giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Chỉ số · Nhóm Nhịp và thói quen

Lệch giờ ngủ giữa ngày làm và ngày nghỉ (social jetlag)

SJL · đơn vị giờ · Social jetlag

Độ chênh giữa thời điểm giữa giấc ngủ (mid-sleep) của ngày nghỉ và của ngày làm việc/đi học: SJL = |MSF − MSW| [3]. Khái niệm do Wittmann và cộng sự đưa ra năm 2006, mô tả sự lệch giữa giờ sinh học và giờ xã hội [1]; Roenneberg 2012 gọi đó là độ chênh giữa đồng hồ sinh học và đồng hồ xã hội [2].

Thang tham chiếu

01234giờNhóm tham chiếu: lệch dưới 1 giờ 0–1 giờ[6]Lệch 1–2 giờ 1–2 giờ[6]Lệch trên 2 giờ ≥ 2 giờ[4]
NgưỡngKhoảngLoại bằng chứngNguồn
Nhóm tham chiếu: lệch dưới 1 giờ
KNHANES 2016–2017, 8.295 người lớn
0–1 giờ Đo trong nghiên cứu[6]
Lệch 1–2 giờ
Cùng nghiên cứu; tỉ lệ tăng cân ở nam: 29,2 % (1–2 giờ) so với 19,1 % (<1 giờ)
1–2 giờ Đo trong nghiên cứu[6]
Lệch trên 2 giờ
Mốc ≥2 giờ dùng trong nhiều nghiên cứu; ví dụ: triệu chứng trầm cảm nặng hơn ở 4.051 người lớn Brazil
≥ 2 giờ Đo trong nghiên cứu[4]

Các nhóm <1 giờ, 1–2 giờ, >2 giờ là cách phân nhóm hay dùng trong nghiên cứu dịch tễ, không phải tiêu chuẩn lâm sàng.

Cách đo

Tính từ bảng hỏi Munich ChronoType Questionnaire (MCTQ): người trả lời ghi giờ ngủ và giờ thức riêng cho ngày làm và ngày nghỉ; MSW, MSF là điểm giữa của hai khoảng đó [3]. Có bản hiệu chỉnh theo nợ ngủ (MSFsc) khi ngày nghỉ ngủ dài hơn ngày làm [3][4]. Actigraphy dùng được nhưng ít nghiên cứu áp dụng: tổng quan hệ thống ghi chỉ hai nghiên cứu dùng phương pháp khách quan [5].

Vì sao con số này quan trọng

Một tổng quan dẫn ước tính rằng khoảng 70 % sinh viên và người đi làm lệch ít nhất một giờ, gần một nửa trong số đó lệch từ hai giờ trở lên [4]. Mức lệch trên 2 giờ gắn với nhiều kết cục trong nghiên cứu quan sát: ở nam giới Hàn Quốc, lệch >2 giờ đi kèm nguy cơ tăng cân cao hơn so với <1 giờ (OR 1,787) [6]; một số nghiên cứu khác ghi nhận cortisol lúc đói và nhịp tim lúc nghỉ cao hơn [4].

Giới hạn

Đa số nghiên cứu là cắt ngang, không xác lập quan hệ nhân quả [5]. Không có ngưỡng thống nhất; tổng quan hệ thống khuyên phân tích SJL cả dạng liên tục lẫn phân nhóm [5]. Ở nữ trong khảo sát Hàn Quốc, không thấy liên quan có ý nghĩa với tăng cân sau khi hiệu chỉnh [6]. Con số 70 % nêu trên được tổng quan dẫn lại từ Roenneberg 2012; chúng tôi chưa đọc được toàn văn bài gốc [2][4].

Nguồn

  1. Wittmann M, Dinich J, Merrow M, Roenneberg T (2006). Social jetlag: misalignment of biological and social time. Chronobiology International 23(1–2):497–509. Bản ghi Europe PMC. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
  2. Roenneberg T, Allebrandt KV, Merrow M, Vetter C (2012). Social jetlag and obesity. Current Biology 22(10):939–943. Bản ghi Europe PMC. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
  3. Roenneberg T, Pilz LK, Zerbini G, Winnebeck EC (2019). Chronotype and Social Jetlag: A (Self-) Critical Review. Biology 8(3):54. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  4. Caliandro R, Streng AA, van Kerkhof LWM, van der Horst GTJ, Chaves I (2021). Social Jetlag and Related Risks for Human Health: A Timely Review. Nutrients 13(12):4543. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  5. Beauvalet JC, Quiles CL, Oliveira MAB, Ilgenfritz CAV, Hidalgo MP, Tonon AC (2017). Social jetlag in health and behavioral research: a systematic review. ChronoPhysiology and Therapy 7:19–31. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
  6. Kim JH, Lyu YS, Kim SY (2020). Impact of Social Jetlag on Weight Change in Adults: Korean National Health and Nutrition Examination Survey 2016–2017. Int J Environ Res Public Health 17(12):4383. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30