Chương này hỏi: ở Việt Nam và châu Á, bao nhiêu trẻ ngủ chung với cha mẹ, và ngủ chung đi kèm giấc ngủ của trẻ, của mẹ ra sao? Số liệu định lượng duy nhất về Việt Nam mà chúng tôi có là một khảo sát mẫu thuận tiện năm 2008, do một hãng sản phẩm trẻ em tài trợ. Theo khảo sát đó, Việt Nam có tỉ lệ ngủ chung giường cao nhất trong 17 nước và vùng lãnh thổ, còn cha mẹ Việt Nam ít coi con mình ngủ có vấn đề nhất. Ở Trung Quốc, Hồng Kông và Nhật, vị trí ngủ hầu như không đi kèm giấc ngủ kém của trẻ nhỏ; ở Trung Quốc, chính cách dỗ trẻ vào giấc mới đi kèm khác biệt. Ở các nước phương Tây, ngủ chung đi kèm ngủ ít và vụn hơn. Gần như mọi số đo ở đây là cha mẹ tự báo cáo trong nghiên cứu cắt ngang, vì vậy không cho phép kết luận nhân quả.
Chương không bàn chuyện an toàn của ngủ chung giường. Câu hỏi đó thuộc chương về đột tử trẻ sơ sinh và ngủ chung giường; trang trẻ sơ sinh ngủ an toàn trình bày phần thực hành.
Khái niệm và cách đo#
Trong tài liệu quốc tế, "ngủ chung" (co-sleeping) là khái niệm rộng, chỉ việc trẻ ngủ gần cha mẹ. Các nghiên cứu trong chương tách hai dạng. Ngủ chung giường (bed-sharing) là trẻ ngủ trên cùng một bề mặt với cha mẹ. Ngủ chung phòng (room-sharing) là trẻ ngủ trong cùng phòng với cha mẹ; ở một số bảng số liệu, con số chung phòng đã bao gồm cả trẻ ngủ chung giường.
Ranh giới giữa hai dạng không phải lúc nào cũng rõ. Ở Nhật, gần một nửa trẻ 3 tháng tuổi ngủ trên nệm futon trải sàn (Nelson và cs., 1999). Ở Hàn Quốc, một bài tổng quan tường thuật mô tả cha mẹ thường ngủ cùng con trên sàn nhà chứ không trên giường (Chung và An, 2014). Khi cả nhà nằm trên một mặt sàn, câu hỏi "trẻ có ngủ chung giường không" có thể được hiểu khác nhau giữa người trả lời.
Phần lớn số liệu đến từ Bảng hỏi ngắn về giấc ngủ trẻ nhũ nhi (Brief Infant Sleep Questionnaire, BISQ) hoặc bảng hỏi tự thiết kế, do cha mẹ trả lời. Trong các nghiên cứu châu Á của chương, chỉ một nghiên cứu ở Nhật đo giấc ngủ của trẻ bằng actigraphy, tức thiết bị đeo cổ tay ghi vận động để ước tính thức và ngủ. Hầu hết các nghiên cứu còn lại là cắt ngang.
Với thiết kế cắt ngang, khi trẻ ngủ chung đi kèm thức đêm nhiều hơn, có ít nhất hai cách đọc. Cách thứ nhất: ngủ chung đi trước và đi kèm giấc ngủ vụn. Cách thứ hai: trẻ hay thức khiến cha mẹ đưa con về giường mình, tức nhân quả ngược. Thiết kế cắt ngang không tách được hai cách đọc này, và chúng tôi giữ giới hạn đó trong suốt chương.
Tỉ lệ ngủ chung và giấc ngủ trẻ nhỏ ở Việt Nam và châu Á#
Khảo sát 17 nước và vùng lãnh thổ của Mindell#
Mindell và cộng sự khảo sát 29.287 trẻ 0–36 tháng ở 17 nước và vùng lãnh thổ bằng BISQ mở rộng (Mindell và cs., 2010). Mẫu Việt Nam gồm 1.000 trẻ, dữ liệu thu vào tháng 4/2008. Theo Bảng 5 của bài, 83,2% trẻ Việt Nam ngủ chung giường với cha mẹ. Tỉ lệ ngủ chung phòng, đã gồm cả chung giường, là 94,3%, và chỉ 2,1% trẻ ngủ phòng riêng (Mindell và cs., 2010).
Việt Nam có tỉ lệ ngủ chung giường cao nhất trong khảo sát. Ở đầu thấp, chính bài báo tự mâu thuẫn: Bảng 5 ghi Anh thấp nhất (5,0%), còn phần văn bản ghi New Zealand (5,8%) là thấp nhất.
Ba đặc điểm của khảo sát quyết định cách đọc con số Việt Nam. Thứ nhất, đây là mẫu thuận tiện, không đại diện quốc gia: ở các nước trả lời trực tuyến, người trả lời được tuyển qua danh sách email của một công ty tiếp thị và cửa sổ bật lên trên trang BabyCenter. Thứ hai, Việt Nam và Thái Lan điền bản giấy khi gặp trực tiếp nghiên cứu viên, còn các nước khác trả lời qua internet. Cách thu khác nhau như vậy có thể làm lệch so sánh giữa các nước.
Thứ ba, khảo sát do Johnson & Johnson Consumer & Personal Products Worldwide, một hãng sản phẩm trẻ em, tài trợ. Hai đồng tác giả Wiegand và How là nhân viên của hãng. Mindell từng là tư vấn và diễn giả, Sadeh là tư vấn, Goh là diễn giả cho hãng. Bài báo không đề cập sản phẩm nào.
| Nước hoặc vùng | Ngủ chung giường | Ngủ chung phòng (gồm cả chung giường) |
|---|---|---|
| Việt Nam | 83,2% | 94,3% |
| Thái Lan | 77,23% | — |
| Nhật | 69,72% | — |
| Trung Quốc | 67,59% | — |
| Hàn Quốc | 61,39% | — |
| Đài Loan | 60,16% | — |
| Singapore | 35,86% | 73,73% |
| Hồng Kông | 27,55% | 67,05% |
| New Zealand | 5,8% | — |
| Anh | 5,0% | — |
| Nhóm 12 nước/vùng chủ yếu châu Á | 64,65% | 86,47% |
| Nhóm 5 nước chủ yếu da trắng | 11,8% | 21,95% |
Bảng: tỉ lệ ngủ chung theo cha mẹ báo cáo, trẻ 0–36 tháng, mẫu thuận tiện, tài trợ Johnson & Johnson. Ô "—" là số chúng tôi chưa trích từ bài. Nguồn: Mindell và cs., 2010.
Gộp theo nhóm, tỉ lệ trẻ ngủ phòng riêng là 7,03% ở nhóm chủ yếu châu Á và 62,54% ở nhóm chủ yếu da trắng (Mindell và cs., 2010). Hồng Kông và Singapore là hai ngoại lệ trong nhóm châu Á. Tác giả ghi nhận cha mẹ ở hai nơi này thường đặt trẻ trên một bề mặt ngủ riêng trong cùng phòng. Chi tiết này có ý nghĩa ở chương về đột tử trẻ sơ sinh, nơi Hồng Kông thường được nêu làm ví dụ.
Các nguồn khác ở Trung Quốc, Nhật, Hồng Kông và Hàn Quốc#
Ở Trung Quốc, Feng và cộng sự khảo sát năm 2019 theo cách chọn mẫu ba giai đoạn tại 6 cộng đồng và 6 thị trấn thuộc 6 tỉnh (Feng và cs., 2022). Trong 1.195 trẻ 0–35 tháng, tỉ lệ ngủ chung giường với cha mẹ từ 69,9% (0–5 tháng) tới 78,3% (6–11 tháng), không khác biệt theo nhóm tuổi. Dưới 6 tháng, lý do chính người chăm sóc nêu ra là cho bú (44,9%). Sau 6 tháng, lý do chính là tiện lợi, từ 55,4% ở nhóm 6–11 tháng tới 70,2% ở nhóm 24–35 tháng. Nghiên cứu do Trung tâm Sức khoẻ Phụ nữ và Trẻ em Quốc gia thuộc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Trung Quốc (China CDC) tài trợ.
Nghiên cứu Chăm sóc Trẻ Quốc tế (International Child Care Practices Study) dùng một quy trình chuẩn ở 21 trung tâm thuộc 17 nước (Nelson và cs., 2001). Nhóm nghiên cứu phỏng vấn 5.488 gia đình lúc sinh và nhận lại bảng hỏi lúc 3 tháng từ 4.656 gia đình (85%). Tỉ lệ ngủ chung giường lúc 3 tháng dao động 2–88% giữa các trung tâm, còn ngủ chung phòng dao động 58–100%. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt của bài này.
Phần châu Á của nghiên cứu trên, thu năm 1995–1997, cho số liệu riêng về Nhật và Hồng Kông trong một báo cáo đề tài gửi Bộ Y tế và Phúc lợi Nhật, không phải bài báo bình duyệt (Nelson và cs., 1999). Lúc 3 tháng, 37% trẻ Nhật và 37% trẻ Hồng Kông ngủ chung giường. Có 46% trẻ Nhật ngủ trên nệm futon. Tỉ lệ trẻ có ít nhất một người lớn ngủ cùng phòng là 93% ở Nhật và 83% ở Hồng Kông. Mẫu Nhật gồm 289 trẻ tuyển từ 4 bệnh viện; mẫu Hồng Kông gồm 251 trẻ, trong đó 198 trả lời lúc 3 tháng.
Ở Hồng Kông, nhóm chứng của một nghiên cứu bệnh–chứng giai đoạn 1999–2003 cho thêm một ước tính (Nelson và cs., 2006). Trong 223 trẻ chứng chọn từ sổ sinh bệnh viện công và tư, 18,9% (42/223) ngủ chung giường với ít nhất một cha hoặc mẹ. Thêm 5,4% (12/223) ngủ chung giường với người khác, và 75,7% không ngủ chung giường.
Ở Hàn Quốc, bài tổng quan của Chung và An ghi rằng các bà mẹ thường cho rằng ngủ chung kéo dài tới 3–6 năm sau sinh là phù hợp (Chung và An, 2014). Đây là tổng quan tường thuật, nhiều khẳng định dựa trên ít nguồn, và bài không cho tỉ lệ đo được.
Các con số không khớp nhau#
Tỉ lệ ngủ chung giường ở Nhật có ba ước tính rất khác nhau. Khảo sát của Mindell cho 69,72% ở trẻ 0–36 tháng năm 2008. Nghiên cứu Chăm sóc Trẻ Quốc tế cho 37% ở trẻ 3 tháng giai đoạn 1995–1997. Nghiên cứu ở Kurume ghi 23 trong 47 trẻ 5 tuổi ngủ chung chỗ với cha mẹ (Iwata và cs., 2013).
Các nguồn khác nhau về tuổi trẻ, thời điểm thu số liệu, cách chọn mẫu (internet và mẫu thuận tiện so với tuyển từ bệnh viện) và định nghĩa. Khi trẻ ngủ trên nệm futon trải sàn cạnh nệm của cha mẹ, ranh giới giữa "chung giường" và "chỗ riêng" không rõ SL. Chúng tôi không coi bất kỳ con số nào trong ba con số trên là "tỉ lệ của Nhật"; mỗi con số chỉ đúng với mẫu và định nghĩa của nó.
Hồng Kông cũng có ba con số: 27,55% (Mindell, 0–36 tháng), 18,9% với cha mẹ cộng 5,4% với người khác (nhóm chứng 1999–2003), và 37% (trẻ 3 tháng, 1995–1997). Khác biệt có thể đến từ tuổi trẻ, thời kỳ và việc có tính ngủ chung với người không phải cha mẹ hay không. Dù vậy, cả ba con số đều thấp hơn rõ rệt mức của Việt Nam (83,2%), Thái Lan (77,23%) hay Trung Quốc (67,59%) trong khảo sát của Mindell.
Việt Nam: tiếng nói của người chăm trẻ ở Huế#
Nghiên cứu Việt Nam thứ hai chạm tới chuyện ngủ chung là một nghiên cứu định tính ở Thừa Thiên Huế (Murray và cs., 2017). Nhóm tác giả phỏng vấn bán cấu trúc 24 người: 21 bà mẹ có con 0–6 tháng và 3 bà nội hoặc bà ngoại, ở một điểm thành thị và một điểm nông thôn. Người chăm sóc giải thích tiếng khóc của trẻ bằng đói, cô đơn và các niềm tin truyền thống.
Tác giả đề xuất giáo dục về tín hiệu của trẻ, nhu cầu ngủ và ngủ chung giường, có tính tới việc nhiều thế hệ cùng chăm trẻ. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt. Nghiên cứu định tính không cho tỉ lệ, và chi tiết về cách dỗ ngủ cùng các niềm tin cụ thể cần đối chiếu toàn văn.
Giấc ngủ trẻ nhỏ Việt Nam qua cùng khảo sát#
Khảo sát của Mindell cũng là nguồn duy nhất chúng tôi có về thời lượng và giờ giấc ngủ của trẻ nhỏ Việt Nam (Mindell và cs., 2010). Mọi chỉ số dưới đây là cha mẹ báo cáo, không đo khách quan. Giờ được ghi dưới dạng giờ thập phân như trong bài; 21,73 giờ tương ứng khoảng 21:44.
| Chỉ số (cha mẹ báo cáo) | Việt Nam | Nhóm chủ yếu châu Á | Nhóm chủ yếu da trắng |
|---|---|---|---|
| Giờ đi ngủ (giờ thập phân) | 21,73 | 21,44 | 20,42 |
| Ngủ đêm | 9,32 giờ | — | — |
| Ngủ ngày | 3,67 giờ (trung bình 2,02 giấc) | — | — |
| Tổng thời gian ngủ 24 giờ | 12,99 giờ | 12,31 giờ | 13,02 giờ |
| Số lần thức đêm | 1,54 | 1,69 | 1,13 |
| Giờ dậy (giờ thập phân) | 7,18 | — | — |
Bảng: trẻ 0–36 tháng; Việt Nam n = 1.000. Ô "—" là số chúng tôi chưa trích. Nguồn: Mindell và cs., 2010.
Trẻ ở nhóm nước châu Á đi ngủ muộn hơn và ngủ tổng cộng ít hơn trẻ ở nhóm nước phương Tây. Giờ đi ngủ trải từ 19:27 ở New Zealand tới 22:17 ở Hồng Kông. Tổng thời gian ngủ trải từ 11,6 giờ ở Nhật tới 13,3 giờ ở New Zealand. Trẻ Việt Nam có tổng thời lượng 12,99 giờ, gần nhóm phương Tây hơn nhóm châu Á, chủ yếu nhờ ngủ ngày dài (3,67 giờ) SL.
Điểm đáng chú ý nhất nằm ở cảm nhận của cha mẹ. Chỉ 10,1% cha mẹ Việt Nam coi con mình có vấn đề giấc ngủ, thấp nhất trong 17 nước và vùng lãnh thổ, so với 75,9% ở Trung Quốc. Có 73,7% cha mẹ Việt Nam nói con "ngủ tốt". Phần tóm tắt của bài lại ghi mức thấp nhất là Thái Lan với 11%, trong khi Bảng 5 ghi Việt Nam 10,10% và Thái Lan 10,83%.
Câu hỏi "con có vấn đề giấc ngủ không" đo cảm nhận, không đo giấc ngủ. Cảm nhận này có thể phản ánh chuẩn mực văn hoá về giấc ngủ của trẻ SL. Ở nơi trẻ thường ngủ cạnh mẹ, một lần thức đêm được dỗ lại ngay có thể không được người mẹ ghi nhận là vấn đề SL. Vì vậy con số 10,1% không cho biết trẻ Việt Nam ngủ tốt hơn trẻ Trung Quốc.
Ngủ chung và giấc ngủ của trẻ nhỏ#
Dữ liệu 17 nước: vai trò của cách dỗ vào giấc#
Một bài thứ hai từ cùng bộ dữ liệu 17 nước phân tích hành vi của cha mẹ quanh giờ ngủ (Mindell và cs., 2010b). Bài này cũng do Johnson & Johnson Consumer & Personal Products Worldwide tài trợ, và nhiều tác giả là tư vấn, diễn giả hoặc nhân viên của hãng. Bài không báo cáo số liệu riêng cho Việt Nam về hành vi lúc ngủ.
Ở nhóm nước phương Tây, trẻ ngủ chung giường thức đêm trung bình 1,82 lần, trẻ ngủ chung phòng 1,52 lần và trẻ ngủ phòng riêng 0,90 lần. Thời lượng ngủ đêm tương ứng là 9,33 giờ, 9,30 giờ và 10,33 giờ. Ở nhóm châu Á, chênh lệch số lần thức đêm giữa các vị trí ngủ nhỏ hơn nhiều.
Trong mô hình hồi quy từng bước, sự có mặt của cha mẹ lúc trẻ vào giấc cùng với tuổi trẻ giải thích 11,8% phương sai số lần thức đêm. Bản thân việc ngủ chung chỉ giải thích thêm dưới 1%. Kết quả gợi ý việc cha mẹ có mặt lúc trẻ vào giấc gắn với số lần thức đêm chặt hơn bản thân việc ngủ chung; với dữ liệu cắt ngang, đây không phải phân tích trung gian nhân quả SL.
Cách vào giấc khác nhau rất xa giữa hai nhóm. Chỉ 3,58% trẻ ở nhóm châu Á tự ngủ một mình trong cũi hoặc giường riêng lúc bắt đầu ngủ, so với 56,98% ở nhóm phương Tây. Trong nhóm phương Tây, cha mẹ có mặt lúc trẻ vào giấc ở 97,4% trẻ ngủ chung giường và 83,9% trẻ ngủ chung phòng. Với trẻ ngủ phòng riêng, phần văn bản ghi 41,9%, còn Hình 1 ghi 40,9%.
Trung Quốc, Hồng Kông và Nhật#
Nghiên cứu 6 tỉnh Trung Quốc cho kết quả cùng hướng (Feng và cs., 2022). Sau khi hiệu chỉnh tuổi, giới của trẻ, khu vực, tuổi và học vấn người chăm sóc, thu nhập, ngủ chung giường không đi kèm thức đêm nhiều hay khó vào giấc. Tỉ lệ thức đêm thường xuyên trong mẫu là 22,5%.
Cách dỗ trẻ vào giấc mới đi kèm khác biệt. Trẻ ngủ thiếp đi khi đang bú mẹ hoặc bú bình có tỉ số chênh (odds ratio, OR) thức đêm từ 3 lần trở lên là 3,50, khoảng tin cậy (KTC) 95% 1,87–6,54. Trẻ được bế ru để vào giấc có OR khó vào giấc 2,72 (KTC 95% 1,21–6,12). Trẻ nằm cạnh cha mẹ để vào giấc có OR khó vào giấc 2,89 (KTC 95% 1,33–6,28). Đây vẫn là liên quan cắt ngang: trẻ khó ngủ có thể là lý do khiến người chăm sóc bế ru hay cho bú để dỗ.
Ở Hồng Kông, Yu và cộng sự khảo sát 1.049 trẻ dưới 36 tháng bằng BISQ mở rộng qua internet (Yu và cs., 2017). Trẻ ngủ chung phòng hoặc chung giường đi ngủ muộn hơn, nhưng có thời lượng ngủ tương tự trẻ ngủ chỗ riêng. Tự vào giấc độc lập đi kèm ngủ đêm dài hơn và ít thức đêm hơn, còn vị trí ngủ thì không. Tác giả gợi ý rằng với gia đình buộc phải ngủ chung vì nhà chật, cách vào giấc là yếu tố quan trọng nhất. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.
Ở Kurume (Nhật), Iwata và cộng sự đo actigraphy cổ tay 7 đêm kèm nhật ký ở 47 trẻ 5 tuổi từ 2 nhà trẻ (Iwata và cs., 2013). Không trẻ nào ngủ một mình: 41 trẻ ngủ chung phòng với cha mẹ, trong đó 23 trẻ ngủ chung chỗ. Vào ngày thường, trẻ ngủ 9,5 giờ với hiệu quả giấc ngủ 90,3%, còn cha mẹ ngủ 7,0 giờ. Bản thân việc ngủ chung không đi kèm giấc ngủ kém hơn ở trẻ hay ở cha mẹ.
Điều đi kèm khác biệt ở Kurume là giờ đi ngủ. Giờ đi ngủ ngày thường trung bình là 21,5 giờ (giờ thập phân) ở trẻ và 23,1 giờ ở cha mẹ. Khi giờ đi ngủ của cha mẹ và con sát nhau hơn, trẻ đi ngủ muộn hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn vào ngày thường; cha mẹ thì ngủ ngắn và vụn hơn.
Nghiên cứu Kurume có giới hạn rõ. Mẫu nhỏ, phân tích không hiệu chỉnh so sánh bội, chỉ trẻ được đo actigraphy, còn giấc ngủ cha mẹ là tự báo cáo. Nghiên cứu do Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật (Japan Science and Technology Agency) và Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật (MEXT) tài trợ.
Một nghiên cứu Mỹ: ngủ chung phòng và thời lượng ngủ#
Một thử nghiệm ở Mỹ (tên viết tắt INSIGHT) là thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) về phòng béo phì ở con đầu lòng. Paul và cộng sự phân tích thứ cấp dữ liệu của thử nghiệm này như một thuần tập (Paul và cs., 2017). Vì việc ngủ chung phòng không được phân ngẫu nhiên, đây là bằng chứng quan sát.
Theo phần tóm tắt, trẻ ngủ phòng riêng trước 4 tháng có giấc ngủ dài nhất dài hơn 46 phút lúc 4 tháng so với trẻ ngủ chung phòng (p = 0,02). Lúc 9 tháng, trẻ ngủ phòng riêng sớm ngủ đêm nhiều hơn 40 phút (p = 0,008) và có giấc dài nhất dài hơn 100 phút (p = 0,01). Lúc 30 tháng, chênh lệch về thời lượng ngủ là 45 phút (p = 0,004); phần chúng tôi đọc không ghi rõ là ngủ đêm hay giấc dài nhất. Trẻ ngủ chung phòng có tỉ số chênh chuyển sang ngủ chung giường trong đêm khoảng 4.
Số liệu do mẹ báo cáo qua BISQ lúc 4, 9, 12 và 30 tháng. Mẹ ngủ cùng phòng với con có thể nhận biết thức đêm nhiều hơn, một dạng sai lệch báo cáo. Chúng tôi chưa đọc được cỡ mẫu. Nghiên cứu không được thiết kế để đánh giá đột tử trẻ sơ sinh.
Tóm tắt và mâu thuẫn#
| Nghiên cứu | Nơi, cỡ mẫu | Đo bằng | Vị trí ngủ và giấc ngủ của trẻ |
|---|---|---|---|
| Mindell và cs., 2010 (hành vi cha mẹ) | 17 nước/vùng, 29.287 trẻ | BISQ, cha mẹ báo cáo | Ở nhóm phương Tây đi kèm thức đêm nhiều hơn; ngủ chung giải thích dưới 1% phương sai |
| Feng và cs., 2022 | 6 tỉnh Trung Quốc, 1.195 trẻ | BISQ, người chăm sóc báo cáo | Không đi kèm thức đêm hay khó vào giấc; cách dỗ thì có |
| Yu và cs., 2017 | Hồng Kông, 1.049 trẻ | BISQ qua internet | Đi ngủ muộn hơn, thời lượng tương tự |
| Iwata và cs., 2013 | Kurume, 47 trẻ 5 tuổi | Actigraphy 7 đêm ở trẻ | Không đi kèm giấc ngủ kém hơn |
| Paul và cs., 2017 | Mỹ, con đầu lòng (INSIGHT) | Mẹ báo cáo | Phòng riêng sớm đi kèm ngủ dài hơn |
Các nguồn trên mâu thuẫn một phần. Ở phương Tây (Mindell, Paul), ngủ chung hoặc chung phòng đi kèm ngủ ít và vụn hơn. Ở Trung Quốc, Hồng Kông và Nhật (Feng, Yu, Iwata), vị trí ngủ không đi kèm thức đêm nhiều hơn hay ngủ ngắn hơn, dù ở Hồng Kông trẻ ngủ chung đi ngủ muộn hơn; chỉ nghiên cứu Trung Quốc đã tính cách dỗ ngủ.
Có ít nhất ba cách giải thích khả dĩ. Thứ nhất, ở châu Á ngủ chung là chuẩn mực văn hoá chứ không phải phản ứng của cha mẹ với một đứa trẻ ngủ kém; ở phương Tây, nhân quả ngược có thể chiếm phần lớn hơn. Thứ hai, các nghiên cứu khác nhau về tuổi trẻ. Thứ ba, hầu hết đo bằng bảng hỏi cha mẹ, và cha mẹ ngủ gần con dễ nhận biết thức đêm hơn SL. Từ dữ liệu hiện có, chúng tôi chỉ có thể nói vị trí ngủ một mình nó không phải biến giải thích mạnh cho giấc ngủ trẻ nhỏ ở các mẫu châu Á.
Giấc ngủ của mẹ và việc cho bú#
Volkovich và cộng sự theo dõi 153 gia đình ở Israel từ quý 3 thai kỳ tới 3 và 6 tháng sau sinh (Volkovich và cs., 2015). Giấc ngủ của mẹ và trẻ được đo bằng actigraphy kèm nhật ký 5 đêm. Mẹ ngủ chung với con có rối loạn giấc ngủ nhiều hơn mẹ cho con ngủ riêng, cả khi đo khách quan lẫn khi tự báo cáo.
Nghiên cứu này cũng cho thấy chiều ngược lại. Giấc ngủ kém của mẹ khi mang thai và lúc 3 tháng dự báo mức ngủ chung cao hơn lúc 6 tháng. Sau khi hiệu chỉnh cách nuôi ăn, giấc ngủ đo khách quan của trẻ không khác giữa hai nhóm. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt, và chưa rõ "ngủ chung" ở đây là chung phòng hay chung giường.
Quan hệ giữa ngủ chung và bú mẹ được Viện Hàn lâm Y học Nuôi con bằng Sữa mẹ (Academy of Breastfeeding Medicine, ABM) tổng hợp trong phác đồ số 6 bản sửa đổi 2019 (Blair và cs., 2020). Phác đồ dẫn rằng so với mẹ chỉ ngủ chung phòng, mẹ ngủ chung giường có khả năng cho con bú mẹ hoàn toàn cao hơn. Tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio, aOR) là 2,46 (KTC 95% 1,76–3,45) cho bú mẹ hoàn toàn và 1,75 (KTC 95% 1,33–2,31) cho bú một phần.
Theo cùng phác đồ, trẻ ngủ chung giường có số cữ bú gấp đôi đến gấp ba trẻ ngủ một mình. Bản phác đồ năm 2008 trước đó ghi trẻ ngủ chung giường với mẹ bú đêm lâu hơn khoảng 3 lần, số cữ bú gấp đôi và mỗi cữ dài hơn 39% (Academy of Breastfeeding Medicine, 2008). Bản 2008 đã được thay bằng bản 2019.
Các con số này đến từ nghiên cứu quan sát, mức bằng chứng 2–3 theo cách phân mức của phác đồ. Có thể có tự chọn: bà mẹ quyết tâm cho con bú thường chọn ngủ chung, chứ không nhất thiết ngủ chung làm tăng bú mẹ. Ở Trung Quốc, cho bú cũng là lý do chính để ngủ chung giường với trẻ dưới 6 tháng (44,9%) (Feng và cs., 2022). Quan hệ giữa bú mẹ, ngủ chung giường và đột tử trẻ sơ sinh được bàn ở chương về đột tử trẻ sơ sinh và ngủ chung giường. Ở đó có lập trường trái chiều của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) 2022, vốn tuyên bố không thể khuyến nghị ngủ chung giường trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Ngủ chung ở trẻ lớn#
Ngủ chung không dừng ở tuổi nhũ nhi. Một nghiên cứu cắt ngang ở 1.452 học sinh đầu tuổi dậy thì (trung vị 10,83 tuổi) tại 10 trường tiểu học Thượng Hải ghi 16,8% vẫn ngủ chung giường với người lớn (Nghiên cứu Thượng Hải, 2016). Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt và chưa xác định được tên tác giả của bài.
Yếu tố đi kèm mạnh nhất là thái độ tích cực của cha mẹ với ngủ chung (OR 9,87). Tiếp theo là hen suyễn (OR 2,15), nhà chật (OR 1,90) và gia đình mở rộng nhiều thế hệ (OR 1,59). Trẻ ngủ chung giường có tỉ số chênh cao hơn về chống đối giờ đi ngủ (OR 12,20), lo âu khi ngủ (OR 3,76), chất lượng ngủ kém (OR 3,21) và buồn ngủ ban ngày (OR 1,53). Thời lượng ngủ không khác giữa hai nhóm.
Chiều nhân quả ở đây khó xác định. Trẻ lo âu khi ngủ có thể là lý do cha mẹ cho ngủ chung, chứ không nhất thiết ngủ chung đi trước lo âu SL. Kết quả này khác hướng với các nghiên cứu ở trẻ nhỏ Trung Quốc, Hồng Kông và Nhật. Một cách đọc khả dĩ là ở tuổi 10–11, ngủ chung không còn là chuẩn mực mà thường là phản ứng với một khó khăn của trẻ hay của nhà ở SL.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được khảo sát Việt Nam đại diện quốc gia về nơi ngủ của trẻ, tư thế ngủ hay ngủ chung với ông bà. Số liệu định lượng duy nhất là mẫu thuận tiện 1.000 trẻ trong khảo sát của Mindell, thu năm 2008.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam đo giấc ngủ trẻ nhỏ bằng actigraphy hay đa ký giấc ngủ; vì vậy chưa biết trẻ Việt Nam ngủ chung có thức đêm nhiều hơn khi đo khách quan hay không.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam hay châu Á đo khách quan giấc ngủ trong nhà nhiều thế hệ hoặc phòng ngủ nhiều người.
- Nghiên cứu định tính ở Huế mới được đọc qua tóm tắt; cách dỗ ngủ và các niềm tin cụ thể của người chăm trẻ chưa được đối chiếu với toàn văn.
- Chưa có thông tin tác giả, tập và mã định danh số (DOI) đầy đủ cho nghiên cứu ngủ chung ở trẻ đầu tuổi dậy thì Thượng Hải. Bài so sánh ngủ chung Nhật–Mỹ của Latz năm 1999 chưa mở được.
- Định nghĩa "ngủ chung" trong nghiên cứu giấc ngủ của mẹ ở Israel (chung phòng hay chung giường) chưa được đối chiếu toàn văn.
Viết tắt trong trang
- AAP
- Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
- ABM
- Viện Hàn lâm Y học Nuôi con bằng Sữa mẹ (Academy of Breastfeeding Medicine)
- aOR
- tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Ngủ chung cha mẹ và con: tỉ lệ và giấc ngủ của trẻ. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/ngu-chung-cha-me-va-con/