần; UCSF, Mỹ | Felder và cs., 2020 |
| b2-022 | Theo dõi sau sinh của thử nghiệm CBT-I số: ở 6 tháng sau sinh, tỉ lệ thuyên giảm mất ngủ cao hơn nhóm chứng; ở 3 tháng, tỉ lệ có khả năng trầm cảm nặng thấp hơn (tác giả gọi là bằng chứng sơ bộ), nhưng khác biệt này không còn ý nghĩa ở 6 tháng; điểm ISI chung và PSQI không khác có ý nghĩa. | Thuyên giảm mất ngủ 6 tháng: 53,0% so với 35,2% (p = 0,02); khả năng trầm cảm nặng 3 tháng: 3,96% so với 18,47% (p = 0,006); 6 tháng: 5,54% so với 10,73% (p = 0,22); ISI tổng thể p = 0,08 | Người | Phân tích thứ phát (kết cục sau sinh) của RCT b2-021; đo ở 3 và 6 tháng sau sinh; ISI, PSQI, EPDS, GAD-7, Sleep Condition Indicator. Cỡ mẫu: 208 người được ngẫu nhiên hoá | Felder và cs., 2022 |
| b2-024 | Phân tích gộp 41 nghiên cứu (chủ yếu thuần tập) ghi nhận ngủ ngắn trong thai kỳ đi kèm đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes mellitus, GDM) với OR gộp 1,81. Ngủ dài cũng đi kèm GDM và mổ lấy thai ở mức nhẹ; không thấy liên quan có ý nghĩa với tăng huyết áp thai kỳ, sinh non, nhẹ cân hay thai nhỏ so với tuổi thai (small for gestational age, SGA). | Ngủ ngắn – GDM: OR 1,81 (1,35–2,44), I² = 75,6%; ngủ dài – GDM: OR 1,24 (1,12–1,36), I² = 25,2%; ngủ dài – mổ lấy thai: OR 1,13 (1,04–1,22; 2 nghiên cứu); ngủ ngắn – sinh non: OR 1,12 (0,93–1,34); ngủ ngắn – tăng huyết áp thai kỳ: OR 1,09 (0,93–1,27) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 41 nghiên cứu (32 thuần tập, 7 bệnh–chứng, 2 cắt ngang); thời lượng ngủ chủ yếu tự báo cáo (28 bảng hỏi, 8 PSQI, 2 thiết bị, 1 nhật ký, 1 phỏng vấn); ngủ ngắn thường < 7 giờ, ngủ dài ≥ 9 giờ (ngưỡng khác nhau giữa nghiên cứu). Cỡ mẫu: 226.101 người | Wang và cs., 2022 |
| b2-025 | Phân tích gộp ở các nước thu nhập thấp và trung bình cho thấy tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém (theo PSQI) tăng dần theo tam cá nguyệt: khoảng 37% ở tam cá nguyệt một, 48% ở tam cá nguyệt hai và 60% ở tam cá nguyệt ba. | Tam cá nguyệt 1: 37,46% (KTC 95% 29,26–45,67); 2: 47,62% (42,23–53,02); 3: 60,05% (51,32–68,78); I² 95–99% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên tỉ lệ hiện mắc; giấc ngủ đo bằng PSQI (thang tự báo cáo); chỉ nghiên cứu tiếng Anh đã xuất bản. Cỡ mẫu: 38 nghiên cứu, 13 nước; 11.610 (TCN1), 7.168 (TCN2), 9.265 (TCN3) thai phụ | Mislu và cs., 2024 |
| b2-026 | Ở 782 phụ nữ con so tuần 16–21 (nuMoM2b, Mỹ) đeo actigraphy 7 ngày, trung vị thời lượng ngủ là 7,4 giờ; 27,9% ngủ dưới 7 giờ; phụ nữ da đen không Hispanic và phụ nữ gốc Á ngủ ngắn nhất. | Trung vị ngủ 7,4 giờ (IQR 1,0); thời gian trên giường 8,7 giờ; < 7 giờ: 27,9%; WASO trung vị 42,2 phút; hiệu quả giấc ngủ 85,2%; điểm giữa giấc ngủ 03:38 | Người | Nghiên cứu phụ tiến cứu của thuần tập nuMoM2b; actigraphy cổ tay 7 ngày liên tục kèm nhật ký. Cỡ mẫu: 782 phụ nữ con so mang thai đơn (trong 901 đủ điều kiện); tuổi TB 27,3; 8 trung tâm Mỹ | Reid và cs., 2017 |
| b2-027 | Phân tích gộp 27 nghiên cứu cho thấy hội chứng chân không yên (restless legs syndrome, RLS) gặp ở khoảng 1/5 thai phụ, tăng theo tam cá nguyệt và giảm mạnh sau sinh; khu vực Tây Thái Bình Dương (gồm Đông Á) có tỉ lệ thấp hơn châu Âu. | Chung 21%; TCN1 8%, TCN2 16%, TCN3 22%; sau sinh 4%; châu Âu 22%, Tây Thái Bình Dương 14%, Đông Địa Trung Hải 30%, châu Mỹ 20%; Đông Nam Á: không đủ dữ liệu | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên các nghiên cứu quan sát dọc và cắt ngang (tìm đến 4/2017). Cỡ mẫu: 27 nghiên cứu, 51.717 thai phụ | Chen và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b2-028 | Một phân tích gộp khác chỉ gồm tam cá nguyệt ba ước tính tỉ lệ RLS khoảng 23%, với biên độ giữa các nghiên cứu rất rộng (3,5% ở Nhật đến 62,7% ở Thổ Nhĩ Kỳ). | 22,9% (KTC 95% 14,7–33,8); thấp nhất 3,5% (Nhật, Harano), cao nhất 62,7% (Thổ Nhĩ Kỳ, Terzi) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 10 nghiên cứu; công cụ chẩn đoán khác nhau (bộ câu hỏi IRLSSG, thang IRLS). Cỡ mẫu: 10 nghiên cứu, 2.431 thai phụ | Darvishi và cs., 2020 |
| b2-031 | Phân tích gộp 7 RCT ở phụ nữ chu sinh có mất ngủ cho thấy CBT-I giảm mức độ mất ngủ (ISI) với cỡ hiệu ứng trung bình, cải thiện chất lượng giấc ngủ PSQI và giảm nhỏ triệu chứng trầm cảm EPDS. | ISI sau can thiệp SMD −0,62 (−0,77 đến −0,47), I² 28%; ISI theo dõi SMD −0,47 (−0,90 đến −0,03), I² 73%; EPDS SMD −0,31 (−0,55 đến −0,06); PSQI SMD −0,82 (−1,27 đến −0,38), I² 68% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 7 RCT (trong 46 bài rà soát); kết cục tự báo cáo (ISI, PSQI, EPDS); không báo cáo kết cục khách quan. Cỡ mẫu: 7 RCT (tổng số người không đọc được) | Feng và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b2-034 | Trong PSG một đêm ở 187 thai phụ cuối thai kỳ (Úc), chỉ 14% bắt đầu ngủ ở tư thế nằm ngửa nhưng trung vị gần 1/4 thời gian ngủ là nằm ngửa; chỉ số ngưng thở–giảm thở (AHI) khi nằm ngửa cao gấp đôi khi nằm nghiêng. | Bắt đầu ngủ nằm ngửa 26/187 (14%); thời gian nằm ngửa trung vị 24,2% tổng thời gian ngủ; AHI nằm ngửa 5,5/giờ so với 2,6/giờ (p < 0,001); tư thế lúc bắt đầu ngủ là tư thế chiếm ưu thế cả đêm ở 54% | Người | Gộp 3 thuần tập tiến cứu (2009–2018) gồm thai khoẻ, thai chậm tăng trưởng và tăng huyết áp; PSG một đêm (115 tại nhà không giám sát, 40 phòng thí nghiệm, 32 nội trú); tuổi thai trung vị 34,1 tuần. Cỡ mẫu: 187 thai phụ; Melbourne, Úc | Wilson và cs., 2022 |
| b2-042 | Phân tích gộp 24 nghiên cứu dùng PSQI cho thấy gần một nửa thai phụ có chất lượng giấc ngủ kém, và điểm PSQI xấu đi từ tam cá nguyệt hai sang ba. | Tỉ lệ PSQI ≥ 5: 45,7% (KTC 95% 36,5–55,2); PSQI trung bình 6,07 (5,30–6,85); TCN2 → TCN3: tăng 1,68 điểm (0,42–2,94) | Tổng quan | Phân tích gộp các nghiên cứu dùng PSQI (tự báo cáo); tuổi thai và tuổi mẹ là yếu tố điều chỉnh. Cỡ mẫu: 24 bài, 11.002 người | Sedov và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b2-043 | Phân tích gộp 24 nghiên cứu ước tính 38,2% thai phụ có triệu chứng mất ngủ, cao hơn rõ ở tam cá nguyệt ba so với hai tam cá nguyệt đầu. | Chung 38,2%; TCN1 25,3%, TCN2 27,2%, TCN3 39,7% | Tổng quan | Phân tích gộp tỉ lệ triệu chứng mất ngủ (công cụ tự báo cáo khác nhau); chỉ tam cá nguyệt là yếu tố điều chỉnh có ý nghĩa. Cỡ mẫu: 24 nghiên cứu, 15.564 người | Sedov và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b2-047 | Trong nhóm phụ nuMoM2b đeo actigraphy tuần 16–21, ngủ < 7 giờ và điểm giữa giấc ngủ sau 5 giờ sáng đều đi kèm GDM (aOR khoảng 2 trong mô hình gồm cả hai phơi nhiễm). Do chỉ có 33 ca GDM, các biến tuổi, BMI, chủng tộc và lịch làm việc được hiệu chỉnh từng biến một, không đồng thời. | Tỉ lệ GDM 4,2% (33 ca); ngủ < 7 giờ: aOR 2,06 (1,01–4,19); điểm giữa giấc ngủ sau 5 giờ: aOR 2,37 (1,13–4,97); ngủ < 7 giờ sau hiệu chỉnh ngáy trước thai: aOR 2,29 (0,97–5,39; p = 0,059) | Người | Thuần tập tiến cứu (nhóm phụ nuMoM2b); actigraphy cổ tay 7 ngày (5–7 đêm hợp lệ) ở tuần 16+0–21+6 kèm nhật ký; GDM theo nghiệm pháp dung nạp glucose thường quy (hoặc hồ sơ); hai phơi nhiễm hiệu chỉnh lẫn nhau; tuổi, BMI đầu thai kỳ, chủng tộc, lịch làm việc, ngáy trước thai được thêm từng biến một. Cỡ mẫu: 782 phụ nữ con so; Mỹ | Facco và cs., 2017a |
| b2-048 | Trong thuần tập nuMoM2b, điểm giữa giấc ngủ muộn (sau 5 giờ sáng) tự báo cáo ở đầu và giữa thai kỳ đi kèm tỉ số chênh sinh non cao hơn khoảng 40%, còn ngủ < 7 giờ thì không có ý nghĩa. | Sinh non 9,5% so với 6,9% (lần khám 1); điểm giữa muộn aOR 1,39 (1,08–1,80) lần 1 và 1,40 (1,08–1,81) lần 3 (mô hình tuổi + BMI); mô hình 2: 1,34 (1,03–1,74) và 1,32 (1,01–1,72); ngủ ngắn aOR 1,15 (0,92–1,44) và 1,18 (0,95–1,45); nhóm phụ actigraphy: điểm giữa muộn OR 1,68 (0,88–3,20, không ý nghĩa) | Người | Phân tích thứ phát thuần tập tiến cứu; khảo sát giấc ngủ tự báo cáo ở tuần 6–13 và 22–29; nhóm phụ actigraphy tuần 16–21 (n = 782); mô hình 1 hiệu chỉnh tuổi và BMI trước thai; mô hình 2 chọn lùi trong chủng tộc, lịch làm việc, bảo hiểm, hút thuốc (giữ lại bảo hiểm, có lúc chủng tộc/hút thuốc; lịch làm việc không được giữ). Cỡ mẫu: 7.524 (lần 1) và 7.668 (lần 3) phụ nữ con so; Mỹ | Facco và cs., 2019 |
| b2-049 | Khảo sát cắt ngang hồi cứu ở Thành Đô (Trung Quốc): mẹ nhớ lại ngủ < 7 giờ/ngày (kể cả ngủ trưa) khi mang thai đi kèm sinh non tự báo cáo với aOR 4,28 so với ngủ > 8 giờ. | Sinh non tự báo cáo 16,6% (725/4.360); < 7 giờ/ngày: aOR 4,28 (3,06–6,00); 7–8 giờ: aOR 1,43 (1,20–1,70), so với > 8 giờ | Người | Cắt ngang; mẹ của trẻ mẫu giáo nhớ lại (một câu hỏi về tổng giờ ngủ kể cả ngủ trưa khi mang thai, không theo tam cá nguyệt); tuổi thai khi sinh tự báo cáo; hiệu chỉnh nhiều yếu tố gồm tuổi, học vấn, đái tháo đường, tăng huyết áp thai kỳ, thiếu máu, lo âu/trầm cảm, hút thuốc. Cỡ mẫu: 4.360 bà mẹ, 30 trường mẫu giáo; Thành Đô, Trung Quốc | Jiang và cs., 2025 |
| b2-050 | Phân tích gộp 44 nghiên cứu dùng bảng hỏi chuẩn hoá và tiêu chuẩn chẩn đoán ước tính khoảng 44% thai phụ có mất ngủ; châu Á khoảng 41%, châu Âu khoảng 54%; nhóm nghiên cứu có tỉ lệ trầm cảm cao đi kèm tỉ lệ mất ngủ cao hơn. | Chung 43,9% (33,5–54,4); châu Á 40,7% (34,1–47,3); châu Âu 53,6% (45,6–61,6); Bắc Mỹ 41,0%; trầm cảm cao 56,2% (49,8–62,6) so với thấp 39,8% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp; mất ngủ đo chủ yếu bằng bảng hỏi tự báo cáo (ISI, PSQI, AIS…); không phân nhóm theo tam cá nguyệt. Cỡ mẫu: 44 nghiên cứu, 47.399.513 người (khoảng 47,35 triệu từ một nghiên cứu dữ liệu lớn ở Mỹ) | Yang và cs., 2024 |
| b2-054 | Trong nghiên cứu quan sát tiến cứu 131 thai phụ tháng thứ chín đo actigraphy 48 giờ, người ngủ < 6 giờ/đêm và người có giấc ngủ bị gián đoạn nặng có chuyển dạ dài hơn và nhiều khả năng mổ lấy thai hơn (tóm tắt ghi 4,5 và 5,2 "times more likely", sau kiểm soát cân nặng sơ sinh; không nêu KTC và nhóm so sánh). Mệt mỏi không liên quan với kết cục chuyển dạ. | Ngủ < 6 giờ: "4,5 times more likely" mổ lấy thai; gián đoạn nặng: "5,2 times more likely" (nhiều khả năng là OR từ hồi quy logistic; tóm tắt không nêu KTC) | Người | Quan sát tiến cứu; actigraphy cổ tay 48 giờ, nhật ký và bảng hỏi ở tháng thứ chín. Cỡ mẫu: 131 thai phụ; Mỹ | Lee và Gay, 2004 (tóm tắt) |
| b2-055 | Theo dõi 74 phụ nữ từ tam cá nguyệt ba đến 12 tháng sau sinh (Ohio, Mỹ), tổng thời gian ngủ tự báo cáo qua PSQI thấp hơn actigraphy khoảng 30–60 phút cho đến 8 tháng sau sinh, tương quan giữa hai cách đo chỉ thấp đến vừa; hai cách đo hội tụ ở 12 tháng. | Actigraphy 6,78–7,27 giờ; PSQI 5,86–6,83 giờ; r = 0,27–0,48; điểm PSQI trung bình 5,93–7,73 ở mọi lần đo | Người | Thuần tập dọc tiến cứu; actigraphy và PSQI ở tam cá nguyệt ba, 4–6 tuần, 4, 8, 12 tháng sau sinh; mô hình hỗn hợp tuyến tính tổng quát. Cỡ mẫu: 74 phụ nữ; Ohio, Mỹ | Brown và cs., 2025 |
| b2-056 | Phân tích gộp RCT can thiệp không dùng thuốc trong thai kỳ (nghe nhạc, tập thể dục, thư giãn, hạt rau diếp, vệ sinh giấc ngủ, bấm huyệt) ghi nhận điểm PSQI giảm trung bình khoảng 3 điểm, nhưng độ chắc chắn của bằng chứng theo GRADE là rất thấp. | Mọi can thiệp: MD −3,03 (−4,15 đến −1,92), n = 623, I² = 84%; nghe nhạc: MD −1,96 (−3,27 đến −0,65); can thiệp khác: MD −3,66 (−4,93 đến −2,40) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống 8 nghiên cứu (6 RCT vào phân tích gộp; 2 nghiên cứu không ngẫu nhiên chỉ tổng hợp định tính); kết cục PSQI tự báo cáo; hầu hết nguy cơ sai lệch cao do không che mù. Cỡ mẫu: 8 nghiên cứu, 1.020 thai phụ (phân tích gộp n = 623) | Paulino và cs., 2022 |
| b2-058 | Tổng quan hệ thống các nghiên cứu PSG kết luận thai kỳ làm thay đổi cấu trúc giấc ngủ rõ nhất ở tam cá nguyệt ba, nhưng bản thân thai kỳ không phải yếu tố nguy cơ độc lập của các rối loạn giấc ngủ lớn trên PSG. Ở người có yếu tố thuận lợi (béo phì, tăng huyết áp), rối loạn thở khi ngủ cần được chú ý. | Định tính (tóm tắt không nêu số liệu) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống các nghiên cứu đa ký giấc ngủ trong thai kỳ. Cỡ mẫu: Tóm tắt không nêu số nghiên cứu | Garbazza và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b2-062 | Phân tích gộp 19 nghiên cứu ghi nhận chất lượng giấc ngủ kém (PSQI), ngủ < 7 giờ và ngủ > 8 giờ trong thai kỳ đều đi kèm nguy cơ GDM cao hơn. | Chất lượng kém HR 1,50 (1,26–1,78); < 7 giờ HR 1,56 (1,20–2,01); > 8 giờ HR 2,32 (1,19–4,50) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên; chất lượng giấc ngủ bằng PSQI; cách đo thời lượng không nêu trong tóm tắt. Cỡ mẫu: 19 nghiên cứu | Jiang và cs., 2024 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Tư thế đi ngủ cuối thai kỳ và thai chết lưu#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-001 | Trong phân tích gộp dữ liệu từng cá nhân (individual participant data, IPD) của 5 nghiên cứu bệnh–chứng, đi ngủ ở tư thế nằm ngửa (going-to-sleep position) từ tuần 28 trở đi đi kèm tỉ số chênh hiệu chỉnh (aOR) 2,63 đối với thai chết lưu muộn (late stillbirth) so với nằm nghiêng trái, sau hiệu chỉnh các yếu tố nguy cơ thường gặp. Đây là tỉ số chênh từ thiết kế bệnh–chứng, không phải nguy cơ tuyệt đối. | aOR 2,63 (KTC 95% 1,72–4,04); nằm ngửa: 7,9% nhóm bệnh (67/851) so với 3,2% nhóm chứng (73/2.257) | Tổng quan | Phân tích gộp IPD 5 nghiên cứu bệnh–chứng (6 đủ tiêu chuẩn, 1 không gửi dữ liệu); thai đơn, không dị tật, ≥ 28 tuần; tư thế đi ngủ tự báo cáo qua phỏng vấn (nhóm bệnh: đêm trong vòng 2 tuần trước thời điểm mẹ ước thai mất); tham chiếu nằm nghiêng trái; hiệu chỉnh tuổi mẹ, BMI đầu thai kỳ, dân tộc, số lần sinh, học vấn, tình trạng hôn nhân, tăng huyết áp/đái tháo đường có trước, hút thuốc, ma tuý, cử động thai, bách phân vị cân nặng sơ sinh. Cỡ mẫu: 851 ca thai chết lưu muộn, 2.257 chứng; New Zealand, Úc, Anh, Mỹ | Cronin và cs., 2019 |
| b2-002 | Cùng phân tích gộp IPD ước tính tỉ lệ quy thuộc quần thể (population attributable risk) của nằm ngửa khi đi ngủ là 5,8%, tức nếu liên quan là nhân quả thì việc mọi thai phụ ≥ 28 tuần đi ngủ nằm nghiêng có thể giảm khoảng 6% số thai chết lưu muộn. | PAR 5,8% (3,2–9,2) | Tổng quan | Như b2-001; PAR tính từ aOR và tỉ lệ phơi nhiễm ở nhóm chứng. Cỡ mẫu: 851 ca, 2.257 chứng | Cronin và cs., 2019 |
| b2-003 | Trong phân tích gộp IPD, nằm nghiêng phải khi đi ngủ có tỉ số chênh thai chết lưu muộn tương đương nằm nghiêng trái; và không có tương tác có ý nghĩa giữa nằm ngửa với thai nhỏ so với tuổi thai (SGA), BMI, béo phì hay hút thuốc. | Nghiêng phải so với trái: aOR 1,04 (KTC 95% 0,83–1,31); p tương tác SGA = 0,32; cân nặng < bách phân vị 50: p = 0,34; BMI p = 0,30; béo phì p = 0,08; hút thuốc p = 0,86 | Tổng quan | Như b2-001; tương tác kiểm bằng hồi quy hai biến. Cỡ mẫu: 851 ca, 2.257 chứng | Cronin và cs., 2019 |
| b2-004 | Nghiên cứu bệnh–chứng đầu tiên (Auckland) báo cáo nguy cơ tuyệt đối thai chết lưu muộn là 1,96/1.000 ở phụ nữ đi ngủ nằm nghiêng trái và 3,93/1.000 ở phụ nữ đi ngủ ở tư thế khác; nằm ngửa đi kèm aOR 2,54 so với nghiêng trái. | Nguy cơ tuyệt đối 1,96/1.000 (nghiêng trái) so với 3,93/1.000 (không nghiêng trái); nằm ngửa aOR 2,54 (KTC 95% 1,04–6,18); nghiêng phải aOR 1,74 (0,98–3,01) | Người | Bệnh–chứng dựa trên quần thể; thai đơn ≥ 28 tuần không dị tật; phỏng vấn có cấu trúc trung bình khoảng 25 ngày sau thai lưu; tư thế tự báo cáo, không kiểm chứng khách quan. Cỡ mẫu: 155 ca, 310 chứng ghép theo tuổi thai; Auckland, New Zealand | Stacey và cs., 2011 |
| b2-005 | Nghiên cứu Auckland cũng ghi nhận dậy đi vệ sinh ≤ 1 lần trong đêm cuối và ngủ ngày đều đặn trong tháng trước đi kèm tỉ số chênh thai chết lưu muộn cao hơn. | Dậy đi vệ sinh ≤ 1 lần: aOR 2,28 (1,40–3,71); ngủ ngày đều đặn: aOR 2,04 (1,26–3,27) | Người | Như b2-004. Cỡ mẫu: 155 ca, 310 chứng | Stacey và cs., 2011 |
| b2-006 | Nghiên cứu bệnh–chứng đa trung tâm New Zealand ghi nhận nằm ngửa khi đi ngủ đêm cuối đi kèm tỉ số chênh thai chết lưu muộn cao hơn, ước tính điểm lớn hơn ở thai đủ tháng (phân nhóm ít ca, KTC rất rộng); ngủ < 6 giờ đêm cuối cũng đi kèm nguy cơ cao hơn, còn ngủ ngày thì không. | Nằm ngửa aOR 3,67 (1,74–7,78); PAR 9,4%; thai đủ tháng aOR 10,26 (3,00–35,04); non tháng aOR 3,12 (0,97–10,05); ngủ ngắn aOR 1,81 (1,14–2,88) | Người | Bệnh–chứng đa trung tâm ở 7/20 vùng y tế (2/2012–12/2015); chứng chọn ngẫu nhiên, ghép tần suất theo vùng và tuổi thai; phỏng vấn trung vị 24 ngày (IQR 16–32) sau thai lưu; hiệu chỉnh dân tộc, chỉ số thiếu thốn, tuổi, BMI, số lần sinh, hút thuốc, SGA, tuổi thai, vùng. Cỡ mẫu: 164 ca, 569 chứng; New Zealand | McCowan và cs., 2017 |
| b2-007 | Nghiên cứu bệnh–chứng MiNESS ở Anh (41 đơn vị sản khoa) ghi nhận đi ngủ nằm ngửa đêm trước thai lưu đi kèm aOR 2,31 đối với thai chết lưu ≥ 28 tuần so với nghiêng trái, với tỉ lệ quy thuộc quần thể 3,7%; nghiêng phải không cao hơn (OR chưa hiệu chỉnh 0,91). | Nằm ngửa aOR 2,31 (KTC 95% 1,04–5,11); PAR 3,7% (0,5–9,2); nghiêng phải OR chưa hiệu chỉnh 0,91 (0,65–1,26) | Người | Bệnh–chứng; nhóm bệnh phỏng vấn sớm nhất có thể (mục tiêu 1–6 tuần sau sinh; trung vị 25 ngày, IQR 17–35 sau chẩn đoán), nhóm chứng phỏng vấn khi đang mang thai ở tuổi thai tương ứng; tư thế đêm trước thai lưu (bệnh) hoặc đêm trước phỏng vấn (chứng), tự báo cáo; hiệu chỉnh dân tộc, học vấn, tuổi, BMI, số lần sinh, hút thuốc, SGA, các biến giấc ngủ khác, tuổi thai, đơn vị sản khoa. Cỡ mẫu: 291 ca, 733 chứng; Vương quốc Anh | Heazell và cs., 2018 |
| b2-008 | Trong MiNESS, ngủ < 5,5 giờ đêm trước thai lưu, dậy đi vệ sinh ≤ 1 lần trong đêm và ngủ trưa mỗi ngày đều đi kèm tỉ số chênh thai chết lưu muộn cao hơn. | Ngủ < 5,5 giờ aOR 1,83 (1,24–2,68); đi vệ sinh ≤ 1 lần aOR 2,81 (1,85–4,26); ngủ trưa mỗi ngày aOR 2,22 (1,26–3,94) | Người | Như b2-007; thời lượng ngủ và giấc trưa tự báo cáo. Cỡ mẫu: 291 ca, 733 chứng | Heazell và cs., 2018 |
| b2-009 | Trong thuần tập tiến cứu nuMoM2b (Mỹ, con so), tư thế ngủ ngửa hoặc không nghiêng trái tự báo cáo đến khoảng tuần 30 không đi kèm tăng kết cục gộp thai chết lưu, rối loạn tăng huyết áp thai kỳ hoặc SGA. | Kết cục gộp, ngửa so với nghiêng trái: tuần 6–14 aOR 0,93 (0,75–1,16); tuần 22–30 aOR 0,87 (0,63–1,19); kết cục gộp xảy ra ở 1.903/8.706 thai (22%); phân tích lần khám 3 chỉ có 18 thai chết lưu (5 nhóm không nghiêng trái, 13 nhóm nghiêng trái) | Người | Phân tích thứ cấp thuần tập tiến cứu đa trung tâm; tư thế tự báo cáo ở lần khám 6+0–13+6 tuần và 22+0–29+6 tuần ("ngủ ngửa là chủ yếu"); một phân nhóm đo khách quan bằng thiết bị ngủ tại nhà mức 3 (Embletta Gold; ngửa > 50% thời gian ngủ). Cỡ mẫu: 8.706 phụ nữ con so mang thai đơn (trong 10.038 tuyển); phân nhóm đo khách quan 3.133 (lần 1) và 2.474 (lần 3) | Silver và cs., 2019 |
| b2-010 | Tài liệu bằng chứng chính thức của Hướng dẫn NICE NG201 về chăm sóc trước sinh (Anh, bản cuối 8/2021, làm cơ sở cho khuyến nghị 1.3.24–1.3.25) xếp bằng chứng từ phân tích gộp IPD về nằm ngửa và thai chết lưu là "chất lượng cao" theo khung GRADE cho câu hỏi tiên lượng, nhưng hội đồng ghi rõ đây có thể chưa phải bằng chứng quyết định về nhân quả. Hội đồng chọn khuyên phụ nữ cố tránh đi ngủ nằm ngửa sau 28 tuần. | Bằng chứng "chất lượng cao" từ IPD 5 nghiên cứu bệnh–chứng (N = 3.108) cho thai chết lưu; 4 nghiên cứu (N = 1.760) cho SGA; nghiên cứu đơn lẻ: rất thấp đến thấp | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tổng quan bằng chứng của National Guideline Alliance (thuộc RCOG) cho NICE; đánh giá nghiên cứu bằng QUIPS và GRADE sửa đổi cho tổng quan tiên lượng. Cỡ mẫu: 7 công bố; IPD 3.108 người (thai chết lưu), 1.760 người (SGA) | National Institute for Health and Care Excellence, 2021 |
| b2-011 | Tuyên bố vị trí của Hội Chu sinh Úc và New Zealand (PSANZ) cùng Trung tâm Nghiên cứu Xuất sắc về Thai chết lưu (9/2019) khuyến nghị từ tuần 28 bắt đầu mọi giấc ngủ (đêm, ngủ lại sau khi thức, ngủ ngày) ở tư thế nghiêng bên nào cũng được. Tuyên bố cũng nói người mẹ không cần lo nếu thức dậy thấy mình nằm ngửa, chỉ cần nằm nghiêng lại. | Dẫn aOR 2,63 (1,72–4,04) của phân tích gộp IPD; "1 in 10" thai chết lưu muộn có thể phòng được, lấy từ PAR "khoảng 10%" của hai nghiên cứu đơn lẻ (New Zealand 2017 và Úc), không phải PAR 5,8% của IPD | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố vị trí dựa trên phân tích gộp IPD 2019 (Cronin và cộng sự). Cỡ mẫu: Không áp dụng | Perinatal Society of Australia and New Zealand (PSANZ), 2019 |
| b2-012 | Sau chiến dịch quốc gia "ngủ nghiêng" ở New Zealand (từ 2018), khảo sát trực tuyến 2019–2020 ghi nhận 1,8% thai phụ ≥ 28 tuần đi ngủ nằm ngửa đêm trước, thấp hơn các khảo sát trước chiến dịch (3,2–4,6%); 86,5% cho biết đã nhận lời khuyên ngủ nghiêng. | Nằm ngửa 30/1.633 (1,8%) so với 4,6% (2007–2009), 3,9% (2012–2015), 3,2% (2014); χ² xu hướng = 11,37, p = 0,0007; 1.412/1.633 (86,5%) nhận lời khuyên | Người | Hai khảo sát cắt ngang ẩn danh trên web (11/2019–3/2020); so sánh với các khảo sát lịch sử khác quần thể, không phải trước–sau trên cùng quần thể; tư thế tự báo cáo. Cỡ mẫu: 1.633 thai phụ đơn thai ≥ 28 tuần (trung vị 34 tuần); 709 nhân viên y tế | Cronin và cs., 2021 |
| b2-013 | Ở nhóm chứng (thai sống) của 4 nghiên cứu bệnh–chứng, thai phụ thường đi ngủ nằm ngửa trong 1–4 tuần cuối thai kỳ có con với cân nặng lúc sinh thấp hơn trung bình 144 g sau hiệu chỉnh. | Chênh lệch trung bình hiệu chỉnh −144 g (KTC 95% −253 đến −36); 3.410 g so với 3.554 g; SGA theo INTERGROWTH-21st aOR 3,23 (1,37–7,59); SGA theo bách phân vị cá thể hoá aOR 1,63 (0,77–3,44, không ý nghĩa) | Người | Phân tích phân nhóm định trước từ IPD (chỉ nhóm chứng có thai đang tiếp diễn ≥ 28 tuần); tư thế đi ngủ thường lệ tự báo cáo. Cỡ mẫu: 1.760 thai phụ; chỉ 57 (3,2%) nằm ngửa; New Zealand, Úc, Anh | Anderson và cs., 2019 |
| b2-035 | Ở 29 thai phụ khoẻ cuối thai kỳ đo điện tim thai liên tục trong 4 tư thế xếp ngẫu nhiên, khi mẹ nằm ngửa thai ở trạng thái yên tĩnh (1F) nhiều hơn và biến thiên nhịp tim thai giảm, mà tác giả diễn giải là thích nghi của thai với một kích thích thiếu oxy nhẹ. | Trạng thái 1F khi nằm ngửa so với nghiêng trái: OR 4,99 (2,41–10,43); nghiêng phải: OR 2,36 (1,11–5,04); SDNN và RMSSD giảm khi nằm ngửa và nửa ngồi | Người | Thực nghiệm, thứ tự 4 tư thế ngẫu nhiên (nghiêng trái, nghiêng phải, nằm ngửa, nửa ngồi); điện tim thai liên tục; trạng thái thai do 2 người đánh giá che mù chấm theo khối 5 phút (tóm tắt không nêu mẹ thức hay ngủ). Cỡ mẫu: 29 thai phụ khoẻ cuối thai kỳ; New Zealand | Stone và cs., 2017b (tóm tắt) |
| b2-036 | Ghi điện tim thai suốt đêm kèm video hồng ngoại ở 29 thai phụ khoẻ: khi mẹ ngủ nằm ngửa thai ở trạng thái ngủ yên (1F) nhiều hơn, còn trạng thái thức hoạt động (4F) hầu như chỉ xuất hiện khi mẹ nằm nghiêng. | 1F khi mẹ nằm ngửa: OR 1,30 (1,11–1,52) (tóm tắt không nêu nhóm tham chiếu); khi nghiêng phải: OR 0,81 (0,70–0,93) so với nghiêng trái | Người | Quan sát qua đêm; tư thế mẹ xác định bằng video hồng ngoại; điện tim thai liên tục. Cỡ mẫu: 29 thai phụ khoẻ cuối thai kỳ; New Zealand | Stone và cs., 2017a (tóm tắt) |
| b2-045 | Nghiên cứu bệnh–chứng quốc tế tuyển qua internet (chủ yếu Mỹ) không tìm thấy liên quan giữa đi ngủ nằm ngửa và thai chết lưu muộn (rất ít người nằm ngửa, KTC rất rộng); thay vào đó, các giai đoạn ngủ dài không bị gián đoạn (thức ≤ 1 lần đêm cuối, ngủ ≥ 9 giờ, ít ngủ trằn trọc) đi kèm tỉ số chênh cao hơn. | Nằm ngửa tháng trước: aOR 0,37 (0,04–3,12); đêm cuối: aOR 1,05 (0,32–3,50); thức ≤ 1 lần đêm cuối: aOR 2,03 (1,24–3,34); ngủ ≥ 9 giờ tháng trước: aOR 1,75 (1,10–2,79); thức dậy ở tư thế nghiêng phải tháng trước: aOR 2,27 (1,31–3,92) | Người | Bệnh–chứng qua internet (9/2012–8/2014), tuyển qua quảng cáo mạng xã hội và Star Legacy Foundation; nhóm bệnh trả lời trung vị 13 ngày sau thai lưu; tự báo cáo. Cỡ mẫu: 153 ca thai chết lưu ≥ 28 tuần, 480 chứng; chủ yếu Mỹ (123 ca, 325 chứng), Anh, Canada, Úc | O'Brien và cs., 2019 |
| b2-046 | Phân tích thứ phát của IPD 5 nghiên cứu bệnh–chứng: ngủ > 9 giờ và ngủ ngày hằng ngày trong tháng trước đi kèm tỉ số chênh thai chết lưu muộn cao hơn; ngủ trằn trọc hơn bình thường đi kèm tỉ số chênh thấp hơn; ngáy, buồn ngủ ban ngày và dậy đi vệ sinh không liên quan. | Ngủ > 9 giờ: aOR 1,82 (1,14–2,90); ngủ ngày hằng ngày: aOR 1,52 (1,02–2,28); trằn trọc hơn trung bình: aOR 0,62 (0,44–0,88); bảng hỏi Berlin dương tính: aOR 1,44 (1,02–2,04), bỏ tiêu chí BMI: aOR 0,81 (0,54–1,21) | Tổng quan | Phân tích thứ phát IPD; triệu chứng tự báo cáo cho tháng trước thai lưu; triệu chứng rối loạn thở khi ngủ đo bằng bảng hỏi Berlin, không PSG. Cỡ mẫu: 851 ca, 2.257 chứng; New Zealand (2), Úc, Anh, quốc tế | Cronin và cs., 2020 |
| b2-060 | Nghiên cứu bệnh–chứng dựa trên quần thể ở Sydney (thai ≥ 32 tuần) ghi nhận tỉ lệ nằm ngửa khi ngủ 9,7% ở nhóm thai chết lưu so với 2,1% ở nhóm chứng; tác giả cho rằng nằm ngửa có thể là nguy cơ cộng thêm ở thai vốn đã bị tổn thương (nghi chậm tăng trưởng). | Nằm ngửa aOR 6,26 (1,2–34); nghi thai chậm tăng trưởng 11,7% so với 1,6%, aOR 5,5 (1,36–22,5) | Người | Bệnh–chứng ghép cặp theo bệnh viện và ngày dự sinh (2006–2011); phỏng vấn bán cấu trúc; thai đơn chết lưu trước sinh ≥ 32 tuần (TB 36 tuần). Cỡ mẫu: 103 ca, 192 chứng; Sydney, Úc | Gordon và cs., 2015 (tóm tắt) |
| b2-061 | Ở nhánh chứng của một thử nghiệm cộng đồng tại vùng nông thôn Bangladesh, tư thế bắt đầu ngủ được hỏi tiến cứu (trước khi sinh); 4,8% nằm ngửa và không ghi nhận liên quan có ý nghĩa thống kê với thai chết lưu, trong bối cảnh tỉ lệ thai chết lưu chung 24/1.000 ca sinh. | Thai chết lưu 19/799 (24/1.000); nằm ngửa 4,8%, nghiêng 95,1%; aRR 2,07 (KTC 95% 0,59–7,28) | Người | Phân tích thứ phát nhánh chứng của một RCT cụm cộng đồng; bảng hỏi tư thế ngủ thu tiến cứu (5–11/2021); kết cục thai thu trong 10 ngày sau sinh; hồi quy Poisson. Cỡ mẫu: 799 ca sinh; huyện Sherpur, Bangladesh | Harris và cs., 2025 (tóm tắt) |
| b2-064 | Tờ thông tin cho nhân viên y tế của Bộ Y tế bang New South Wales (Úc, cập nhật 10/2019) khuyến nghị từ tuần 28 bắt đầu ngủ ở tư thế nghiêng (cả ngủ đêm, ngủ lại sau khi thức và ngủ ngày), bên nào cũng được, và nên trao đổi trước tuần 28. Tờ thông tin cũng nói rõ phụ nữ không cần lo nếu thức dậy thấy mình nằm ngửa. | Dẫn aOR 2,63 (1,72–4,04); nêu các nghiên cứu đơn lẻ cho mức "gấp 2,5 đến 8 lần"; ước khoảng 1/10 thai chết lưu muộn có thể tránh được; không nêu nguy cơ tuyệt đối | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tài liệu hướng dẫn lâm sàng của cơ quan y tế nhà nước, gắn với chương trình Safer Baby Bundle. Cỡ mẫu: Không áp dụng | NSW Health, 2019 |
| b2-066 | Bình luận đi kèm phân tích gộp IPD (Silver, cũng là tác giả thứ nhất của phân tích tư thế ngủ trong nuMoM2b ở b2-009) cho rằng có thể cân nhắc khuyên phụ nữ tránh đi ngủ nằm ngửa cuối thai kỳ. Tác giả nhấn mạnh dữ liệu chỉ từ nghiên cứu bệnh–chứng với nguy cơ sai lệch hồi tưởng cao, tư thế lúc thức dậy không liên quan, và chiến dịch y tế công cộng cần tránh gây lo âu, cảm giác tội lỗi cho người mẹ. | "about 6%" thai chết lưu muộn có thể do đi ngủ nằm ngửa (dẫn PAR 5,8% của IPD) | Tổng quan | Bình luận chuyên môn (commentary) về b2-001. Cỡ mẫu: Không áp dụng | Silver, 2019 |
Dùng ở chương: Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b2-014 | Đo actigraphy liên tục tuần 2–16 sau sinh ở Mỹ: tổng thời gian ngủ đêm của mẹ trung bình khoảng 7,2 giờ và không thay đổi có ý nghĩa qua 4 tháng, nhưng giấc ngủ bị chia cắt nhiều; hiệu quả giấc ngủ tăng và chỉ số phân mảnh giảm dần theo tuần. | Tổng ngủ 7,2 ± 0,95 giờ; hiệu quả giấc ngủ 79,7% (tuần 2) → 90,2% (tuần 16); chỉ số phân mảnh 21,7 → 12,8; thức gần 2 giờ mỗi đêm | Người | Thuần tập dọc thực địa; actigraphy cổ tay (Actiwatch-64, epoch 15 giây) liên tục mỗi tuần; loại người có điểm trầm cảm cao. Cỡ mẫu: 50 bà mẹ (tuần 2–13) và 24 (tuần 9–16); West Virginia, Mỹ | Montgomery-Downs và cs., 2010b |
| b2-015 | Ở phụ nữ khoẻ mạnh nguy cơ thấp (Melbourne, Úc), từ tam cá nguyệt ba đến tuần đầu sau sinh, actigraphy cho thấy tổng ngủ đêm giảm khoảng 56 phút và thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) gần gấp đôi. Nhưng cảm nhận chủ quan về giấc ngủ, chứ không phải giấc ngủ đo khách quan, đi kèm mạnh nhất với khí sắc trầm sau sinh. | Tổng ngủ 428,4 ± 45,2 → 372,6 ± 73,9 phút; WASO 77,1 → 149,7 phút; hiệu quả giấc ngủ 76,9% → 62,6%; giấc ngủ chủ quan sau sinh giải thích R² = 0,35 điểm trầm cảm HADS | Người | Thuần tập dọc 2 thời điểm (tam cá nguyệt ba, 1 tuần sau sinh); actigraphy cổ tay (Actiwatch-64) và PSQI; khí sắc đo bằng DASS-21, HADS, PANAS. Cỡ mẫu: 44 phụ nữ (37 trong phân tích khí sắc; 28 đủ actigraphy sau sinh); Úc | Bei và cs., 2010 |
| b2-016 | Ở người cha 6 tháng sau sinh (Montréal, Canada), chất lượng giấc ngủ tự cảm nhận đi kèm triệu chứng trầm cảm, còn thời lượng và hiệu quả giấc ngủ đo bằng actigraphy hay nhật ký thì không. | Ngủ theo actigraphy 445,3 ± 52,0 phút, theo nhật ký 440,3 ± 46,7 phút; chất lượng tự cảm nhận β = −0,28, p = 0,034 (R² mô hình 0,172); các biến actigraphy đều p > 0,05 | Người | Cắt ngang; actigraphy 14 ngày (Actiwatch Spectrum Plus), nhật ký ngủ, thang chất lượng 1–10; trầm cảm đo bằng CES-D; hiệu chỉnh số con. Cỡ mẫu: 54 người cha không có tiền sử trầm cảm; Québec, Canada | Kalogeropoulos và cs., 2021 |
| b2-017 | Ở 120 bà mẹ sinh con đầu (Mỹ, thu nhập thấp, đa sắc tộc), nhóm chỉ cho bú mẹ ban đêm ngủ đêm nhiều hơn khoảng 30 phút theo actigraphy ở 1 tháng sau sinh so với nhóm có dùng sữa công thức ban đêm; mức độ thức giữa đêm thì không khác. | Ngủ đêm 386 ± 66 phút (bú mẹ hoàn toàn) so với 356 ± 67 phút (có sữa công thức); giảm so với lúc mang thai: 21 phút (KTC 95% 0,1–42) so với 62 phút (39–85); WASO không khác theo nhóm | Người | Thuần tập dọc trong một RCT lớn hơn; actigraphy cổ tay 72 giờ và nhật ký 3 ngày ở tháng cuối thai kỳ và 1 tháng sau sinh; thang General Sleep Disturbance Scale. Cỡ mẫu: 120 bà mẹ sinh con đầu (66 bú mẹ hoàn toàn ban đêm, 54 có sữa công thức); Mỹ | Doan và cs., 2014 |
| b2-018 | Một nghiên cứu actigraphy tuần 2–12 sau sinh không thấy khác biệt về thời gian ngủ, chất lượng ngủ, mệt mỏi hay chức năng ban ngày giữa bà mẹ cho bú mẹ hoàn toàn, dùng sữa công thức hoàn toàn hay kết hợp. | Không khác biệt trên mọi chỉ số (tóm tắt không nêu số liệu) | Người | Thuần tập dọc; actigraphy và tự báo cáo; buồn ngủ/mệt đo bằng thang VAS mệt mỏi, Stanford Sleepiness Scale, Epworth. Cỡ mẫu: Tóm tắt không nêu cỡ mẫu; Mỹ | Montgomery-Downs và cs., 2010a (tóm tắt) |
| b2-023 | Thử nghiệm ngẫu nhiên 3 nhánh ở Melbourne (bà mẹ sinh con đầu, 4–12 tháng sau sinh, có triệu chứng mất ngủ): CBT có chuyên viên hướng dẫn và liệu pháp sáng–tối (light dark therapy) đều giảm điểm ISI so với chăm sóc thông thường, nhưng điểm trầm cảm PROMIS không khác có ý nghĩa. | ISI so với chứng: CBT −4,86 (cỡ hiệu ứng −2,01), sáng–tối −3,66 (−1,52), p < 0,001; chẩn đoán rối loạn mất ngủ sau can thiệp 8,6% / 8,3% / 36,1%; trầm cảm PROMIS p = 0,20 (CBT), p = 0,16 (sáng–tối) | Người | RCT song song 3 nhánh; người tham gia không che mù, người đánh giá che mù; kết cục chính ISI; phụ: PROMIS giấc ngủ, nhật ký, Epworth, mệt mỏi, PROMIS trầm cảm/lo âu; theo dõi 1 tháng. Cỡ mẫu: 114 phụ nữ (CBT 39, sáng–tối 36, chứng 39); Úc | Verma và cs., 2023 |
| b2-032 | Ở 33 cặp vợ chồng tại Montréal 6 tháng sau sinh, actigraphy cho thấy người mẹ ngủ đêm dài hơn người cha khoảng 47 phút, nhưng giấc ngủ của mẹ bị chia cắt nhiều hơn (đoạn ngủ liền dài nhất ngắn hơn, thức nhiều lần hơn); theo tự báo cáo, hai bên không khác về thời lượng. | Ngủ đêm theo actigraphy: mẹ 448,07 ± 36,49 phút, cha 400,96 ± 45,42 phút (p < 0,001); đạt ≥ 6 giờ ngủ liền: mẹ ~27% số đêm, cha ~57% (actigraphy) | Người | Cắt ngang (thời điểm đầu của một nghiên cứu dọc); nhật ký và actigraphy (Actiwatch Spectrum Plus) 10 đêm liên tiếp. Cỡ mẫu: 33 cặp cha mẹ; Québec, Canada | Kalogeropoulos và cs., 2022 |
| b2-033 | Khảo sát dựa trên quần thể ở Stavanger (Na Uy) 7 tuần sau sinh: 57,7% bà mẹ có giấc ngủ kém theo PSQI và 16,5% có điểm EPDS ≥ 10; giấc ngủ kém đi kèm trầm cảm độc lập với tiền sử trầm cảm, trầm cảm khi mang thai, quan hệ vợ chồng kém và biến cố căng thẳng. | Ngủ kém (PSQI > 5) 57,7%; trầm cảm (EPDS ≥ 10) 16,5%; ngủ tự báo cáo trung bình 6,5 giờ/đêm, hiệu quả giấc ngủ 73% | Người | Cắt ngang dựa trên quần thể; bảng hỏi gửi thư 7 tuần sau sinh; PSQI và EPDS (tự báo cáo); tỉ lệ phản hồi 68%. Cỡ mẫu: 2.830 bà mẹ (trên 4.191 đủ điều kiện); Na Uy | Dørheim và cs., 2009 (tóm tắt) |
| b2-039 | Thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm ở Toronto: buổi tư vấn với điều dưỡng, tài liệu và gọi điện hướng dẫn giấc ngủ cho mẹ con so không làm tăng thời lượng ngủ đêm của mẹ đo bằng actigraphy ở 6 và 12 tuần, cũng không thay đổi mệt mỏi, trầm cảm EPDS hay giấc ngủ của trẻ. | Chênh lệch ngủ đêm của mẹ 5,97 phút (KTC 95% −7,55 đến 19,5; p = 0,39) | Người | RCT đa trung tâm, phân bổ che giấu, người đánh giá che mù; chứng: chăm sóc thông thường + gọi điện không tư vấn giấc ngủ; can thiệp: gặp điều dưỡng 45–60 phút, sách 20 trang, gọi điện tuần 1, 2, 4; kết cục chính actigraphy. Cỡ mẫu: 246 bà mẹ con so (215 phân tích giấc ngủ); 2 bệnh viện ở Toronto, Canada | Stremler và cs., 2013 |
| b2-040 | Trong nghiên cứu bảng mẫu đại diện dân số Đức, thời lượng và mức hài lòng giấc ngủ tự báo cáo giảm mạnh nhất trong 3 tháng đầu sau sinh, ở mẹ giảm nhiều hơn hẳn cha; và sau con đầu, giấc ngủ của cả mẹ lẫn cha chưa trở lại hoàn toàn mức trước mang thai đến 6 năm. | 3 tháng đầu: thời lượng giảm 62 phút ở mẹ (d = 0,90) so với 13 phút ở cha (d = 0,19); hài lòng giảm 1,81 điểm/10 ở mẹ (d = 0,79) so với 0,37 ở cha (d = 0,16) | Người | Nghiên cứu bảng (panel) dọc đại diện dân số, phỏng vấn hằng năm 2008–2015; thời lượng ngủ và mức hài lòng (0–10) tự báo cáo. Cỡ mẫu: 2.541 phụ nữ và 2.118 nam giới có con thứ nhất, hai hoặc ba; Đức | Richter và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b2-041 | Trong cùng nghiên cứu bảng mẫu ở Đức, cho con bú đi kèm giảm nhẹ mức hài lòng và thời lượng giấc ngủ tự báo cáo của mẹ. | Hài lòng giảm 0,72 điểm (d = 0,32); thời lượng giảm 14 phút (d = 0,21) | Người | Như b2-040; tự báo cáo. Cỡ mẫu: 2.541 phụ nữ; Đức | Richter và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b2-044 | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 19 công bố dùng actigraphy cho thấy tổng thời gian ngủ đêm sau sinh là chỉ số liên quan mạnh nhất với trầm cảm sau sinh. | Tóm tắt không nêu cỡ hiệu ứng | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp các nghiên cứu actigraphy trong thai kỳ hoặc sau sinh. Cỡ mẫu: 19 công bố (tóm tắt không nêu số người) | Sobol và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b2-051 | Trong nghiên cứu dọc ở Israel (3–18 tháng sau sinh), các bà mẹ duy trì ngủ chung phòng với con có tỉ lệ thời gian ngủ theo actigraphy thấp hơn, đoạn ngủ dài nhất ngắn hơn và thức đêm nhiều hơn so với bà mẹ cho con ngủ phòng riêng. | Tóm tắt không nêu số liệu cụ thể | Người | Thuần tập dọc; actigraphy và nhật ký 5 đêm cho mẹ và trẻ ở 3, 6, 12, 18 tháng; bảng hỏi sắp xếp chỗ ngủ, bú đêm, chức năng làm cha mẹ. Cỡ mẫu: 146, 141, 135, 130 cặp mẹ–con ở các mốc; Israel | Volkovich và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b2-052 | Ở 25 bà mẹ con so theo dõi từ tam cá nguyệt ba đến tuần 14 sau sinh, mức độ duy trì giấc ngủ (hiệu quả, phân mảnh, WASO theo actigraphy) đi kèm điểm EPDS, còn tổng thời lượng ngủ đêm thì không. Khi đưa đánh giá chủ quan vào mô hình, các chỉ số khách quan không còn ý nghĩa. | EPDS với hiệu quả giấc ngủ: F = 5,5, p = 0,022; với phân mảnh: F = 6,4, p = 0,014; với WASO: F = 4,8, p = 0,030; khi thêm điểm chủ quan: p > 0,75 | Người | Thuần tập dọc; actigraphy cổ tay (Actiwatch-64), nhật ký, General Sleep Disturbance Scale ở tam cá nguyệt ba và tuần 2, 6, 10, 14 sau sinh; EPDS, CES-D. Cỡ mẫu: 25 phụ nữ con so khoẻ mạnh; Mỹ | Park và cs., 2013 |
| b2-053 | Trong thuần tập sinh Akershus (Na Uy), khoảng 60% phụ nữ có mất ngủ theo thang Bergen ở tuần 32 thai kỳ và vẫn khoảng 60% ở 8 tuần sau sinh, giảm còn 41% ở 2 năm. Thời lượng ngủ tự báo cáo giảm từ 7 giờ 16 phút xuống 6 giờ 31 phút; trầm cảm đồng thời không giải thích được tính dai dẳng của rối loạn giấc ngủ. | Mất ngủ 60,8% (tuần 32), 59,6% (8 tuần sau sinh), 40,8% (2 năm); thời lượng 7 giờ 16 phút → 6 giờ 31 phút → 6 giờ 52 phút; hiệu quả giấc ngủ 83,6% → 74,2% → 89,0% | Người | Thuần tập dọc; Bergen Insomnia Scale (tự báo cáo) và thời lượng/hiệu quả giấc ngủ từ PSQI ở tuần 32, 8 tuần và 2 năm sau sinh. Cỡ mẫu: 1.480 phụ nữ khoẻ mạnh (79,6% mang thai lần đầu); Bệnh viện Đại học Akershus, Na Uy | Sivertsen và cs., 2015 |
| b2-059 | Trong thuần tập sinh ở Thẩm Dương (Trung Quốc), chất lượng giấc ngủ kém ở tam cá nguyệt hai đi kèm tỉ số chênh căng thẳng, trầm cảm trước sinh và trầm cảm 3 tháng sau sinh cao hơn, sau hiệu chỉnh tuổi, BMI, tuổi thai, hút thuốc, học vấn, thu nhập và hỗ trợ xã hội. Khi phân tầng theo tuổi, liên quan với trầm cảm sau sinh chỉ có ý nghĩa ở nhóm ≥ 30 tuổi (aOR 4,12). | Trầm cảm sau sinh aOR 2,40 (1,58–3,64); trầm cảm trước sinh aOR 3,42 (2,48–4,72); căng thẳng aOR 2,60 (1,79–3,77); phụ nữ ≥ 30 tuổi: trầm cảm sau sinh aOR 4,12 (2,18–7,78); PSQI ≥ 5 ở 660/1.152 (~57%, tính từ bảng) | Người | Thuần tập sinh tiến cứu (Born in Shenyang); PSQI (≥ 5 = kém) ở tuần thai TB 23,6; EPDS (điểm chuẩn hoá ≥ 9 cho người Trung Quốc) trước sinh và 3 tháng sau sinh; thang áp lực thai kỳ. Cỡ mẫu: 1.152 cặp mẹ–con (739 có dữ liệu trầm cảm 3 tháng sau sinh); Thẩm Dương, Trung Quốc | Gao và cs., 2019 |
| b2-063 | Nghiên cứu bệnh–chứng ghép cặp ở 6–26 tuần sau sinh: phụ nữ trầm cảm sau sinh có giấc ngủ actigraphy kém hơn; thời gian vào giấc và thời gian thức sau khi ngủ dài hơn cùng hiệu quả giấc ngủ thấp hơn đi kèm mức độ trầm cảm nặng hơn. | Hệ số hồi quy dự báo mức trầm cảm: thời gian vào giấc B = 1,80; WASO B = 6,85; hiệu quả giấc ngủ B = −6,31 (đều p < 0,05) | Người | Bệnh–chứng ghép cặp, đo lặp; actigraphy cổ tay tại nhà 7 ngày; trầm cảm bằng Postpartum Depression Screening Scale. Cỡ mẫu: 46 phụ nữ 6–26 tuần sau sinh (2 bị loại); Mỹ | Posmontier, 2008 (tóm tắt) |
| b2-065 | Phân tích gộp 10 nghiên cứu ghi nhận mất ngủ và chất lượng giấc ngủ kém trong giai đoạn chu sinh đi kèm ý tưởng/nguy cơ tự sát với OR gộp 3,47; với triệu chứng mất ngủ, liên quan vẫn còn sau khi tính đến trầm cảm chu sinh. | Mất ngủ + chất lượng kém OR 3,47 (2,63–4,57); chất lượng kém OR 3,72 (2,58–5,34); triệu chứng mất ngủ sau khi tính trầm cảm OR 4,76 (1,83–12,34) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống theo PRISMA và phân tích gộp; tóm tắt không nêu công cụ đo; không tách ý tưởng với hành vi tự sát. Cỡ mẫu: 10 nghiên cứu, 807.760 phụ nữ | Palagini và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b2-067 | Ở 21 cặp cha mẹ sinh con đầu (so với 7 cặp chưa có con), actigraphy 1 tuần cho thấy mẹ ngủ nhiều hơn cha nhưng bị thức giấc nhiều hơn. Cha buồn ngủ khách quan hơn mẹ trong bài kiểm tra ở phòng thí nghiệm, còn mẹ có kết quả bài kiểm tra thần kinh–hành vi kém hơn; tự đánh giá chất lượng ngủ, buồn ngủ và mệt mỏi không khác giữa hai bên. | Tóm tắt không nêu số liệu so sánh | Người | Nghiên cứu đa phương pháp: actigraphy cổ tay 1 tuần tại nhà, thang buồn ngủ/mệt và bài kiểm tra hiệu suất thần kinh–hành vi nhiều ngày, sau đó bài kiểm tra buồn ngủ khách quan ở phòng thí nghiệm. Cỡ mẫu: 21 cặp cha mẹ sinh con đầu (42 người) và 7 cặp chứng không con (14 người); Mỹ | Insana và Montgomery-Downs, 2013 (tóm tắt) |
| b2-068 | Phân tích gộp 8 RCT nhỏ cho thấy liệu pháp ánh sáng cường độ cao (so với ánh sáng mờ hoặc đỏ cường độ thấp) đi kèm cải thiện nhỏ–vừa điểm trầm cảm và điểm giấc ngủ tự báo cáo. Với điểm trầm cảm, hiệu quả có ý nghĩa ở nhóm sau sinh nhưng không ở nhóm mang thai; tác giả tự nhận bằng chứng rất ít. | Trầm cảm SMD 0,34 (0,08–0,61), I² 75%; giấc ngủ SMD 0,64 (0,28–1,00), 3 nghiên cứu; sau sinh SMD 0,50 (0,18–0,82); trong thai kỳ SMD 0,43 (−0,02 đến 0,87), I² 90% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 8 RCT; chứng chủ yếu ánh sáng mờ/đỏ cường độ thấp (khoảng 5–600 lux), 1 nghiên cứu chăm sóc thông thường; giấc ngủ đo bằng PSQI, ISI, GSDS (tự báo cáo); phần lớn nguy cơ sai lệch cao hoặc không rõ. Cỡ mẫu: 8 nghiên cứu, 258 người (trầm cảm: 7 nghiên cứu, 231 người; giấc ngủ: 3 nghiên cứu, 128 người) | Li và cs., 2023 |
Viết tắt trong trang
- AHI
- chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
- aOR
- tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
- aRR
- tỉ số nguy cơ hiệu chỉnh (adjusted risk ratio)
- BMI
- chỉ số khối cơ thể (body mass index)
- CBT-I
- liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
- CPAP
- thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure)
- EPDS
- thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale)
- GDM
- đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes mellitus)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- HR
- tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
- IPD
- phân tích gộp dữ liệu từng cá nhân (individual participant data)
- IQR
- khoảng tứ phân vị (interquartile range)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- NNT
- số người cần can thiệp để có thêm một người hưởng lợi (number needed to treat)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- OSA
- ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
- PRISMA
- chuẩn báo cáo tổng quan hệ thống và phân tích gộp (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses)
- PSANZ
- Hội Chu sinh Úc và New Zealand (Perinatal Society of Australia and New Zealand)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- RDI
- chỉ số rối loạn hô hấp (respiratory disturbance index)
- RLS
- hội chứng chân không yên (restless legs syndrome)
- RMSSD
- căn bậc hai trung bình bình phương hiệu số các khoảng nhịp liên tiếp (root mean square of successive differences)
- SGA
- nhỏ so với tuổi thai (small for gestational age)
- SMD
- chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục B. Dữ kiện: thai kỳ và sau sinh. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/phu-luc-b-du-kien-b2/