giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Giờ giấc và thời lượng ngủ ở châu Á

Chương 3 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 19 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi người châu Á đi ngủ lúc mấy giờ, ngủ bao lâu, và các con số ấy được đo bằng gì. Dữ liệu thiết bị đeo cho thấy người dùng ở Singapore, Hồng Kông và Hàn Quốc ngủ ngắn hơn người dùng ở Úc và New Zealand 32–43 phút vào ngày thường, chủ yếu vì đi ngủ muộn hơn. Ngủ bù cuối tuần có ở mọi nước trong dữ liệu thiết bị đeo nhưng ở người dùng Đông Á không lấp được phần thiếu, và liên quan của nó với sức khoẻ chỉ đến từ nghiên cứu cắt ngang. Ở tuổi đi học, Trung Quốc có khảo sát quốc gia và Hàn Quốc có số quốc gia đọc qua nguồn thứ cấp. Ở tuổi đi học, số liệu Nhật trong chương đến từ sinh viên 8 trường đại học, còn số liệu Việt Nam chỉ đến từ từng trường riêng lẻ, đo bằng bảng hỏi. Có một khảo sát đại diện quốc gia ở người từ 60 tuổi, với thời lượng ngủ tự báo cáo 5,36 giờ mỗi đêm. Ngoài khảo sát đó, chúng tôi chưa tìm được khảo sát đại diện quốc gia về giờ ngủ của người Việt trưởng thành, nên mọi đối chiếu với Việt Nam trong chương là đối chiếu gián tiếp.

Công cụ đo giờ ngủ và giới hạn của chúng#

Ba loại nguồn số liệu trong chương đo những đại lượng khác nhau. Bảng hỏi tự báo cáo, như Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI), ghi lại điều người trả lời nhớ và cảm nhận. Thiết bị đeo thương mại suy ra ngủ–thức bằng thuật toán độc quyền của hãng; với Fitbit, thuật toán dựa trên cử động. Ứng dụng điện thoại ENTRAIN chỉ ghi giờ ngủ và giờ dậy do người dùng tự nhập, nên con số gần với thời gian nằm giường hơn là thời gian ngủ thực (Walch và cs., 2016).

Khoảng cách giữa thời gian nằm giường và thời gian ngủ thực có thể lớn. Ở 452 người lao động thu nhập thấp tại Chennai (Ấn Độ), giấc ngủ được đo bằng actigraphy, tức thiết bị đeo cổ tay ghi cử động. Người tham gia nằm giường khoảng 8 giờ nhưng chỉ ngủ thực khoảng 5,6 giờ mỗi đêm, trong những căn nhà nóng, ồn và chật (Bessone và cs., 2021). Đây là dữ liệu Ấn Độ; chúng tôi dẫn để thấy độ lệch giữa hai đại lượng, không coi là số liệu Việt Nam.

Cùng một người đo bằng hai cách cũng có thể cho hai kết quả xa nhau. Ở 208 bà mẹ cho con bú tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), tổng thời gian ngủ ghi bằng Fitbit Charge 6 chỉ tương quan yếu với phỏng vấn tự báo cáo, với r = 0,28 (Vo và cs., 2026). Quần thể này đặc thù vì giấc ngủ một tháng sau sinh bị chia cắt, nên hệ số ấy không suy rộng cho mọi nghiên cứu tự báo cáo.

Vấn đề thứ hai là ai được đo. Người dùng Fitbit, nhẫn Oura hay một ứng dụng chống lệch múi giờ là người tự chọn mua thiết bị và tự chọn chia sẻ dữ liệu. Họ không phải mẫu đại diện dân số của nước mình. Người dùng nhẫn Oura có thu nhập cao, phần lớn là người đi làm 30–55 tuổi (Willoughby và cs., 2023).

Các bộ dữ liệu này cũng gắn với nhà sản xuất ở những mức khác nhau. Fitbit cung cấp dữ liệu cho nghiên cứu của Ong và cộng sự. Nghiên cứu được Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Quốc gia Singapore (National Medical Research Council, NMRC) và Far East Organization tài trợ, và tác giả tuyên bố không có xung đột lợi ích (Ong và cs., 2019). Phân tích dữ liệu Oura có đồng tác giả làm việc cho Oura Health Oy, hãng sản xuất nhẫn.

Fitbit còn một giới hạn kỹ thuật đáng chú ý ở châu Á: thiết bị không ghi được giấc ngủ trưa dưới 1 giờ. Nếu người Đông Á ngủ trưa nhiều hơn, tổng thời gian ngủ trong 24 giờ của họ có thể bị đánh giá thấp SL. Không bộ dữ liệu thiết bị đeo hay ứng dụng nào chúng tôi đọc được có số liệu riêng cho Việt Nam. Ưu nhược của từng cách đo được trình bày kỹ hơn ở chuyên mục đo giấc ngủ.

Đông Á đi ngủ muộn và ngủ ngắn#

Nghiên cứu so sánh trực tiếp lớn nhất mà chúng tôi đọc được toàn văn dùng dữ liệu Fitbit của 23.680 người dùng, tuổi 15–80, với 553.559 đêm từ 1/3 đến 1/4/2017 (Ong và cs., 2019). Chỉ giai đoạn ngủ chính mỗi ngày được tính. Người dùng ở Singapore, Hồng Kông và Hàn Quốc ngủ ngắn hơn người dùng ở Úc và New Zealand 32–43 phút vào ngày thường và 22–42 phút vào cuối tuần. Không có Việt Nam, Nhật hay Trung Quốc trong mẫu.

NơiNgủ ≥ 7 giờ, ngày thườngNgủ ≥ 7 giờ, cuối tuần
Singapore27%51%
Hàn Quốc29%52%
Hồng Kông34%58%
Úc61%74%
New Zealand66%79%

Bảng 1. Tỉ lệ người dùng Fitbit ngủ từ 7 giờ trở lên, theo nơi ở (Ong và cs., 2019). Người dùng tự chọn, không đại diện dân số.

Khác biệt chủ yếu nằm ở giờ đi ngủ. Người dùng Đông Á đi ngủ muộn hơn 59–84 phút vào ngày thường và 54–79 phút vào cuối tuần. Giờ dậy của họ chỉ muộn hơn 18–50 phút vào ngày thường. Phần chênh còn lại là thời gian ngủ mất đi.

Phụ nữ ngủ nhiều hơn nam giới ở mọi nước trong mẫu. Dù vậy, ở Đông Á 61–69% phụ nữ và 72–77% nam giới ngủ dưới 7 giờ vào ngày thường, so với 30–34% ở phụ nữ châu Đại Dương. Thời lượng ngày thường thấp nhất ở nhóm tuổi 46–55.

Dữ liệu nhẫn Oura cho bức tranh cùng chiều trên mẫu lớn hơn: hơn 220.000 người ở 35 nước, khoảng 50 triệu đêm, trung bình 242 đêm mỗi người (Willoughby và cs., 2023). Người dùng châu Á ngủ ít hơn, đi ngủ muộn hơn và có hiệu quả giấc ngủ thấp hơn người dùng châu Âu, châu Đại Dương và Bắc Mỹ. Chúng tôi chỉ đọc được bản tin của trường đại học chủ trì, và bản tin không nêu số giờ cụ thể.

Dữ liệu ứng dụng ENTRAIN từ khoảng 10.000 người dùng ở khoảng 100 nước xếp Singapore và Nhật ở mức thấp nhất, khoảng 7 giờ 24 phút mỗi đêm (Walch và cs., 2016). Hà Lan cao nhất, khoảng 8 giờ 12 phút. Tác giả cũng thấy khác biệt giữa các nước do giờ đi ngủ quyết định nhiều hơn giờ dậy, và phụ nữ ngủ nhiều hơn nam khoảng 30 phút. Chúng tôi chỉ đọc nghiên cứu này qua bài báo phổ thông, chưa mở được bài gốc.

Thời lượng ngủ của người Nhật: một mâu thuẫn về cách đo#

Con số 7 giờ 24 phút của ENTRAIN khó khớp với các nguồn khác về Nhật. Theo Điều tra Sức khoẻ và Dinh dưỡng Quốc gia Nhật năm 2019, 37,5% nam và 40,6% nữ trưởng thành tự báo cáo ngủ dưới 6 giờ mỗi ngày (Hội đồng rà soát Hướng dẫn giấc ngủ, 2024). Ở tuổi 20–59, khoảng 35–50% ngủ dưới 6 giờ. Sinh viên ở 8 trường đại học Nhật tự báo cáo ngủ trung bình 5,9 giờ vào ngày thường, và 38,2% ngủ dưới 6 giờ (Kayaba và cs., 2020).

Ba lý do khả dĩ giải thích độ lệch. Thứ nhất, người dùng ENTRAIN tự nhập giờ lên giường và giờ dậy, nên con số có thể là thời gian nằm giường. Thứ hai, các nguồn khác nhau về tuổi: sinh viên 18–22 tuổi không phải người trưởng thành nói chung. Thứ ba, cả ba nguồn đều dựa trên số do người dùng tự nhập hoặc tự báo cáo, với câu hỏi khác nhau; không nguồn nào đo bằng thiết bị. Theo chúng tôi, không nguồn nào trong số này đủ để nói người Nhật ngủ đúng bao nhiêu giờ SL.

Nhật Bản có Hướng dẫn Giấc ngủ vì Sức khoẻ 2023 do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ban hành. Hướng dẫn khuyến nghị người trưởng thành ngủ từ 6 giờ trở lên và ghi rằng 6–8 giờ thường là đủ (Hội đồng rà soát Hướng dẫn giấc ngủ, 2024). Với người cao tuổi, hướng dẫn nhấn vào giới hạn thời gian nằm giường không quá 8 giờ, thay vì khuyến khích ngủ nhiều hơn. Mức đặt cho học sinh tiểu học là 9–12 giờ, cho trung học cơ sở và trung học phổ thông là 8–10 giờ. Chúng tôi thuật lại hướng dẫn như văn bản viết, không chuyển thành lời khuyên.

Ngủ ngắn và huyết áp ở người châu Á#

Một phân tích gộp 6 nghiên cứu quan sát ở Hàn Quốc, Trung Quốc và Iran thấy ngủ ngắn đi kèm khả năng tăng huyết áp cao hơn (Nurrobi và cs., 2024). Tỉ số chênh (odds ratio, OR) gộp là 1,36 (khoảng tin cậy, KTC 95% 1,13–1,64). Chất lượng bằng chứng thấp: ít nghiên cứu, ngưỡng "ngủ ngắn" dao động từ dưới 5 đến dưới 7 giờ, và độ không đồng nhất cao (I² 76%). Thời lượng ngủ đều tự báo cáo, và chưa có nghiên cứu Việt Nam nào được đưa vào.

Người lao động thu nhập thấp và phụ nữ sau sinh#

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) ở Chennai cho thấy kéo dài giấc ngủ đêm trong điều kiện sống chật chội khó tới đâu (Bessone và cs., 2021). Các nhóm can thiệp khuyến khích ngủ đêm chỉ ngủ thêm khoảng 27 phút, trong khi thời gian nằm giường tăng 38 phút. Mức tăng 27 phút này không đi kèm thay đổi phát hiện được về nhận thức, năng suất, ra quyết định hay sức khoẻ tinh thần. Tác giả gợi ý phần ngủ thêm vẫn có chất lượng thấp vì nóng và ồn. Kết quả này không nên được suy rộng thành giấc ngủ đêm không quan trọng SL.

Một trong rất ít số liệu thời lượng ngủ người Việt đo bằng thiết bị mà chúng tôi tìm được đến từ phụ nữ một tháng sau sinh ở TP.HCM. Đo bằng Fitbit Charge 6, 197 người được phân tích ngủ trung bình 5,53 ± 1,36 giờ trong 24 giờ (Kang và cs., 2026). Con số phản ánh một giai đoạn đặc thù, khi giấc ngủ bị chia cắt bởi việc chăm và cho con bú. Nó không dùng được làm mức chung của người Việt trưởng thành.

Ngủ bù cuối tuần#

Ngủ bù cuối tuần là việc ngủ dài hơn vào ngày nghỉ sau những đêm ngủ ngắn trong tuần (xem mục từ ngủ bù cuối tuần và chỉ số lệch giờ ngủ cuối tuần). Các nguồn ở châu Á không thống nhất về độ lớn của nó, và càng không thống nhất về ý nghĩa sức khoẻ. Chúng tôi trình bày cả hai mâu thuẫn.

Độ lớn của ngủ bù#

Trong dữ liệu Fitbit, người dùng ở mọi nước đều ngủ dài hơn vào cuối tuần, thêm 8–54 phút tuỳ nhóm tuổi và nước (Ong và cs., 2019). Chênh lệch về mức ngủ bù giữa Đông Á và châu Đại Dương chỉ 2–35 phút. Mức này không đủ để người Đông Á bù phần thiếu 32–43 phút mỗi ngày thường; ngay vào cuối tuần, họ vẫn ngủ ngắn hơn 22–42 phút. Dữ liệu Oura cho kết quả cùng chiều: người dùng châu Á có mức ngủ bù cuối tuần thấp nhất, kể cả khi đã tính tới việc họ ngủ ngắn hơn vào ngày thường (Willoughby và cs., 2023). Những lý giải như làm việc thứ Bảy hay học thêm cuối tuần chưa được kiểm chứng.

Thanh thiếu niên Trung Quốc cho con số khác hẳn. Trong khảo sát quốc gia 2016–2017, theo cha mẹ báo cáo, trẻ 15–17 tuổi ngủ 7,89 giờ vào ngày đi học và 9,90 giờ vào cuối tuần, tức thêm khoảng 2 giờ (Zhang và cs., 2023). Có 57% trẻ 13–17 tuổi ngủ vượt mức 10 giờ vào cuối tuần. Hai nguồn khác nhau về tuổi (người lớn so với học sinh) và về cách đo (thiết bị so với cha mẹ báo cáo). Vì thế chúng không cho phép kết luận ngủ bù ở châu Á là nhỏ hay lớn nói chung.

Ngủ bù và sức khoẻ: hai kết quả không khớp#

Ở Hàn Quốc, Khảo sát Quốc gia về Sức khoẻ và Dinh dưỡng (Korea National Health and Nutrition Examination Survey, KNHANES) 2016–2023 trên 17.208 người đi làm 26–64 tuổi cho một bức tranh phân bố (Jeong và cs., 2025). Khoảng 25,9% thuộc nhóm ngủ bù, tức ngủ dưới 7 giờ ngày thường và dài hơn vào cuối tuần. Có 17,2% thiếu ngủ mà không bù, và 56,9% ngủ đủ từ 7 giờ trở lên vào ngày thường. Thời lượng trung bình của ba nhóm lần lượt là 6,81; 5,66 và 7,88 giờ, đều tự báo cáo.

Hai nghiên cứu cắt ngang Hàn Quốc cho hai câu trả lời khác nhau về sức khoẻ. Ở 2.782 người từ 19 tuổi, ngủ dưới 6 giờ mỗi đêm đi kèm khả năng tăng huyết áp cao hơn, OR 1,73 (1,13–2,64) so với ngủ 7 đến dưới 8 giờ (Hwangbo và cs., 2013). Mỗi giờ ngủ bù cuối tuần lại đi kèm khả năng tăng huyết áp thấp hơn, OR 0,83 (0,72–0,95), và OR 0,61 (0,46–0,82) ở người tự thấy ngủ không đủ. Trong KNHANES, nhóm ngủ bù vẫn đi kèm khả năng béo phì gần ngang nhóm thiếu ngủ không bù (Jeong và cs., 2025).

Kết cục (Jeong và cs., 2025)Nhóm ngủ bù, OR hiệu chỉnhNhóm thiếu ngủ không bù, OR hiệu chỉnh
Béo phì chung (chỉ số khối cơ thể, BMI ≥ 25)1,21 (1,12–1,31)1,23 (1,13–1,34)
Béo bụng (vòng eo ≥ 90 cm nam, ≥ 85 cm nữ)1,18 (1,09–1,27)1,33 (1,21–1,45)

Bảng 2. So với nhóm ngủ đủ; n = 17.208 người đi làm Hàn Quốc, thời lượng ngủ tự báo cáo.

Với béo bụng, nhóm ngủ bù đi kèm mức tăng thấp hơn nhóm không bù; với béo phì chung, hai nhóm gần như ngang nhau. Khác biệt giữa hai nghiên cứu có thể do kết cục khác nhau (huyết áp so với cân nặng) và cách phân tích khác nhau (số giờ ngủ bù so với phân nhóm). Cả hai đều cắt ngang và tự báo cáo. Người ngủ bù được có thể có lịch làm việc linh hoạt hơn, một yếu tố gây nhiễu mà thiết kế này không loại được. Theo chúng tôi, dữ liệu hiện có chưa cho phép nói ngủ bù cuối tuần có lợi hay không SL.

Học sinh và sinh viên#

Số liệu ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật#

Khảo sát quốc gia Trung Quốc 2016–2017 gồm 67.657 trẻ 6–17 tuổi ở 275 đơn vị cấp huyện, chọn mẫu cụm phân tầng nhiều giai đoạn (Zhang và cs., 2023). Giờ ngủ, giờ dậy và ngủ trưa do cha mẹ báo cáo. Tổng thời gian ngủ trong 24 giờ ngày đi học giảm mạnh theo tuổi, từ 10,02 giờ ở trẻ 6–8 tuổi xuống 7,89 giờ ở tuổi 15–17. Giờ đi ngủ muộn dần từ 20:56 tới 22:56, giờ dậy sớm dần từ 06:40 tới 06:06.

Nhóm tuổi (Trung Quốc)Ngủ ngày đi học, tổng 24 giờ
6–8 tuổi10,02 giờ
9–11 tuổi9,77 giờ
12–14 tuổi8,95 giờ
15–17 tuổi7,89 giờ

Bảng 3. Theo cha mẹ báo cáo, đã cộng ngủ trưa, nên giấc ngủ đêm thực còn ngắn hơn (Zhang và cs., 2023).

Ở tuổi 13–17, chỉ 54,7% đạt mức ngủ khuyến nghị vào ngày đi học và 36,9% thiếu ngủ. Ngưỡng được dùng là của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM): 8–10 giờ cho tuổi 13–18. Trẻ thành thị ngủ ngày đi học 8,87 giờ, ít hơn trẻ nông thôn (9,29 giờ) khoảng 25 phút, và đi ngủ lúc 22:00 so với 21:29.

Năm 2021, Bộ Giáo dục Trung Quốc ra thông tư về giấc ngủ học sinh. Thông tư đặt mức ngủ tối thiểu 10 giờ cho học sinh tiểu học, 9 giờ cho trung học cơ sở và 8 giờ cho trung học phổ thông (Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, 2021). Giờ đi ngủ muộn nhất lần lượt là 21:20, 22:00 và 23:00. Trò chơi điện tử cho trẻ vị thành niên bị chặn từ 22:00 đến 08:00. Một khảo sát ở 10 tỉnh, thành được Bộ dẫn kèm cho thấy học sinh tiểu học ngủ trung bình 9,5 giờ và trung học cơ sở 8,4 giờ. Khảo sát này không nêu phương pháp đo hay cỡ mẫu. Chúng tôi đọc qua trang tin chính phủ, không phải bản thông tư gốc.

Ở Hàn Quốc, theo thống kê Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên (Korea Youth Risk Behavior Survey, KYRBS) 2023 được dẫn lại, thanh thiếu niên ngủ trung bình khoảng 6,2 giờ mỗi đêm (Cho và Cho, 2025). Nghiên cứu dẫn số này gộp KYRBS 2020–2023 với 172.457 học sinh 12–18 tuổi và xếp ngủ từ 6 giờ trở xuống là không đủ. Đây là nguồn thứ cấp; chúng tôi chưa mở được số liệu gốc. Ở Nhật, như đã nêu, sinh viên tự báo cáo ngủ 5,9 giờ vào ngày thường.

Học sinh và sinh viên Việt Nam: từng trường riêng lẻ#

Các nghiên cứu Việt Nam chúng tôi tìm được, ở trường trung học phổ thông (THPT), đại học và cao đẳng, đều là cắt ngang, ở một trường, đo bằng bảng hỏi tự điền. Không nghiên cứu nào đo bằng thiết bị. Mỗi nghiên cứu chỉ nói về trường của nó, không đại diện cho học sinh hay sinh viên cả nước.

Nơi, năm thu thậpĐối tượng, cỡ mẫuĐo bằngKết quả chính
THPT Hoà Vang, Đà Nẵng, 2024737 học sinh 15–17 tuổiPSQI, ngưỡng ≥ 547,5% ngủ kém; đi ngủ chủ yếu 22:00–24:00, đỉnh quanh 23:00
THPT chuyên Hoàng Lê Kha, Tây Ninh, 2023285 học sinhPSQI, ngưỡng > 561,4% ngủ kém
THPT Tây Thạnh, quận Tân Phú, TP.HCM, 2023–2024651 học sinhBảng hỏi dựa PSQI, ngưỡng > 550,38% ngủ kém
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế213 sinh viênBảng hỏi giờ ngủ–thức, thang trì hoãn giờ ngủ61,51% đi ngủ sau 23:00 ngày đi học, 73,71% cuối tuần
Cao đẳng Y tế Lâm Đồng, 2024492 sinh viên, 84,6% nữPSQI, thời lượng tự báo cáoNgủ 7,17 ± 1,04 giờ/đêm; 31,5% ngủ chưa tốt

Bảng 4. Các tỉ lệ "ngủ kém" không so trực tiếp được với nhau vì khác ngưỡng.

Ở THPT Hoà Vang, Đà Nẵng, phần lớn học sinh đi ngủ trong khoảng 22:00–24:00, đỉnh quanh 23:00, nhiều em ngủ sau nửa đêm (Tran Danh Tien Thinh và cs., 2024). Tỉ lệ ngủ kém là 43,4% ở lớp 10, 49,6% ở lớp 11 và 54,4% ở lớp 12, nhưng chênh lệch giữa các khối không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu dùng ngưỡng PSQI ≥ 5 chứ không phải > 5, điều làm tỉ lệ cao hơn. Nữ giới đi kèm OR 1,44 (1,03–2,03) cho ngủ kém. Dùng điện thoại trên 30 phút trước khi ngủ đi kèm OR 1,37 (1,0–1,87), với cận dưới đúng bằng 1,0 nên ý nghĩa thống kê ở ranh giới. Áp lực thành tích, gồm cả học thêm, đi kèm OR khoảng 1,2–1,9 cho ngủ kém, nhưng số chi tiết chỉ có trong biểu đồ.

Ở trường chuyên Hoàng Lê Kha (Tây Ninh), học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi đi kèm OR 2,50 (1,02–6,34) cho ngủ kém (Tran Gia Huy và cs., 2025). Lo âu vì bài vở đi kèm OR 2,20 (1,20–3,89), ít được giám sát đi kèm OR 3,16 (1,51–6,61). Bài có vài chỗ không nhất quán về nhãn giới và giá trị p, và không báo thời lượng ngủ hay giờ học thêm. Mẫu là trường chuyên, càng khó suy rộng.

Ở THPT Tây Thạnh, dùng màn hình trên 180 phút mỗi ngày đi kèm tỉ số hiện mắc (prevalence ratio, PR) 1,25 (1,07–1,45) cho ngủ kém (Nguyễn Văn Khanh và cs., 2025). Nữ giới đi kèm PR 1,16 (1,02–1,33), lớp 12 so với lớp 10 đi kèm PR 1,22 (1,02–1,46). Đây là phân tích hai biến, chưa hiệu chỉnh đa biến, nên các yếu tố có thể chồng lên nhau.

Ở sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, hơn 82% định đi ngủ trước 23:00 nhưng chưa tới 40% làm được (Võ Tá Bảo và cs., 2026). Hiện tượng được đo là trì hoãn giờ ngủ (bedtime procrastination), không phải mất ngủ. Nghiên cứu chỉ có thống kê mô tả và cách chọn mẫu không rõ.

Sinh viên Cao đẳng Y tế Lâm Đồng tự báo cáo ngủ 7,17 ± 1,04 giờ mỗi đêm (Nguyễn Tuấn Anh và cs., 2024). Tỉ lệ ngủ chưa tốt là 40,7% ở năm nhất, 26,3% ở năm hai và 20,9% ở năm ba. Tóm tắt không nêu điểm cắt PSQI. Con số 7,17 giờ cao hơn mức 5,9 giờ của sinh viên Nhật, nhưng hai nghiên cứu khác câu hỏi (ngày thường so với mỗi đêm), khác thời điểm và khác quần thể. Chúng tôi không xem đó là bằng chứng sinh viên Việt Nam ngủ nhiều hơn SL.

Giờ vào học#

Năm 2022, báo chí thuật lại lời Chánh Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM. Theo đó, Sở sẽ hướng dẫn giờ vào học tiểu học là 07:30 và trung học cơ sở, trung học phổ thông từ 07:00 (VTC News, 2022). Không đơn vị nào được tổ chức vào học trước 07:00, và quận 12 lùi giờ 15–30 phút. Nhiều trường còn yêu cầu học sinh tập trung trước giờ học 10–15 phút. Đây là nguồn báo chí, không phải văn bản gốc của Sở, và không kèm số đo giấc ngủ nào.

Một phóng sự cùng năm mô tả một học sinh lớp 1 ở quận Gò Vấp vệ sinh, thay đồ từ 05:40 và rời nhà lúc 06:00 để kịp tiết đầu lúc 07:00 (Pháp luật TP.HCM, 2022). Báo cũng ghi có học sinh ngủ gật khi đến lớp, không kịp ăn sáng. Đây là một trường hợp đơn lẻ, chúng tôi nêu để minh hoạ lịch sinh hoạt, không phải số liệu. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo tác động của giờ vào học lên thời lượng ngủ.

Bằng chứng châu Á sát nhất với câu hỏi này mà chúng tôi đọc được đến từ một trường nữ sinh trung học Singapore vào học lúc 07:30 (Lo và cs., 2018). Học sinh nằm giường trung bình 6 giờ 37 phút vào đêm đi học. Thời gian ngủ thực đo bằng actigraphy chỉ 5 giờ 48 phút, và chỉ 6,9% nằm giường đủ 8 giờ. Nghiên cứu được NMRC và Far East Organization tài trợ.

Khi trường lùi giờ vào học 45 phút, sang 08:15, học sinh dậy muộn hơn khoảng 30 phút nhưng chỉ đi ngủ muộn hơn khoảng 9–10 phút. Sau khi lùi giờ, buồn ngủ ban ngày và triệu chứng trầm cảm tự báo cáo giảm, ngủ bù cuối tuần giảm 29–45 phút; vì không có nhóm chứng, đây là thay đổi trước–sau, không phải bằng chứng về tác động. Có 89,1% học sinh, 75,6% phụ huynh và 67,6% giáo viên đánh giá giờ mới tốt hơn.

Nằm giường thêm 23 phút, ngủ thực thêm 2 phút#

Chính nghiên cứu Singapore cho thấy rõ độ lệch giữa hai đại lượng đã nêu ở đầu chương. Thời gian nằm giường tự báo cáo tăng 23,2 phút sau 1 tháng và 21,5 phút sau 9 tháng. Thời gian ngủ thực đo bằng actigraphy chỉ tăng 2,1 phút sau 1 tháng, không có ý nghĩa thống kê, và 10,0 phút sau 9 tháng. Tỉ lệ nằm giường đủ 8 giờ tăng từ 6,9% lên 16,1% rồi 14,1%.

Thời điểmNằm giường (tự báo cáo)Ngủ thực (actigraphy)Nằm giường ≥ 8 giờ
Trước khi lùi giờ6 giờ 37 phút5 giờ 48 phút6,9%
Sau 1 tháng+23,2 phút+2,1 phút (không ý nghĩa)16,1%
Sau 9 tháng+21,5 phút+10,0 phút14,1%

Bảng 5. Lùi giờ vào học 45 phút ở một trường nữ sinh Singapore (Lo và cs., 2018).

Thiết kế là trước–sau, không có nhóm chứng. Mẫu giảm từ 375 nữ sinh lúc đầu xuống 352 sau 1 tháng và 150 sau 9 tháng. Vì thế thay đổi về tâm trạng có thể một phần do kỳ vọng hay do nhóm còn ở lại khác nhóm bỏ cuộc. Theo chúng tôi, điều nghiên cứu gợi ý rõ hơn là: ở trường này, thêm thời gian trên giường không tự động thành thêm thời gian ngủ SL.

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được khảo sát đại diện quốc gia về thời lượng ngủ, giờ đi ngủ và giờ dậy của người Việt trưởng thành. Ngoài một khảo sát đại diện quốc gia ở người từ 60 tuổi (xem chương về võng, quấn trẻ, vợ chồng ngủ chung và người cao tuổi). Ngoài khảo sát đó, các số liệu Việt Nam đọc được đều là nghiên cứu một trường, một xã hoặc một bệnh viện.
  • Các bộ dữ liệu thiết bị đeo và ứng dụng so sánh giữa các nước (Fitbit, ENTRAIN, Oura) không công bố số liệu riêng cho Việt Nam trong phần chúng tôi đọc được.
  • Chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam đo cả số giờ học thêm lẫn thời lượng ngủ của học sinh; nghiên cứu Đà Nẵng chỉ trình bày học thêm trong biểu đồ.
  • Chưa có nghiên cứu Việt Nam đo tác động của giờ vào học sớm (07:00) lên giấc ngủ học sinh.
  • Chưa tìm được nghiên cứu kiểu sáng–tối (chronotype) ở người Việt, dù đây là biến số trung tâm khi bàn chuyện đi ngủ muộn.
  • Chưa mở được toàn văn nghiên cứu ENTRAIN và số liệu chính thức KYRBS 2023; các con số tương ứng trong chương là đọc qua nguồn thứ cấp.

Viết tắt trong trang

AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
KNHANES
Khảo sát Quốc gia về Sức khoẻ và Dinh dưỡng Hàn Quốc (Korea National Health and Nutrition Examination Survey)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
KYRBS
Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên Hàn Quốc (Korea Youth Risk Behavior Survey)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Giờ giấc và thời lượng ngủ ở châu Á. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/gio-giac-va-thoi-luong-ngu-chau-a/