giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu

Chương 3 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 22 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnoea, OSA) ở phụ nữ bị bỏ sót ở đâu, và nguy cơ đổi thế nào qua các giai đoạn đời người nữ. Trong dân số chung, tỉ lệ nam:nữ mắc OSA là 3:1 đến 5:1, còn ở các mẫu phòng khám chọn lọc là 8:1 đến 10:1; khoảng cách đó là chỉ báo gián tiếp của chẩn đoán thiếu ở nữ. Hội chứng buồng trứng đa nang và giai đoạn sau mãn kinh (postmenopause) đi kèm tỉ lệ hoặc tỉ số chênh ngưng thở cao hơn nhóm so sánh. Trong thai kỳ, tỉ lệ có chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnoea–hypopnoea index, AHI) ≥ 5 là 3,6% đầu thai kỳ và 8,3% giữa thai kỳ, và rối loạn thở khi ngủ đi kèm tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ. Một tổng quan các nghiên cứu đa ký giấc ngủ kết luận bản thân thai kỳ không phải yếu tố nguy cơ độc lập của các rối loạn giấc ngủ lớn. Phần lớn bằng chứng là quan sát, khoảng tin cậy rộng, và béo phì là yếu tố nhiễu chưa tách hết. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ, và các hướng dẫn sản khoa Việt Nam chúng tôi đọc được không nhắc tới nó.

Tỉ lệ trong cộng đồng và ở phòng khám#

OSA là tình trạng đường thở trên xẹp lặp lại trong lúc ngủ. Chuẩn đo là đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG). Mức nặng thường tính bằng chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnoea–hypopnoea index, AHI), tức số lần ngưng thở và giảm thở mỗi giờ ngủ. Các bài trong chương dùng ngưỡng AHI ≥ 5, ≥ 10 hoặc ≥ 15 mỗi giờ, có bài đòi kèm triệu chứng ban ngày, vì vậy tỉ lệ giữa các bài không so trực tiếp được.

Tổng quan của Hiệp hội Hô hấp châu Âu (European Respiratory Society) ghi tỉ lệ nam:nữ 3:1 đến 5:1 trong dân số chung và 8:1 đến 10:1 ở các mẫu lâm sàng chọn lọc (Bonsignore và cs., 2019). Cùng tổng quan ghi nữ hiện chiếm tới 40–50% số người đến phòng khám giấc ngủ, tức tỉ số phòng khám thay đổi theo thời kỳ và nơi chọn mẫu SL.

Số đo trực tiếp trong mẫu dân số cụ thể hơn. Nghiên cứu HypnoLaus ở Lausanne (Thuỵ Sĩ, 2009–2013) đo PSG đầy đủ tại nhà cho 2.121 người 40–85 tuổi, trong đó 1.024 nam (Heinzer và cs., 2015). Tỉ lệ rối loạn thở khi ngủ mức trung bình–nặng (AHI ≥ 15/giờ) là 23,4% ở nữ (KTC 95% 20,9–26,0) và 49,7% ở nam (46,6–52,8). Bài dùng tiêu chuẩn chấm điểm nhạy, tính cả giảm thở kèm vi thức giấc (arousal), do đó tỉ lệ cao hơn các nghiên cứu cũ. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt; thuần tập nền CoLaus có tài trợ của GlaxoSmithKline.

Ở Hàn Quốc, 457 người 40–69 tuổi, rút ngẫu nhiên từ 5.020 người của thuần tập Korean Health and Genome Study, được đo PSG đầy đủ qua đêm (Kim và cs., 2004). Tiêu chuẩn chấm giảm thở năm 2004 khác hiện nay. Ở Pennsylvania (Hoa Kỳ), một mẫu cộng đồng sàng lọc 12.219 nữ và 4.364 nam 20–100 tuổi, rồi đo một đêm trong phòng thí nghiệm cho 1.000 nữ và 741 nam (Bixler và cs., 2001). Ở Nagahama (Nhật Bản), 7.713 người được đo bằng máy đo oxy đeo cổ tay tối đa 4 đêm cộng actigraphy, tức thiết bị cổ tay ghi cử động để ước tính thời gian ngủ, không phải PSG (Matsumoto và cs., 2020).

Nghiên cứuNướcĐo bằngĐịnh nghĩaNữNam
HypnoLaus (Heinzer và cs., 2015)Thuỵ SĩPSG tại nhàAHI ≥ 15/giờ23,4%49,7%
Korean Health and Genome Study (Kim và cs., 2004)Hàn QuốcPSG qua đêmAHI ≥ 516%27%
Như trênHàn QuốcPSG qua đêmAHI ≥ 5 kèm buồn ngủ ban ngày quá mức3,2%4,5%
Pennsylvania (Bixler và cs., 2001)Hoa KỳPSG trong phòng thí nghiệmAHI ≥ 10 kèm triệu chứng ban ngày0,6% trước mãn kinh; 2,7% sau mãn kinh không dùng hormone; 0,5% sau mãn kinh đang dùng3,9%
Nagahama (Matsumoto và cs., 2020)Nhật BảnOxy cổ tay và actigraphyChỉ số giảm bão hoà oxy 3% ≥ 15/giờ1,6% trước mãn kinh; 9,4% sau mãn kinh SL23,4% SL

Ở dòng Nagahama, các tỉ lệ là phép cộng mức trung bình và mức nặng từ bảng 2 của bài do nhóm biên tập thực hiện, chưa hiệu chỉnh tuổi. Ở Pennsylvania, tỉ lệ nam:nữ là 3,3:1.

Đọc chung bảng SL: trong cộng đồng, nữ có tỉ lệ thấp hơn nam ở mọi định nghĩa nhưng không hiếm, gần một phần tư phụ nữ HypnoLaus có AHI ≥ 15/giờ. Ở HypnoLaus và mẫu Hàn Quốc, khoảng cách nam:nữ đo trực tiếp hẹp hơn mức 3:1 đến 5:1 mà tổng quan châu Âu ghi, vì vậy phép so với 8:1 đến 10:1 ở phòng khám chỉ là chỉ báo thô của chẩn đoán thiếu. Tỉ số nam:nữ còn phụ thuộc định nghĩa: ở Hàn Quốc, đòi kèm buồn ngủ ban ngày làm khoảng cách hẹp lại. Đây là khác biệt trung bình giữa hai nhóm, không nói về nguy cơ của từng người.

Triệu chứng, giấc ngủ REM và tư thế nằm#

Tổng quan châu Âu nêu một lý do của chẩn đoán thiếu: phụ nữ bị OSA ít báo ngáy và ngưng thở có người chứng kiến hơn nam (Bonsignore và cs., 2019). Họ hay báo mệt ban ngày, thiếu năng lượng, triệu chứng mất ngủ, đau đầu buổi sáng, rối loạn khí sắc và ác mộng. Tổng quan kết luận vì vậy phụ nữ thường bị chẩn đoán và can thiệp thiếu, dù tổng quan không đưa con số ước tính.

Một nghiên cứu cộng đồng cho kết quả ngược lại. Trong thuần tập Wisconsin Sleep Cohort, 939 người (551 nam, 388 nữ) chưa từng được chẩn đoán ngưng thở được đo PSG và hỏi triệu chứng (Young và cs., 1996). Ở mọi mức độ nặng, nữ bị ngưng thở không báo triệu chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nam, và ngáy là yếu tố dự báo nhạy nhất ở cả hai giới. Tác giả kết luận tiêu chí lâm sàng hiện hành phù hợp với nữ như với nam; chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Hai phía có thể cùng đúng ở hai quần thể khác nhau. Mẫu phòng khám đã qua sàng lọc: phụ nữ có thể được chuyển khám khi đã lớn tuổi hơn, béo hơn và nhiều bệnh kèm hơn. Hai nguồn còn cách nhau hơn hai thập kỷ và khác thiết kế: một tổng quan tường thuật và một mẫu cộng đồng. Một cách đọc khả dĩ: triệu chứng của nữ không khác nhiều, nhưng cách người bệnh và thầy thuốc diễn giải chúng thì khác SL.

Đặc điểm trên PSG cũng khác. Theo tổng quan châu Âu, nữ bị OSA có AHI thấp hơn nam, biến cố tập trung trong giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) và ít OSA phụ thuộc tư thế nằm ngửa hơn (Bonsignore và cs., 2019). Đường thở trên của nữ ngắn hơn và có áp lực đóng tới hạn (critical closing pressure, Pcrit) thấp hơn, tức khó xẹp hơn.

Một nghiên cứu hồi cứu trên 830 bệnh nhân OSA chẩn đoán bằng PSG tại phòng khám cho số cụ thể (O'Connor và cs., 2000). Trong giấc ngủ không REM (NREM), AHI của nữ là 14,6 ± 1,6/giờ so với 29,6 ± 1,1/giờ ở nam (p < 0,001), khoảng một nửa. Trong giấc ngủ REM, AHI tương đương: 42,7 ± 1,6 so với 39,9 ± 1,2/giờ. OSA tập trung ở REM gặp nhiều hơn ở nữ, còn OSA chủ yếu khi nằm ngửa gần như chỉ gặp ở nam. Tỉ lệ nam:nữ trong mẫu là 3,2:1; chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Từ đây có một cơ chế khả dĩ của chẩn đoán thiếu SL. REM chiếm phần nhỏ của đêm, vì thế AHI tính trung bình cả đêm có thể dưới ngưỡng dù trong REM các biến cố dày đặc.

Hội chứng buồng trứng đa nang#

Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome, PCOS) là rối loạn nội tiết thường gặp ở phụ nữ tuổi sinh sản, hay đi kèm béo phì. Câu hỏi là phụ nữ PCOS có nhiều OSA hơn không, và nếu có thì vì PCOS hay vì cân nặng.

Phân tích gộp của Helvaci và cộng sự chỉ nhận nghiên cứu đo bằng PSG qua đêm: 13 nghiên cứu (8 ở người lớn, 5 ở vị thành niên), 404 bệnh nhân PCOS và 611 người chứng (Helvaci và cs., 2017). Tỉ số chênh (odds ratio, OR) chung là 8,3 (KTC 95% 3,30–20,87), chỉ tính được từ 6 nghiên cứu. Ở người lớn OR là 9,74 (2,76–34,41); ở vị thành niên là 4,54 (0,56–36,43), không có ý nghĩa thống kê. Tỉ lệ OSA gộp trong PCOS là 22% (8–40%); dị biệt rất cao (I² = 94,1%). Phần lớn nghiên cứu là cắt ngang cỡ nhỏ, và bài không làm được hồi quy gộp theo chỉ số khối cơ thể (body mass index, BMI).

Phân tích gộp của Kahal và cộng sự gộp 17 nghiên cứu đều dùng PSG, nhưng điểm cắt AHI không thống nhất (Kahal và cs., 2019). Tỉ lệ OSA gộp là 35,0% (22,2–48,9%; I² = 92%), OR so với nhóm chứng 3,83 (1,43–10,24), từ 8 nghiên cứu với 957 người. Tỉ lệ ở người béo phì cao hơn người không béo phì 37,9 điểm phần trăm (15,0–60,9 điểm phần trăm). Ở hai nghiên cứu có phân tầng theo BMI, không ghi nhận ca OSA nào ở phụ nữ PCOS không béo phì. Tác giả lưu ý béo phì và chủng tộc chưa được kiểm soát đầy đủ; khác biệt Hoa Kỳ (43,7%) so với nước khác (22,8%) không có ý nghĩa (p = 0,725).

Phân tích gộp của Zhang và cộng sự gồm 18 nghiên cứu (2 thuần tập, 16 cắt ngang) với 16.152 người. Kết cục đo bằng PSG, Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) hoặc thời lượng ngủ tự báo cáo (Zhang và cs., 2022). Phụ nữ PCOS đi kèm OR rối loạn giấc ngủ 6,22 (2,77–13,97), điểm PSQI cao hơn 2,10 điểm (0,29–3,90; I² = 97%) và thời gian ngủ chênh −15,65 phút (−27,18 đến −4,13). Theo phân nhóm, OR là 38,94 (16,20–93,64) cho rối loạn thở khi ngủ, 6,27 (3,98–9,86) cho OSA và 1,41 (1,19–1,68) cho vấn đề giấc ngủ khác. Bài không ghép cặp BMI; tài trợ từ quỹ khoa học tỉnh Phúc Kiến và thành phố Hạ Môn, có dự án y học cổ truyền Trung Quốc, không từ ngành dược.

Phân tích gộpSố nghiên cứuĐo OSAOR so với nhóm chứngTỉ lệ OSA trong PCOSXử lý BMI
Helvaci và cs., 201713 (OR từ 6)PSG8,3 (3,30–20,87)0,22 (0,08–0,40)Không hồi quy gộp được
Kahal và cs., 201917 (OR từ 8)PSG, điểm cắt khác nhau3,83 (1,43–10,24)35,0% (22,2–48,9%)Hai nghiên cứu phân tầng: không ca nào ở người không béo phì
Zhang và cs., 202218PSG, PSQI, tự báo cáo6,27 (3,98–9,86), phân nhóm OSAKhông gộpKhông ghép cặp BMI

Ba con số OR (8,3; 3,83 và 6,27) có thể khác nhau vì mỗi bài gộp một tập nghiên cứu khác, cỡ mẫu nhỏ, định nghĩa AHI không thống nhất, và mẫu chuyển khám xen lẫn mẫu dân số. Khi khoảng một phần năm đến một phần ba phụ nữ PCOS có OSA, OR phóng đại so với tỉ số nguy cơ; OR 8,3 không có nghĩa nguy cơ cao hơn chừng ấy lần SL.

Mâu thuẫn chính nằm ở vai trò của cân nặng. Một tổng quan năm 2023 dẫn các nghiên cứu cho thấy phụ nữ thừa cân có PCOS có nhiều rối loạn thở khi ngủ hơn phụ nữ cùng cân nặng không PCOS. Tổng quan nêu giả thuyết một phần do testosterone cao (Haufe và Leeners, 2023). Ở phía kia, dữ liệu phân tầng của Kahal không thấy OSA ở phụ nữ PCOS không béo phì, dù chỉ từ hai nghiên cứu.

Hướng dẫn quốc tế dựa trên bằng chứng về PCOS năm 2023 đứng về phía thứ nhất; chúng tôi thuật lại theo bản toàn văn (Teede và cs., 2023). Khuyến cáo 1.10.1 và 1.10.2 (mức mạnh, chất lượng bằng chứng trung bình) yêu cầu nhân viên y tế biết rằng phụ nữ PCOS có tỉ lệ OSA cao hơn, độc lập với BMI. Hướng dẫn khuyến cáo hỏi triệu chứng OSA: ngáy kèm thức dậy không tỉnh táo, buồn ngủ ban ngày hoặc mệt mỏi. Nếu có, hướng dẫn khuyến cáo sàng lọc bằng công cụ đã kiểm định hoặc chuyển đánh giá, và ghi chẩn đoán cần nghiên cứu giấc ngủ chính thức. Khuyến cáo 1.10.3–1.10.4 là điểm thực hành. Bảng hỏi Berlin được nêu làm ví dụ, nhưng nó được kiểm định ở dân số chung, chưa chắc phù hợp riêng cho PCOS.

Cụm "độc lập với BMI" của hướng dẫn và kết quả phân tầng của Kahal chưa khớp nhau. Lý do khả dĩ là cách xử lý BMI khác nhau (ghép cặp, hiệu chỉnh hay không xử lý), và số nghiên cứu có phân tầng quá ít để kết luận SL.

Ngáy và ngưng thở khi mang thai#

Một tổng quan hệ thống các nghiên cứu PSG kết luận thai kỳ làm thay đổi cấu trúc giấc ngủ rõ nhất ở tam cá nguyệt ba (Garbazza và cs., 2020). Bản thân thai kỳ không phải yếu tố nguy cơ độc lập của các rối loạn giấc ngủ lớn. Tổng quan cũng lưu ý rối loạn thở khi ngủ ở người có béo phì hay tăng huyết áp. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt. Các thay đổi giấc ngủ khác trong thai kỳ được trình bày ở chương Giấc ngủ khi mang thai.

Một thuần tập lớn có đo khách quan là nghiên cứu phụ của nuMoM2b ở Hoa Kỳ, trên phụ nữ mang thai con so (Facco và cs., 2017b). Trong 3.705 người được tuyển, 3.306 vào phân tích; họ tự đeo thiết bị đo tại nhà mức 3, sáu kênh, ở tuần 6–15 và 22–31. Tỉ lệ AHI ≥ 5 là 3,6% đầu thai kỳ và 8,3% giữa thai kỳ. Sau hiệu chỉnh tuổi mẹ, BMI và tăng huyết áp mạn, rối loạn thở khi ngủ đi kèm tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted OR, aOR) tiền sản giật 1,94 (1,07–3,51) đầu thai kỳ và 1,95 (1,18–3,23) giữa thai kỳ.

Với đái tháo đường thai kỳ, aOR là 3,47 (1,95–6,19) và 2,79 (1,63–4,77). Với rối loạn tăng huyết áp nói chung, aOR là 1,46 (0,91–2,32) đầu thai kỳ, không có ý nghĩa thống kê, và 1,73 (1,19–2,52) giữa thai kỳ. Tác giả mô tả các liên quan là độc lập, nhưng đây là nghiên cứu quan sát và nhiễu dư do béo phì vẫn khả dĩ.

Ngáy cho thêm một chi tiết. Trong thuần tập 1.719 thai phụ tại một trung tâm tuyến ba ở Michigan (Hoa Kỳ), 34% ngáy thường xuyên ở tam cá nguyệt ba: 25% bắt đầu ngáy trong thai kỳ, 9% đã ngáy từ trước (O'Brien và cs., 2012). Ngáy khởi phát trong thai kỳ đi kèm aOR tăng huyết áp thai kỳ 2,36 (1,48–3,77) và tiền sản giật 1,59 (1,06–2,37), sau hiệu chỉnh BMI trước thai và nhiều yếu tố khác. Ngáy mạn có từ trước thì không có ý nghĩa: 1,72 (0,80–3,71) và 1,12 (0,58–2,14).

Ngáy ở đây là tự báo cáo, không đo PSG; tác giả gọi ngáy là "yếu tố nguy cơ mạnh" dù thiết kế là quan sát. Nhân quả ngược là khả dĩ: tiền sản giật đang hình thành có thể gây phù đường thở và làm khởi phát tiếng ngáy. Điều đó có thể giải thích vì sao chỉ ngáy mới khởi phát đi kèm tăng huyết áp SL. Về xung đột lợi ích, hai tác giả nhận thiết bị hoặc tài trợ giáo dục từ Philips Respironics. Một người ngồi hội đồng tư vấn của GlaxoSmithKline; người kia nhận tài trợ từ Fisher Paykel và có tên trong một bằng sáng chế chẩn đoán giấc ngủ.

Hai phân tích gộp cho cùng hướng. Phân tích của Li gồm 35 nghiên cứu với 56.751.837 đối tượng, chủ yếu từ dữ liệu hành chính, trộn OR thô với OR hiệu chỉnh; tài trợ từ các quỹ khoa học Trung Quốc và Thượng Hải (Li và cs., 2018). Phân tích của Pamidi chỉ có 9 trong 31 nghiên cứu cho ước tính hiệu chỉnh, và tóm tắt không nêu có hiệu chỉnh béo phì hay không (Pamidi và cs., 2014).

NguồnThiết kếTiền sản giật hoặc tăng huyết áp thai kỳĐái tháo đường thai kỳGhi chú
Li và cs., 2018Phân tích gộp 35 nghiên cứu, trộn OR thô và hiệu chỉnhTiền sản giật OR 2,19 (1,70–2,82); tăng huyết áp thai kỳ OR 1,84 (1,53–2,22)OR 1,95 (1,60–2,37)Không có phân tích riêng hiệu chỉnh BMI
Pamidi và cs., 2014Phân tích gộp, chỉ ước tính hiệu chỉnhaOR 2,34 (1,60–3,09), 5 nghiên cứuaOR 1,86 (1,30–2,42), 5 nghiên cứuChỉ đọc tóm tắt
Facco và cs., 2017bThuần tập, đo tại nhàTiền sản giật aOR 1,94 (đầu) và 1,95 (giữa thai kỳ)aOR 3,47 (đầu) và 2,79 (giữa thai kỳ)Hiệu chỉnh tuổi, BMI, tăng huyết áp mạn
O'Brien và cs., 2012Thuần tập, ngáy tự báo cáoNgáy khởi phát trong thai kỳ: tăng huyết áp thai kỳ aOR 2,36; tiền sản giật aOR 1,59Không báo cáoNgáy mạn không có ý nghĩa

Đọc chung, liên quan với tiền sản giật hoặc tăng huyết áp thai kỳ xuất hiện ở cả bốn nguồn trong bảng, và với đái tháo đường thai kỳ ở ba nguồn có báo cáo, kể cả nguồn đã hiệu chỉnh BMI. Phần chưa rõ là liên quan còn bao nhiêu khi béo phì được tách hết, và chiều nhân quả đi theo hướng nào SL.

Một thử nghiệm can thiệp cho thông tin trực tiếp hơn. Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) đa trung tâm ở ba bệnh viện đại học tại Bangkok (Thái Lan) tuyển thai phụ nguy cơ cao có OSA nhẹ–trung bình trên PSG (Tantrakul và cs., 2023). Có 340 người được phân ngẫu nhiên: 169 vào nhóm thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure, CPAP) cộng chăm sóc thường, 171 vào nhóm chăm sóc thường; 310 người vào phân tích. Tuổi thai trung bình khi phân ngẫu nhiên là 14,8 tuần.

CPAP làm giảm huyết áp tâm trương 2,2 mmHg (KTC 95% −3,9 đến −0,4; p = 0,014), kết cục chính. Tiền sản giật, một kết cục phụ, là 13,1% (20/153) ở nhóm CPAP so với 22,3% (35/157) ở nhóm chứng. Chênh nguy cơ tuyệt đối là −9% (−18% đến −1%), tương ứng số người cần can thiệp (number needed to treat, NNT) là 11. Cận trên của khoảng tin cậy (−1%) sát không, vì vậy NNT 11 là ước tính kém chính xác SL. Tuân thủ CPAP thấp: 32,7%, trung bình 2,5 giờ mỗi đêm. Thử nghiệm nhãn mở, đăng ký hồi cứu; tác giả khai không có xung đột lợi ích dù thiết bị Philips-Respironics được nêu tên, và tài trợ đến từ Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Thái Lan và Đại học Mahidol. Một thử nghiệm ở một nước, với tiền sản giật là kết cục phụ, chưa đủ để kết luận về tiền sản giật SL.

Ở 187 thai phụ tại Melbourne (Úc), tuổi thai trung vị 34,1 tuần, PSG một đêm cho AHI khi nằm ngửa 5,5/giờ so với 2,6/giờ khi nằm nghiêng (p < 0,001) (Wilson và cs., 2022). Chỉ 14% (26/187) bắt đầu ngủ nằm ngửa, nhưng trung vị 24,2% tổng thời gian ngủ là nằm ngửa. Tác giả nói không suy ra nhân quả; một tác giả nhận thiết bị nghiên cứu từ Philips Respironics.

Với thai chết lưu, bằng chứng về rối loạn thở khi ngủ yếu hơn và có dấu hiệu nhiễu. Phân tích gộp dữ liệu từng người tham gia (individual participant data, IPD) của 5 nghiên cứu bệnh–chứng, gồm 851 ca và 2.257 chứng ở các nước thu nhập cao, dùng bảng hỏi Berlin, không PSG (Cronin và cs., 2020). Bảng hỏi Berlin dương tính đi kèm aOR thai chết lưu muộn 1,44 (1,02–2,04). Một tác giả nhận tài trợ của ResMed ngoài nghiên cứu này. Khi bỏ tiêu chí BMI khỏi bảng hỏi, aOR còn 0,81 (0,54–1,21), không có ý nghĩa, gợi ý béo phì là yếu tố nhiễu; ngáy không liên quan. Thiết kế bệnh–chứng dựa trên trí nhớ của người mẹ về tháng trước, có thể có sai lệch nhớ lại. Chủ đề này ở chương Tư thế đi ngủ cuối thai kỳ và thai chết lưu.

Ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào về ngưng thở khi ngủ hay ngáy ở phụ nữ mang thai. Hướng dẫn quốc gia về sàng lọc và quản lý đái tháo đường thai kỳ (Quyết định 1470/QĐ-BYT ngày 29/5/2024) không có từ "ngủ", "giấc ngủ", "mất ngủ", "ngưng thở khi ngủ" hay "ngáy" (Bộ Y tế, 2024a). Bản PDF chúng tôi đọc lấy từ trang của một bệnh viện tư, chưa đối chiếu với cổng văn bản của Bộ Y tế.

Trong 27 mục sản khoa của tài liệu chuyên môn sản phụ khoa ban hành kèm Quyết định 315/QĐ-BYT ngày 29/1/2015 cũng không có từ "ngủ" hay "mất ngủ"; "ngáy" chỉ xuất hiện dưới dạng ran ngáy khi nghe phổi (Bộ Y tế, 2015). Quyết định 1154/QĐ-BYT ngày 4/5/2024 về tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, sản giật có trong danh mục hướng dẫn chuyên môn năm 2024 do Sở Y tế Khánh Hoà phổ biến (Sở Y tế Khánh Hoà, 2025). Chúng tôi chưa đọc được toàn văn văn bản này, vì thế chưa biết nó có nhắc ngưng thở khi ngủ hay ngáy không.

Y văn quốc tế liên hệ ngưng thở khi ngủ với tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ, nhưng giấc ngủ chưa xuất hiện trong các hướng dẫn sản khoa Việt Nam mà chúng tôi đọc được SL.

Sau mãn kinh#

Chương dùng ba tên giai đoạn: trước mãn kinh (premenopause), quanh mãn kinh (perimenopause) và sau mãn kinh (postmenopause). Bằng chứng về ngưng thở ở giai đoạn này chủ yếu đến từ Wisconsin (Hoa Kỳ), qua một phân tích cắt ngang và một nghiên cứu dọc; hai nguồn cho độ lớn liên quan khác nhau.

Phân tích cắt ngang trong thuần tập Wisconsin Sleep Cohort đo PSG trong phòng thí nghiệm cho 589 phụ nữ (Young và cs., 2003). Giai đoạn mãn kinh được xác định bằng tiền sử kinh, phẫu thuật phụ khoa, việc dùng hormone, nồng độ hormone kích thích nang trứng và triệu chứng vận mạch. Sau hiệu chỉnh tuổi, thể trạng và hút thuốc, sau mãn kinh đi kèm OR 2,6 (1,4–4,8) cho AHI ≥ 5 và OR 3,5 (1,4–8,8) cho AHI ≥ 15, so với trước mãn kinh. Quanh mãn kinh không khác có ý nghĩa: OR 1,2 (0,7–2,2) và 1,1 (0,5–2,2).

Đây là tỉ số chênh với khoảng tin cậy rất rộng. Với AHI ≥ 5, một kết cục khá phổ biến ở tuổi trung niên, OR phóng đại mức tăng nguy cơ thật SL. Tóm tắt bài được dựng lại từ chỉ mục OpenAlex, chưa đối chiếu với nguyên văn.

Nghiên cứu dọc Sleep in Midlife Women theo dõi 219 phụ nữ 38–62 tuổi, đo PSG tại nhà mỗi 6 tháng từ 1996 đến 2007, tổng 1.667 lần PSG (Mirer và cs., 2017). So với trước mãn kinh, AHI trung bình cao hơn 31% (KTC 95% 2–68%) ở sau mãn kinh; quanh mãn kinh cao hơn 21% (−4% đến 54%), không có ý nghĩa. Mỗi năm thêm sau mãn kinh đi kèm AHI cao hơn 4% (2–6%), độc lập với tuổi, BMI, vòng eo, vòng cổ, việc dùng hormone, rượu và hút thuốc. Nhưng nguy cơ đạt ngưỡng AHI ≥ 15 không tăng có ý nghĩa theo năm: OR 1,07 mỗi năm (0,97–1,18).

Ở Pennsylvania, với AHI ≥ 10 kèm triệu chứng ban ngày, tỉ lệ là 0,6% ở phụ nữ trước mãn kinh, 2,7% ở phụ nữ sau mãn kinh không dùng liệu pháp hormone và 0,5% ở người đang dùng (Bixler và cs., 2001). Khác biệt giữa sau mãn kinh không dùng hormone và trước mãn kinh có p = 0,02, sau hiệu chỉnh tuổi và BMI. Ở nhóm trước mãn kinh và nhóm dùng hormone, ngưng thở chỉ gặp ở người béo phì (BMI ≥ 32,3). Đây là so sánh quan sát: người dùng hormone khác người không dùng ở nhiều mặt, vì vậy không suy ra được hormone ngăn ngưng thở. Các thử nghiệm liệu pháp hormone và liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioural therapy for insomnia, CBT-I) được trình bày ở chương Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì.

Ở châu Á, nguồn duy nhất chúng tôi có là Nagahama, với 1.794 nữ trước mãn kinh, 3.388 nữ sau mãn kinh và 2.491 nam (Matsumoto và cs., 2020). Theo bảng 2 của bài, ở phụ nữ trước mãn kinh, mức trung bình là 1,6% và mức nặng 0%; ở phụ nữ sau mãn kinh, 8,2% và 1,2%. Phụ nữ sau mãn kinh lớn tuổi hơn, vì thế so sánh thô này lẫn tác động của tuổi. Một số khoa của tác giả nhận tài trợ từ Philips-Respironics, Fukuda Denshi, Fukuda Lifetec Keiji, ResMed và Teijin Pharma, các hãng thiết bị và dịch vụ hô hấp.

Trong hai thuần tập điều dưỡng Hoa Kỳ, Nurses' Health Study (2002–2012) và Nurses' Health Study II (1995–2013), 50.473 và 53.827 phụ nữ sau mãn kinh được theo dõi, với 4.272 ca OSA mới (Huang và cs., 2018). Mãn kinh do phẫu thuật đi kèm tỉ số nguy cơ tức thời (hazard ratio, HR) được chẩn đoán OSA 1,27 (KTC 95% 1,17–1,38) so với mãn kinh tự nhiên. Mô hình đã hiệu chỉnh BMI, vòng eo, liệu pháp hormone, tăng huyết áp, đái tháo đường và nhiều yếu tố khác. Nguy cơ cao hơn vẫn thấy với OSA được chẩn đoán hơn 15 năm sau mãn kinh. OSA ở đây là chẩn đoán tự báo cáo, chỉ xác nhận bằng hồ sơ ở một mẫu con, tức đây là nguy cơ "được chẩn đoán", không hẳn là nguy cơ mắc SL.

Mâu thuẫn về độ lớn thấy rõ qua một tổng quan năm 2023. Tổng quan của Baker viết phụ nữ sau mãn kinh có "nguy cơ ngưng thở khi ngủ nặng cao hơn 3 lần" (Baker, 2023). Con số gần nhất trong y văn gốc mà chúng tôi tìm được là OR 3,5 (1,4–8,8) cho AHI ≥ 15 của Young 2003, tức mức trung bình–nặng chứ không riêng mức nặng. Tổng quan không có chú dẫn trong văn bản đọc được; việc gắn câu đó với Young 2003 là đối chiếu của nhóm biên tập SL. Diễn đạt một tỉ số chênh có khoảng tin cậy rộng thành "cao hơn 3 lần" phóng đại độ chính xác của số liệu SL.

Lý do khả dĩ đầu tiên của khác biệt giữa các nguồn là thiết kế: nghiên cứu dọc tách tuổi và tăng cân khỏi mãn kinh tốt hơn cắt ngang. Các lý do khác là định nghĩa ngưng thở khác nhau, cỡ mẫu nhỏ ở nhóm nặng và nhiễu do chọn người dùng hormone. Cách đọc thận trọng nhất là AHI trung bình tăng dần qua mãn kinh, còn mức tăng tỉ lệ ngưng thở trung bình–nặng chưa ước lượng được chính xác SL.

Ngoài hô hấp, trong mẫu PSG một đêm ở Pennsylvania (n = 1.324, phân nhóm nữ), mãn kinh mà không dùng liệu pháp hormone đi kèm độ trễ vào giấc dài hơn và tỉ lệ giấc ngủ sâu thấp hơn (Bixler và cs., 2009). Đây là quan sát, không phải bằng chứng về tác dụng của hormone. Các thay đổi giấc ngủ khác được trình bày ở chương Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh; ngưng thở khi ngủ ở mức chung có trong Tập 7 — Y học giấc ngủ.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Phụ nữ bị ngưng thở khi ngủ có bị bỏ sót chẩn đoán nhiều hơn nam giới không?Rất thấp
Hội chứng buồng trứng đa nang có đi kèm ngưng thở khi ngủ độc lập với béo phì không?Rất thấp
Sau mãn kinh có đi kèm ngưng thở khi ngủ nhiều hơn trước mãn kinh không?Thấp
Sau mãn kinh có đi kèm ngưng thở khi ngủ mức trung bình–nặng nhiều hơn trước mãn kinh không?Rất thấp
Rối loạn thở khi ngủ trong thai kỳ có đi kèm tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ không?Thấp
Ở thai phụ nguy cơ cao có ngưng thở khi ngủ, thở áp lực dương liên tục có giảm tiền sản giật không?Thấp

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được số ước tính tỉ lệ OSA chưa được chẩn đoán ở phụ nữ châu Á; nghiên cứu Hàn Quốc 2004 chỉ cho tỉ lệ hiện mắc theo giới.
  • Tỉ số nam:nữ 8:1 đến 10:1 ở phòng khám và các con số về mãn kinh trong tổng quan châu Âu chưa được đối chiếu với bài gốc. Một nghiên cứu lớn trên bệnh nhân OSA năm 2004 so triệu chứng theo giới không mở được.
  • Ngưng thở ở phụ nữ châu Á sau mãn kinh mới chỉ có Nagahama, đo bằng oxy cổ tay và actigraphy chứ không phải PSG, chưa có tỉ lệ hiệu chỉnh tuổi theo tình trạng mãn kinh.
  • Ở PCOS, chưa rõ liên quan với OSA còn lại bao nhiêu khi béo phì được tách hết; ở vị thành niên, liên quan chưa có ý nghĩa thống kê.
  • Trong thai kỳ, toàn văn phân tích gộp của Pamidi không mở được, mỗi ước tính hiệu chỉnh chỉ dựa trên 5 nghiên cứu; thử nghiệm CPAP duy nhất về tiền sản giật là nhãn mở, với tiền sản giật là kết cục phụ.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam hay Đông Nam Á nào về ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ PCOS, phụ nữ mang thai hay sau mãn kinh. Ở Việt Nam, chúng tôi cũng chưa tìm được nghiên cứu về liên quan giữa ngưng thở khi ngủ với tiền sản giật hay đái tháo đường thai kỳ.
  • Toàn văn Quyết định 1154/QĐ-BYT chưa mở được, vì thế chưa biết văn bản có nhắc ngưng thở khi ngủ hay ngáy không.

Viết tắt trong trang

AHI
chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
aOR
tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
CBT-I
liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
CPAP
thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
HR
tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
IPD
phân tích gộp dữ liệu từng cá nhân (individual participant data)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NNT
số người cần can thiệp để có thêm một người hưởng lợi (number needed to treat)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
OSA
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
PCOS
hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/ngung-tho-khi-ngu-o-phu-nu/