Giấc ngủ của phụ nữ thay đổi theo những mốc mà nam giới không có: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, những tháng sau sinh và mãn kinh. Tập này hỏi ở mỗi mốc đó bằng chứng nói gì, đo bằng gì, ở nước nào và mạnh tới đâu, và Việt Nam đã tự đo được những gì. Mọi khác biệt giữa nữ và nam trong tập là khác biệt trung bình giữa hai nhóm, không nói về từng người. Tập thuật lại kết quả thử nghiệm và khuyến nghị chính thức nhưng không khuyên dùng hay không dùng hormone, thuốc, thực phẩm chức năng hay tư thế ngủ nào, và không nêu liều.
Phương pháp. Tập có bốn nhánh thu thập độc lập theo một giao thức chung: khác biệt giới, chu kỳ kinh và hormone; thai kỳ và sau sinh; quanh và sau mãn kinh; nguồn Việt Nam. Mỗi nhánh được một phiên kiểm chứng độc lập mở lại nguồn gốc và đối chiếu từng con số. Lượt kiểm chứng đầu sửa 93 trong 256 dữ kiện; 9 dữ kiện chưa kiểm được ở lượt đầu được kiểm lại ở lượt sau (sửa 2), và không dữ kiện nào bị loại. Kết quả là 256 dữ kiện đã kiểm chứng từ 190 nguồn; 182 dữ kiện đọc từ toàn văn, 74 chỉ đọc được tóm tắt. Mỗi lượt là một phiên làm việc riêng của Claude (một mô hình trí tuệ nhân tạo), không thấy quá trình làm của phiên trước; đó không phải người thẩm định là chuyên gia. Mỗi kết luận chính có một mức chắc chắn của bằng chứng do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn; cách làm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.
Cách đọc. Tỉ số chênh (odds ratio, OR) và tỉ số nguy cơ (risk ratio, RR) là thước đo tương đối, không cho biết bao nhiêu người thật sự bị ảnh hưởng; khi kết cục phổ biến, OR còn xa 1 hơn RR tương ứng. Số liệu về tư thế ngủ và thai chết lưu chủ yếu đến từ nghiên cứu bệnh–chứng, trong đó người mẹ được hỏi lại sau khi thai đã mất, do đó dễ có sai lệch nhớ lại. Tư thế khi ngủ cũng là điều không ai kiểm soát được hết. Cảm nhận giấc ngủ trên bảng hỏi và giấc ngủ đo bằng đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) hay actigraphy (thiết bị đeo cổ tay ghi cử động) thường cho kết quả khác nhau; tập ghi rõ mỗi con số đo bằng cách nào. Một nghiên cứu ở một bệnh viện hay một trường không đại diện cho cả nước.
Tập này kết luận được gì#
Cột "Độ chắc chắn" dùng bốn mức: cao, vừa, thấp, rất thấp. Mỗi câu hỏi được chấm cho một kết cục. Khi hai kết cục của cùng một vấn đề có mức khác nhau, như tự báo cáo và số đo bằng máy, chúng được tách thành hai câu hỏi. "Mô tả" là nội dung văn bản lấy từ nguồn, vì vậy không chấm mức; câu hỏi tỉ lệ phải ghép nhiều nguồn (như tỉ lệ mất ngủ khi mang thai) thì có chấm.
| Câu hỏi | Điều nguồn thật sự nói | Độ chắc chắn | Chương |
|---|---|---|---|
| Phụ nữ có mất ngủ nhiều hơn nam giới? | Hai phân tích gộp quốc tế cùng chiều: RR 1,41 khi tính mất ngủ theo nhiều định nghĩa (chỉ đọc tóm tắt), OR 1,58 khi chỉ tính mất ngủ chẩn đoán theo tiêu chuẩn. Phân tích gộp 17 nghiên cứu ở Trung Quốc không thấy khác biệt có ý nghĩa theo giới | Thấp | Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào |
| Đo bằng máy, nữ có ngủ sâu hơn nam? | Trong 2.685 người ở Mỹ đo bằng PSG (chỉ đọc tóm tắt), nữ có giấc ngủ sóng chậm nhiều hơn nam 106%, dù lại báo nhiều vấn đề giấc ngủ hơn. Phân tích gộp duy nhất là bản thảo chưa bình duyệt | Rất thấp | Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào |
| Giấc ngủ đo khách quan có thay đổi theo pha của chu kỳ kinh? | Trên PSG, hoạt động điện não vùng thoi ngủ tăng ở pha hoàng thể trong bốn nghiên cứu, và thức giấc tăng trong hai nghiên cứu, nhưng mỗi nghiên cứu chỉ 9–62 người. Tổng thời gian ngủ và hiệu quả giấc ngủ không đổi theo pha. Giấc ngủ sóng chậm giảm ở một nghiên cứu, không đổi ở các nghiên cứu khác | Rất thấp | Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ |
| Phụ nữ có hội chứng tiền kinh nguyệt (premenstrual syndrome, PMS) nặng có ngủ kém hơn khi đo bằng PSG? | Phụ nữ PMS nặng tự đánh giá giấc ngủ kém hơn ở pha hoàng thể muộn, nhưng PSG không thấy kém hơn (mỗi nhóm 5–18 người). Ở nữ sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội, "ngủ nhiều" trước kỳ kinh gặp nhiều hơn "mất ngủ" (69,4% so với 44,4%, do nhóm biên tập tính từ bảng của bài SL) | Rất thấp | Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ |
| Thuốc tránh thai nội tiết có đi kèm thay đổi giấc ngủ? | Phân tích gộp 13 nghiên cứu (chỉ đọc tóm tắt) chỉ thấy một khác biệt có ý nghĩa trong 33 phép gộp: thời gian thức sau khi đã ngủ (WASO) ngắn hơn 7,12 phút ở người dùng. Một khảo sát trực tuyến lại thấy người dùng than phiền nhiều hơn | Rất thấp | Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ |
| Phụ nữ bị ngưng thở khi ngủ có bị bỏ sót? | Trong mẫu dân số Lausanne đo PSG, rối loạn thở khi ngủ mức trung bình–nặng gặp ở 23,4% nữ và 49,7% nam. Tỉ lệ nam:nữ là 3–5:1 trong dân số nhưng 8–10:1 ở mẫu phòng khám, một chỉ báo gián tiếp của chẩn đoán thiếu ở nữ | Rất thấp | Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu |
| Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) có đi kèm ngưng thở khi ngủ độc lập với béo phì? | Hai phân tích gộp đo bằng PSG cho OR 8,3 và 3,83, khoảng tin cậy rất rộng. Ở hai nghiên cứu có phân tầng theo chỉ số khối cơ thể (BMI), không ghi nhận ngưng thở ở phụ nữ PCOS không béo phì. Hướng dẫn quốc tế 2023 tự xếp chất lượng bằng chứng là trung bình | Rất thấp | Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu |
| Sau mãn kinh có đi kèm ngưng thở khi ngủ nhiều hơn? | Ở 589 phụ nữ Wisconsin đo PSG, sau mãn kinh đi kèm OR 2,6 cho chỉ số ngưng thở–giảm thở (AHI) ≥ 5 so với trước mãn kinh, sau hiệu chỉnh tuổi và thể trạng. Theo dõi dọc 219 phụ nữ thấy AHI cao hơn 4% với mỗi năm sau mãn kinh; một mẫu Mỹ khác và một mẫu Nhật cùng chiều | Thấp | Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu |
| Sau mãn kinh có đi kèm ngưng thở mức trung bình–nặng nhiều hơn? | Mẫu Wisconsin (chỉ đọc tóm tắt) cho OR 3,5 với AHI ≥ 15, khoảng tin cậy rất rộng (1,4–8,8). Theo dõi dọc không thấy nguy cơ đạt AHI ≥ 15 tăng có ý nghĩa theo năm sau mãn kinh | Rất thấp | Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu |
| Rối loạn thở khi ngủ trong thai kỳ có đi kèm tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ? | Ở 3.306 phụ nữ Mỹ mang thai lần đầu đo tại nhà, sau hiệu chỉnh cả chỉ số khối cơ thể, rối loạn thở khi ngủ đi kèm tiền sản giật (OR hiệu chỉnh 1,94 đầu và 1,95 giữa thai kỳ) và đái tháo đường thai kỳ (3,47 và 2,79). Hai phân tích gộp cùng chiều. Nhiễu dư do béo phì và nhân quả ngược vẫn khả dĩ | Thấp | Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu |
| Ở thai phụ nguy cơ cao có ngưng thở khi ngủ, thở áp lực dương liên tục có giảm tiền sản giật? | Một thử nghiệm ngẫu nhiên nhãn mở ở Bangkok (340 thai phụ): tiền sản giật, một kết cục phụ, là 13,1% ở nhóm thở áp lực dương liên tục (CPAP) so với 22,3% ở nhóm chăm sóc thường. Cận trên của khoảng tin cậy chênh nguy cơ sát không, và tuân thủ CPAP thấp (trung bình 2,5 giờ mỗi đêm) | Thấp | Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu |
| Làm ca đêm có đi kèm chu kỳ kinh không đều hay khó có thai? | Phân tích gộp 16 thuần tập (chỉ đọc tóm tắt) cho OR hiệu chỉnh 1,15 với rối loạn chu kỳ kinh khi làm ca; hai nghiên cứu điều dưỡng ở Mỹ và Nhật cùng chiều, nhưng phơi nhiễm và chu kỳ đều tự báo cáo. Liên quan với vô sinh hết ý nghĩa sau hiệu chỉnh, khoảng tin cậy còn rộng | Rất thấp | Làm ca đêm, chu kỳ kinh và khả năng sinh sản |
| Làm ca đêm có đi kèm sẩy thai? | Ở Đan Mạch, đo ca đêm bằng dữ liệu bảng lương, từ 2 ca đêm trong tuần trước đi kèm tỉ số nguy cơ tức thời (hazard ratio, HR) sẩy thai 1,32. Phân tích gộp 16 thuần tập (chỉ đọc tóm tắt) cho OR hiệu chỉnh 1,41 với sẩy thai sớm khi làm ca đêm | Thấp | Làm ca đêm, chu kỳ kinh và khả năng sinh sản |
| Bao nhiêu phụ nữ mang thai mất ngủ hay ngủ kém? | Phân tích gộp 44 nghiên cứu cho 43,9% thai phụ có mất ngủ; một phân tích gộp khác cho 38,2% có triệu chứng mất ngủ, cao nhất ở tam cá nguyệt ba. Ở Việt Nam, bốn mẫu bệnh viện cho từ 21,6% đến 61,8%; chênh lệch có thể do tam cá nguyệt, thang đo và quần thể SL | Rất thấp | Giấc ngủ khi mang thai |
| Ngủ ngắn khi mang thai có đi kèm đái tháo đường thai kỳ? | Phân tích gộp 41 nghiên cứu: ngủ ngắn đi kèm đái tháo đường thai kỳ (OR 1,81), ngủ dài cũng vậy (OR 1,24). Thời lượng ngủ chủ yếu tự báo cáo, và béo phì là yếu tố nhiễu chính | Rất thấp | Giấc ngủ khi mang thai |
| Liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ (CBT-I) trong thai kỳ có giảm mất ngủ tự báo cáo? | Trong thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) 194 thai phụ, CBT-I giảm điểm chỉ số mức độ mất ngủ (ISI) nhiều hơn nhóm chứng tích cực. Một RCT CBT-I số và phân tích gộp 7 RCT chu sinh cùng chiều | Vừa | Giấc ngủ khi mang thai |
| CBT-I trong thai kỳ có thay đổi giấc ngủ đo bằng actigraphy? | Trong RCT 194 thai phụ, actigraphy chỉ ghi nhận thời gian thức giảm khoảng 3 phút, dù thời gian thức tự báo cáo giảm nhiều hơn nhóm chứng. Chỉ một thử nghiệm có số đo này | Thấp | Giấc ngủ khi mang thai |
| Đi ngủ nằm ngửa cuối thai kỳ có đi kèm thai chết lưu? | Phân tích gộp dữ liệu từng cá nhân của 5 nghiên cứu bệnh–chứng: đi ngủ nằm ngửa từ tuần 28 đi kèm OR hiệu chỉnh (aOR) 2,63 so với nghiêng trái; nghiêng phải không khác nghiêng trái có ý nghĩa thống kê (aOR 1,04). Nếu liên quan là nhân quả, khoảng 5,8% số thai chết lưu muộn có thể quy cho tư thế này; con số "1/10" hay được nhắc lấy từ hai nghiên cứu đơn lẻ. Nguy cơ tuyệt đối duy nhất tìm được là 1,96/1.000 khi đi ngủ nghiêng trái so với 3,93/1.000 với tư thế khác (Auckland). Viện Quốc gia về Sức khoẻ và Chất lượng Chăm sóc của Anh (NICE) xếp bằng chứng này là "chất lượng cao" cho câu hỏi tiên lượng, khác câu hỏi nhân quả ở đây | Rất thấp | Tư thế đi ngủ cuối thai kỳ và thai chết lưu |
| Cho con bú mẹ có đi kèm mẹ ngủ ít hơn? | Đo bằng actigraphy hay vòng đeo tay, chưa nghiên cứu nào thấy bà mẹ cho bú mẹ hoàn toàn ngủ ít hơn có ý nghĩa thống kê; ở Mỹ, nhóm chỉ cho bú mẹ ban đêm ngủ nhiều hơn (386 so với 356 phút). Ở 197 bà mẹ 1 tháng sau sinh tại TP.HCM, tổng thời gian ngủ đo bằng vòng đeo tay là 5,4 giờ ở nhóm bú mẹ hoàn toàn so với 5,6 giờ ở nhóm bú mẹ không hoàn toàn, khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Một khảo sát tự báo cáo ở Đức lại thấy giảm 14 phút | Rất thấp | Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm |
| Ngủ kém có đi kèm trầm cảm sau sinh? | Ngủ kém tự báo cáo đi kèm trầm cảm sau sinh trong các nghiên cứu tìm được, gồm một thuần tập ở Thẩm Dương (aOR 2,40; mô hình không hiệu chỉnh trầm cảm trước sinh) và hai mẫu bệnh viện ở Hà Nội. Giấc ngủ đo bằng actigraphy cho kết quả không nhất quán. Chiều tác động chưa xác định, và chỉ số giấc ngủ nào đi kèm khác nhau giữa các nghiên cứu | Rất thấp | Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm |
| CBT-I chu sinh có giảm triệu chứng trầm cảm? | Phân tích gộp 7 RCT (chỉ đọc tóm tắt): CBT-I giảm điểm thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (EPDS) ở mức nhỏ. Ở một RCT ở Melbourne, khác biệt về trầm cảm không có ý nghĩa thống kê, và lợi ích của CBT-I số ở 3 tháng sau sinh không còn ý nghĩa thống kê ở 6 tháng | Thấp | Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm |
| Mất ngủ trong thai kỳ và sau sinh có đi kèm ý nghĩ tự sát? | Phân tích gộp 10 nghiên cứu quan sát (807.760 phụ nữ, chỉ đọc tóm tắt): mất ngủ và chất lượng giấc ngủ kém đi kèm ý nghĩ hoặc nguy cơ tự sát (OR 3,47). Với triệu chứng mất ngủ, liên quan còn lại sau khi tính đến trầm cảm. Đây là liên quan cấp quần thể, không phải dự báo cho từng người. Người đang có ý nghĩ tự hại cần được hỗ trợ ngay từ nhân viên y tế hoặc người thân | Rất thấp | Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm |
| Quanh và sau mãn kinh có ngủ kém tự báo cáo hơn? | Theo tự báo cáo trong thuần tập SWAN (Study of Women's Health Across the Nation) ở Mỹ, cuối quanh mãn kinh đi kèm OR thức giấc nhiều lần 1,96 so với trước mãn kinh; khảo sát Hàn Quốc cùng chiều. Chỉ khoảng 15% phụ nữ có than phiền tăng gắn với kỳ kinh cuối | Thấp | Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh |
| Đo bằng PSG, giấc ngủ có thay đổi theo giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh? | Hai nghiên cứu dọc nhỏ (159 và 60 người) không thấy thay đổi có ý nghĩa thống kê theo giai đoạn; ở Phần Lan (chỉ đọc tóm tắt), suy giảm được giải thích bởi tuổi | Rất thấp | Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh |
| Cơn bốc hoả có làm thức giấc? | Ở 34 phụ nữ đo PSG, 69,4% cơn bốc hoả đi kèm một lần thức giấc, khoảng 16,6 phút thức mỗi đêm. Một nghiên cứu khác không thấy khác biệt, và thức giấc xảy ra trước cơn bốc hoả nhiều không kém sau | Rất thấp | Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh |
| Liệu pháp hormone mãn kinh có làm chất lượng giấc ngủ tự báo cáo tốt hơn giả dược? | Phân tích gộp 15 RCT: tốt hơn ở mức nhỏ. Theo một phân tích phân nhóm, hiệu ứng rõ hơn ở phụ nữ có triệu chứng vận mạch (cơn bốc hoả, đổ mồ hôi đêm) và gần như không có ở người không có. Trong thử nghiệm KEEPS, chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) giảm 1,27 điểm với estrogen uống và 1,32 điểm với estradiol qua da so với 0,60 điểm với giả dược; cả hai nhánh khác giả dược có ý nghĩa | Vừa | Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì |
| Liệu pháp hormone mãn kinh có thay đổi giấc ngủ đo bằng PSG so với giả dược? | Phân nhóm 5 thử nghiệm nhỏ đo bằng PSG: không chỉ số nào khác giả dược có ý nghĩa thống kê, và khoảng tin cậy rộng | Thấp | Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì |
| Thuốc đối kháng thụ thể neurokinin có làm giấc ngủ tự báo cáo tốt hơn giả dược? | Elinzanetant (Bayer tài trợ) giảm điểm rối loạn giấc ngủ tự báo cáo trong hai thử nghiệm pha 3. Với fezolinetant (Astellas tài trợ), hiệu số nhỏ, từ phân tích hậu nghiệm | Thấp | Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì |
| Thuốc đối kháng thụ thể neurokinin có thay đổi giấc ngủ đo bằng PSG? | Một thử nghiệm 110 người (Bayer tài trợ): WASO giảm khoảng 22 phút ở tuần 4 nhưng gần như không khác ở tuần 12 | Rất thấp | Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì |
| CBT-I có giảm mất ngủ ở phụ nữ quanh và sau mãn kinh? | Hai RCT ở Mỹ: CBT-I giảm ISI 5,2 điểm so với nhóm giáo dục về mãn kinh, và tỉ lệ thuyên giảm sau 6 tháng là 67,8% so với 13,3% ở nhóm giáo dục vệ sinh giấc ngủ. Phân tích gộp 11 RCT cùng chiều nhưng dị biệt rất cao. Bản chính thức NICE NG23 (11/2024) đưa CBT dành riêng cho mãn kinh vào như một lựa chọn quản lý (đọc qua The Pharmaceutical Journal); câu CBT giúp vấn đề giấc ngủ chỉ có trong tin của NICE về bản dự thảo 11/2023 | Thấp | Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì |
| Ở Việt Nam, phụ nữ có ngủ kém hơn nam giới? | Các mẫu Việt Nam đều ở một cơ sở và cho kết quả không thống nhất. Mất ngủ ở nữ nhiều hơn nam ở cán bộ, giảng viên một trường đại học (47,6% so với 31,7%), còn ngủ kém theo PSQI gần như bằng nhau ở sinh viên điều dưỡng TP.HCM (48,0% so với 45,6%). Chưa có khảo sát quốc gia đại diện | Rất thấp | Giấc ngủ phụ nữ Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì |
| Văn bản của Bộ Y tế nói gì về giấc ngủ phụ nữ? | Hướng dẫn mãn kinh 3977/QĐ-BYT (30/12/2024) coi rối loạn giấc ngủ chủ yếu là hậu quả của cơn bốc hoả, đưa ảnh hưởng tới giấc ngủ vào tiêu chí chỉ định liệu pháp nội tiết, và không có mục CBT-I riêng. Lời nói đầu ghi Besins Healthcare, hãng có sản phẩm nội tiết mãn kinh, đã hỗ trợ biên soạn. Hướng dẫn đái tháo đường thai kỳ (1470/QĐ-BYT) và phần sản khoa của tài liệu 315/QĐ-BYT không có từ "ngủ" | Mô tả | Giấc ngủ phụ nữ Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì |
Tập này không trả lời được gì#
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ bằng PSG hay actigraphy ở phụ nữ mang thai hay mãn kinh. Số đo bằng thiết bị duy nhất là một nghiên cứu vòng đeo tay ở bà mẹ sau sinh tại TP.HCM.
- Chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam về ngưng thở khi ngủ, ngáy hay chân không yên ở phụ nữ mang thai, hay về giấc ngủ với tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ.
- Chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên nào ở Việt Nam về can thiệp giấc ngủ dành riêng cho phụ nữ mang thai, sau sinh hay mãn kinh. Chưa có khảo sát quốc gia đại diện báo cáo mất ngủ theo giới ở người trưởng thành.
- Chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên hay thuần tập tiến cứu đủ lớn đo tư thế ngủ trong tam cá nguyệt ba với kết cục thai chết lưu; nguy cơ tuyệt đối theo tư thế chỉ có ở một nghiên cứu.
- Chúng tôi chưa đọc được nguyên văn khuyến nghị NICE NG201 về tư thế ngủ khi mang thai (thuật lại qua tài liệu bằng chứng) và NICE NG23 bản 11/2024 về mãn kinh. Bản NG23 chính thức được thuật lại qua The Pharmaceutical Journal; câu về giấc ngủ chỉ có trong tin của NICE về bản dự thảo 11/2023.
Những gì Việt Nam đã đo và chưa đo được gom lại ở chương Giấc ngủ phụ nữ Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì.
Tập được biên soạn với sự hỗ trợ của Claude (Anthropic) trong thu thập, kiểm chứng và viết; tập chưa được một bác sĩ sản phụ khoa, chuyên gia giấc ngủ hay chuyên gia sức khoẻ tâm thần chu sinh độc lập đọc duyệt. Mọi dữ kiện đều có nguồn để người đọc tự đối chiếu. Xem cách chúng tôi biên soạn.
Cách đọc nhãn: SL là suy luận của chúng tôi, không phải số đo; TC là tiêu chuẩn hoặc khuyến nghị chính thức; NGÀNH là tài liệu của ngành chưa qua bình duyệt; ĐO là số đo trong nghiên cứu. Toàn bộ dữ kiện kèm nguồn nằm ở các phụ lục A–D theo nhánh; mâu thuẫn giữa các nguồn và khoảng trống ở phụ lục E. Ngủ chung với trẻ và giấc ngủ của mẹ ở góc nhìn văn hoá nằm ở Tập 12; mất ngủ mạn tính và các can thiệp theo hướng dẫn nằm ở Tập 7.
Tập này tổng hợp tài liệu khoa học để tham khảo. Nó không đánh giá hay khuyên dùng hormone, thuốc, thực phẩm chức năng hay tư thế ngủ nào, không chẩn đoán và không thay cho khám bệnh.