giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Giấc ngủ khi mang thai

Chương 5 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 22 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi: bao nhiêu thai phụ ngủ kém hay mất ngủ qua ba tam cá nguyệt, giấc ngủ có đi kèm đái tháo đường thai kỳ, sinh non hay chuyển dạ kéo dài không, và can thiệp nào đã được thử nghiệm. Các phân tích gộp thống nhất ở một điểm: tỉ lệ ngủ kém tăng dần về cuối thai kỳ, dù tỉ lệ dao động từ khoảng một phần tư đến khoảng ba phần năm tuỳ công cụ đo. Ngủ ngắn đi kèm đái tháo đường thai kỳ trong nhiều nghiên cứu quan sát, còn liên quan với sinh non thì mâu thuẫn. Liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ có thử nghiệm ngẫu nhiên trong thai kỳ, nhưng hiệu quả hiện rõ trên thang tự báo cáo hơn trên thiết bị đo. Ở Việt Nam, các nghiên cứu tại bệnh viện cho tỉ lệ từ khoảng 1/5 đến gần 2/3, và theo nhận định của chúng tôi, khác biệt có thể do tuổi thai, cách đo và quần thể bệnh viện SL.

Ngưng thở khi ngủ trong thai kỳ được trình bày ở chương Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu. Tư thế ngủ cuối thai kỳ có chương riêng, Tư thế đi ngủ cuối thai kỳ và thai chết lưu.

Đo giấc ngủ khi mang thai: ba cách đo, ba loại con số#

Giấc ngủ thai kỳ được đo theo ba cách chính. Đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) ghi điện não, nhịp thở và vận động suốt đêm, cho biết cấu trúc giấc ngủ. Actigraphy là thiết bị đeo cổ tay ghi vận động để ước tính thức và ngủ trong nhiều ngày liền. Phần lớn số liệu còn lại đến từ bảng hỏi tự báo cáo, nhất là Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI).

Ba cách đo này trả lời ba câu hỏi khác nhau. PSQI đo chất lượng giấc ngủ chung, gồm cả thức dậy đi tiểu và khó chịu thể chất, vì vậy không tương đương chẩn đoán mất ngủ. ISI đo mức độ triệu chứng mất ngủ. Actigraphy cho thời lượng và độ liền mạch nhưng không cho biết người đo cảm thấy ngủ thế nào.

Về PSG, một tổng quan hệ thống kết luận thai kỳ làm thay đổi cấu trúc giấc ngủ rõ nhất ở tam cá nguyệt ba. Theo tổng quan, bản thân thai kỳ không phải yếu tố nguy cơ độc lập của các rối loạn giấc ngủ lớn trên PSG. Tổng quan cũng lưu ý rối loạn thở khi ngủ ở người có béo phì hay tăng huyết áp (Garbazza và cs., 2020). Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt, do đó chưa có số liệu tổng thời gian ngủ, giấc ngủ sóng chậm hay giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) theo từng tam cá nguyệt.

Số đo actigraphy lớn nhất mà chúng tôi có đến từ thuần tập nuMoM2b ở Mỹ. Ở 782 phụ nữ mang thai lần đầu, tuần 16–21, đeo actigraphy 7 ngày, trung vị thời lượng ngủ là 7,4 giờ và 27,9% ngủ dưới 7 giờ (Reid và cs., 2017). Thời gian thức sau khi đã vào giấc (wake after sleep onset, WASO) trung vị 42,2 phút, hiệu quả giấc ngủ 85,2%, điểm giữa giấc ngủ khoảng 03:38. Phụ nữ da đen không thuộc nhóm gốc Mỹ Latinh và phụ nữ gốc Á ngủ ngắn nhất; đây là nhóm gốc Á sống ở Mỹ, không suy rộng được cho phụ nữ châu Á tại chỗ.

Hai cách đo không cho cùng một con số. Một thuần tập theo dõi 74 phụ nữ ở Ohio (Mỹ) từ tam cá nguyệt ba đến 12 tháng sau sinh, đo song song PSQI và actigraphy (Brown và cs., 2025). Tổng thời gian ngủ theo PSQI là 5,86–6,83 giờ, thấp hơn actigraphy (6,78–7,27 giờ) khoảng 30–60 phút cho đến 8 tháng sau sinh. Tương quan giữa hai cách đo chỉ ở mức thấp đến vừa (r = 0,27–0,48); hai cách đo hội tụ ở 12 tháng. Không xác định được bên nào "đúng": actigraphy tính lúc nằm yên mà thức thành ngủ, còn tự báo cáo chịu sai lệch nhớ lại.

Ngủ kém và mất ngủ theo tam cá nguyệt#

Các phân tích gộp quốc tế#

Phân tích gộp 24 bài dùng PSQI (11.002 người) ước tính 45,7% thai phụ có điểm PSQI ≥ 5 (khoảng tin cậy, KTC 95% 36,5–55,2), với điểm trung bình 6,07 (Sedov và cs., 2018). Điểm PSQI tăng 1,68 điểm (0,42–2,94) từ tam cá nguyệt hai sang ba. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt; một số nghiên cứu khác dùng ngưỡng > 5 thay vì ≥ 5, vì vậy so tỉ lệ giữa các bài cần thận trọng.

Phân tích gộp 38 nghiên cứu ở 13 nước thu nhập thấp và trung bình thấy tỉ lệ ngủ kém theo PSQI tăng dần: 37,46%, 47,62% rồi 60,05% qua ba tam cá nguyệt (Mislu và cs., 2024). Độ dị biệt rất cao (I² 95–99%). Bài tự mâu thuẫn ở khoảng tin cậy của tam cá nguyệt ba: phần kết quả ghi 48,70–66,62, còn bảng ghi 51,32–68,78. Phân tích không có phân nhóm Đông Nam Á.

Với "triệu chứng mất ngủ", phân tích gộp 24 nghiên cứu (15.564 người) cho tỉ lệ chung 38,2% (Sedov và cs., 2021). Tỉ lệ là 25,3% ở tam cá nguyệt một, 27,2% ở tam cá nguyệt hai và 39,7% ở tam cá nguyệt ba; tam cá nguyệt là yếu tố điều chỉnh có ý nghĩa duy nhất. Tóm tắt không nêu khoảng tin cậy.

Phân tích gộp mới hơn, chỉ gồm nghiên cứu dùng bảng hỏi chuẩn hoá hoặc tiêu chuẩn chẩn đoán, ước tính 43,9% thai phụ có mất ngủ (33,5–54,4) (Yang và cs., 2024). Tỉ lệ ở châu Á là 40,7% (34,1–47,3), ở châu Âu 53,6% (45,6–61,6), ở Bắc Mỹ 41,0%. Các nghiên cứu có tỉ lệ trầm cảm cao đi kèm tỉ lệ mất ngủ 56,2% (49,8–62,6), so với 39,8% ở nhóm có tỉ lệ trầm cảm thấp. Cỡ mẫu ghi là 47.399.513 người, nhưng khoảng 47,35 triệu đến từ một nghiên cứu dữ liệu lớn ở Mỹ. Phần bàn luận ghi 44,0%, khác 43,9% ở tóm tắt. Nghiên cứu được tài trợ từ một chương trình y học cổ truyền Trung Quốc.

Thuần tập sinh Akershus ở Na Uy dùng thang mất ngủ Bergen trên 1.480 phụ nữ khoẻ mạnh (Sivertsen và cs., 2015). Ở tuần 32, 60,8% có mất ngủ. Số người hoàn thành cả ba lần đo chỉ chiếm 32% trong 4.662 phụ nữ đồng ý tham gia, và mẫu đến từ một bệnh viện.

Các mẫu Việt Nam#

Tại Bệnh viện Hùng Vương (TP.HCM), 384 thai phụ tam cá nguyệt hai có nguy cơ cao tiền sản giật được đo PSQI bản tiếng Việt từ 12/2023 đến 6/2024 (Nguyễn Thị Ngọc Thơ và Hoàng Thị Diễm Tuyết, 2025). Tỉ lệ PSQI > 5 là 21,6% (KTC 95% 17,6–26,1), điểm trung bình 3,68 ± 2,28. Phần lớn ở mức nhẹ (19,3%), 2,3% ở mức trung bình và không ai ở mức nặng. Tuổi thai trung bình là 21,4 ± 4,03 tuần; mẫu thuận tiện, một bệnh viện tuyến cuối, đã loại người có rối loạn giấc ngủ từ trước.

Tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ, 420 thai phụ khám ngoại trú trong thời gian 5–10/2023 được đo PSQI (Trần Khánh Nga và cs., 2024). Tỉ lệ PSQI > 5 là 40,2%; 65,5% mẫu đang ở ba tháng cuối. Một nghiên cứu khác ở cùng bệnh viện chỉ đo phụ nữ ba tháng cuối (n = 380) và thấy 61,8% có PSQI > 5, tăng lên 74,2% sau sinh (Võ Ngọc Bảo Châu và cs., 2026). Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt của nghiên cứu này, và tóm tắt chưa nêu rõ thời điểm đo sau sinh.

Tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 26,23% trong 244 thai phụ có mất ngủ theo ISI ≥ 10 (KTC 95% 21–32%) (Võ Hoài Duy và cs., 2026). Con số này đo mất ngủ, không đo chất lượng giấc ngủ chung, vì vậy không so trực tiếp được với các tỉ lệ PSQI. Tác giả nhận xét giấc ngủ chưa được đánh giá thường quy trong khám thai ở Việt Nam.

NguồnNơi, mẫuCông cụ, ngưỡngThời điểmTỉ lệ
Sedov và cs., 2018Phân tích gộp 24 bài, 11.002 ngườiPSQI ≥ 5Chung45,7%
Mislu và cs., 202438 nghiên cứu, 13 nước thu nhập thấp–trung bìnhPSQITam cá nguyệt 1 / 2 / 337,46% / 47,62% / 60,05%
Sedov và cs., 2021Phân tích gộp 24 nghiên cứu, 15.564 ngườiTriệu chứng mất ngủ, nhiều công cụTam cá nguyệt 1 / 2 / 325,3% / 27,2% / 39,7%
Yang và cs., 2024Phân tích gộp 44 nghiên cứuBảng hỏi chuẩn hoá, tiêu chuẩn chẩn đoánChung43,9%
Sivertsen và cs., 2015Na Uy, 1.480 ngườiThang BergenTuần 3260,8%
Nguyễn Thị Ngọc Thơ và Hoàng Thị Diễm Tuyết, 2025Bệnh viện Hùng Vương, 384 người nguy cơ cao tiền sản giậtPSQI > 5Ba tháng giữa21,6%
Võ Hoài Duy và cs., 2026Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 244 ngườiISI ≥ 10Không nêu trong tóm tắt26,23%
Trần Khánh Nga và cs., 2024Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ, 420 ngườiPSQI > 565,5% ở ba tháng cuối40,2%
Võ Ngọc Bảo Châu và cs., 2026Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ, 380 ngườiPSQI > 5Ba tháng cuối61,8%

Bảng 1. Tỉ lệ ngủ kém và mất ngủ khi mang thai theo công cụ đo. Mọi số liệu là tự báo cáo; các nghiên cứu Việt Nam đều ở một cơ sở.

Vì sao các con số lệch nhau#

Có ba nguồn lệch. Thứ nhất là công cụ: PSQI tính cả tiểu đêm và khó chịu thể chất, còn ISI và tiêu chuẩn chẩn đoán đo mất ngủ hẹp hơn. Thứ hai là ngưỡng: PSQI ≥ 5 hay > 5. Thứ ba là tuổi thai: các phân tích gộp có tách tam cá nguyệt đều cho tỉ lệ tăng dần về cuối thai kỳ. Ở Việt Nam, xu hướng này chỉ thấy khi xếp các nghiên cứu khác nhau theo tỉ trọng ba tháng cuối SL.

Ở Việt Nam, ba nghiên cứu dùng cùng ngưỡng PSQI > 5 xếp theo tỉ trọng ba tháng cuối cho 21,6%, rồi 40,2%, rồi 61,8%. Theo chúng tôi, phần lớn khoảng chênh từ "1/5" đến "gần 2/3" phản ánh tuổi thai và quần thể bệnh viện khác nhau, hơn là khác biệt thật giữa các vùng SL. Không nghiên cứu Việt Nam nào trong số này đo giấc ngủ khách quan.

Yếu tố đi kèm trong các mẫu Việt Nam#

Hai nghiên cứu Việt Nam có hồi quy logistic đa biến. Ở Bệnh viện Hùng Vương, chất lượng giấc ngủ kém đi kèm chỉ số khối cơ thể (body mass index, BMI) < 18,5, với tỉ số chênh (odds ratio, OR) 7,17 (KTC 95% 1,73–28,61). Các yếu tố khác là lo âu (OR 2,62; 1,41–4,88) và học vấn trên trung học phổ thông (OR 3,85; 1,58–10,76). Ngừng dùng thiết bị điện tử chưa tới 1 giờ trước khi ngủ cũng đi kèm (OR 3,28; 1,71–6,33) (Nguyễn Thị Ngọc Thơ và Hoàng Thị Diễm Tuyết, 2025). BMI ≥ 25 không có ý nghĩa thống kê (OR 1,31). Khoảng tin cậy của BMI < 18,5 rất rộng vì ít người thiếu cân, và bài không liệt kê đủ các biến hiệu chỉnh.

Ở Cần Thơ, các yếu tố đi kèm chủ yếu thuộc về tâm lý, gia đình và bệnh tật (Trần Khánh Nga và cs., 2024). Tỉ số chênh hiệu chỉnh là 6,29 (3,38–11,70) với quan hệ kém hoặc xấu đi với gia đình chồng, 4,86 (2,74–8,65) với thiếu tự tin làm mẹ, 5,46 (2,22–13,47) với sàng lọc trước sinh bất thường. Việc đang được xử trí một bệnh khác đi kèm OR 9,86 (3,41–28,52). Các yếu tố khác gồm áp lực công việc 3,79 (1,73–8,34), kỳ vọng giới tính con 4,00 (1,20–13,33), áp lực ngoại hình 2,58 (1,50–4,43), biến cố bất lợi khi mang thai 3,75 (2,12–6,66), và ở với bố mẹ hoặc nhà riêng 2,16 (1,17–4,00).

Ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, viêm âm đạo (tỉ số chênh hiện mắc, POR 2,57; 1,24–5,37) và tiểu đêm thường xuyên (POR 2,95; 1,48–5,86) đi kèm mất ngủ (Võ Hoài Duy và cs., 2026). Tóm tắt không nêu biến hiệu chỉnh.

Cả ba nghiên cứu đều cắt ngang, do đó chỉ cho biết đi kèm, không cho biết chiều. Khi tỉ lệ ngủ kém là 40,2%, tỉ số chênh không xấp xỉ tỉ số nguy cơ: OR 6,29 không có nghĩa là nguy cơ ngủ kém cao hơn sáu lần SL. Nhiều khoảng tin cậy rộng, phản ánh nhóm phơi nhiễm nhỏ.

Hội chứng chân không yên#

Hội chứng chân không yên (restless legs syndrome, RLS) là cảm giác khó chịu ở chân kèm thôi thúc cử động, nặng lên khi nghỉ và về chiều tối. Phân tích gộp 27 nghiên cứu (51.717 thai phụ) ước tính RLS gặp ở 21% thai phụ (Chen và cs., 2018). Tỉ lệ tăng theo tam cá nguyệt: 8%, 16% rồi 22%, và giảm còn 4% sau sinh.

Theo khu vực, tỉ lệ là 22% ở châu Âu, 20% ở châu Mỹ, 30% ở Đông Địa Trung Hải và 14% ở Tây Thái Bình Dương (gồm Đông Á). Đông Nam Á không đủ dữ liệu để ước tính. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt, và tóm tắt không nêu khoảng tin cậy hay tiêu chuẩn chẩn đoán.

Một phân tích gộp khác chỉ gồm tam cá nguyệt ba (10 nghiên cứu, 2.431 thai phụ) cho tỉ lệ 22,9% (KTC 95% 14,7–33,8) (Darvishi và cs., 2020). Biên độ giữa các nghiên cứu rất rộng, từ 3,5% ở một nghiên cứu Nhật đến 62,7% ở một nghiên cứu Thổ Nhĩ Kỳ. Các nghiên cứu dùng công cụ chẩn đoán khác nhau, vì vậy phần chênh lệch có thể đến từ cách chẩn đoán cũng như từ quần thể. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào về RLS ở phụ nữ mang thai.

Thời lượng, thời điểm ngủ và kết cục thai kỳ#

Đái tháo đường thai kỳ#

Phân tích gộp 41 nghiên cứu (226.101 người; 32 thuần tập, 7 bệnh–chứng, 2 cắt ngang) có kết quả chính về đái tháo đường thai kỳ. Ngủ ngắn trong thai kỳ đi kèm đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes mellitus, GDM), OR gộp 1,81 (KTC 95% 1,35–2,44; I² = 75,6%) (Wang và cs., 2022). Ngủ dài cũng đi kèm GDM ở mức nhẹ hơn (OR 1,24; 1,12–1,36). Thời lượng ngủ chủ yếu tự báo cáo: 28 nghiên cứu dùng bảng hỏi, 8 dùng PSQI, chỉ 2 dùng thiết bị. Tác giả ghi nhận có sai lệch xuất bản cho liên quan ngủ ngắn–GDM, và định nghĩa ngủ ngắn, GDM khác nhau giữa các nghiên cứu.

Một phân tích gộp 19 nghiên cứu khác cho kết quả cùng chiều (Jiang và cs., 2024). Tỉ số nguy hại (hazard ratio, HR) là 1,50 (1,26–1,78) với chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI, 1,56 (1,20–2,01) với ngủ < 7 giờ và 2,32 (1,19–4,50) với ngủ > 8 giờ. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Tác giả gọi giấc ngủ là "yếu tố nguy cơ" dù dữ liệu là quan sát. Liên quan hình chữ U, cả ngủ ngắn lẫn ngủ dài, gợi ý vai trò của nhiễu như béo phì, bệnh nền, hoặc nhân quả ngược SL.

Số đo khách quan duy nhất về câu hỏi này trong dữ kiện của chúng tôi đến từ nhóm phụ actigraphy của nuMoM2b (Facco và cs., 2017a). Ở 782 phụ nữ đo tuần 16–21, tỉ lệ GDM là 4,2%, tức 33 ca. Trong mô hình chỉ gồm hai phơi nhiễm giấc ngủ hiệu chỉnh lẫn nhau, ngủ < 7 giờ (tỉ số chênh hiệu chỉnh, aOR 2,06; 1,01–4,19) và điểm giữa giấc ngủ sau 05:00 (aOR 2,37; 1,13–4,97) đều đi kèm GDM. Vì chỉ có 33 ca, tuổi, BMI, chủng tộc và lịch làm việc được hiệu chỉnh từng biến một chứ không đồng thời. Khi hiệu chỉnh ngáy trước thai kỳ, ước tính điểm của ngủ ngắn không giảm (aOR 2,29; 0,97–5,39; p = 0,059) nhưng khoảng tin cậy chạm 1. Mất ý nghĩa thống kê ở đây phản ánh độ chính xác thấp với 33 ca hơn là liên quan yếu đi SL.

Hướng dẫn quốc gia về sàng lọc và quản lý đái tháo đường thai kỳ (Quyết định 1470/QĐ-BYT ngày 29/5/2024) không có từ "ngủ", "giấc ngủ", "mất ngủ" hay "ngáy" (Bộ Y tế, 2024a). Từ "nghỉ ngơi" xuất hiện 1 lần, trong hướng dẫn làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Bản PDF chúng tôi rà soát lấy từ trang của một bệnh viện tư, chưa đối chiếu với bản trên cổng Bộ Y tế. Nhận xét của nhóm biên tập: y văn quốc tế liên hệ ngủ ngắn với GDM, nhưng hướng dẫn Việt Nam chưa đề cập SL.

Sinh non: kết quả mâu thuẫn#

Với sinh non, phân tích gộp 41 nghiên cứu không thấy liên quan có ý nghĩa với ngủ ngắn (OR 1,12; 0,93–1,34) (Wang và cs., 2022). Ngủ ngắn cũng không đi kèm có ý nghĩa với tăng huyết áp thai kỳ (OR 1,09; 0,93–1,27).

Thuần tập nuMoM2b hỏi giấc ngủ tự báo cáo ở tuần 6–13 và 22–29 trên 7.524 và 7.668 phụ nữ mang thai lần đầu (Facco và cs., 2019). Điểm giữa giấc ngủ sau 05:00 đi kèm sinh non: tỉ lệ 9,5% so với 6,9% ở lần khám 1, aOR 1,39 (1,08–1,80) ở lần khám 1 (tuần 6–13) và 1,40 (1,08–1,81) ở lần khám 3 (tuần 22–29). Khi thêm các biến kinh tế – xã hội, hệ số còn 1,34 (1,03–1,74) và 1,32 (1,01–1,72). Ngủ < 7 giờ không có ý nghĩa thống kê (aOR 1,15; 0,92–1,44 và 1,18; 0,95–1,45). Trong nhóm phụ đo actigraphy (n = 782), điểm giữa giấc ngủ muộn có OR 1,68 (0,88–3,20), không có ý nghĩa thống kê. Điểm giữa giấc ngủ muộn có thể phản ánh ca làm việc hay điều kiện kinh tế – xã hội.

Một khảo sát cắt ngang ở Thành Đô (Trung Quốc) cho kết quả ngược lại (Jiang và cs., 2025). 4.360 bà mẹ của trẻ ở 30 trường mẫu giáo nhớ lại tổng giờ ngủ khi mang thai, kể cả ngủ trưa. Ngủ < 7 giờ/ngày đi kèm sinh non tự báo cáo với aOR 4,28 (3,06–6,00), và 7–8 giờ với aOR 1,43 (1,20–1,70), so với ngủ > 8 giờ. Với kết cục chiếm hơn một phần sáu mẫu, các OR này xa 1 hơn tỉ số nguy cơ tương ứng SL. Tỉ lệ sinh non tự báo cáo là 16,6% (725/4.360), cao bất thường, gợi ý sai lệch nhớ lại hoặc phân loại. Hai tác giả làm việc cho công ty Sichuan Bingzhe Technology và khai đây là xung đột lợi ích.

Lời giải thích khả dĩ cho mâu thuẫn: khảo sát Thành Đô hỏi lại khi con đã vào mẫu giáo, bằng một câu gộp cả ngủ trưa, không có dữ liệu ngưng thở khi ngủ, và kết cục cũng tự báo cáo SL.

Chuyển dạ và mổ lấy thai#

Một nghiên cứu quan sát tiến cứu đo actigraphy 48 giờ ở 131 thai phụ tháng thứ chín tại Mỹ (Lee và Gay, 2004). Người ngủ < 6 giờ/đêm và người có giấc ngủ gián đoạn nặng chuyển dạ dài hơn và nhiều khả năng mổ lấy thai hơn. Tóm tắt viết "4.5 times more likely" và "5.2 times more likely" mà không nêu khoảng tin cậy hay nhóm so sánh; nhiều khả năng đây là tỉ số chênh từ hồi quy logistic, không phải bội số nguy cơ SL. Mệt mỏi không liên quan với kết cục chuyển dạ. Câu khuyến nghị thời gian trên giường trong tóm tắt là ý kiến tác giả, không phải hướng dẫn chính thức.

Phân tích gộp 41 nghiên cứu thấy ngủ dài đi kèm mổ lấy thai ở mức nhẹ (OR 1,13; 1,04–1,22), nhưng chỉ dựa trên 2 nghiên cứu (Wang và cs., 2022). Ở Cần Thơ, khác biệt về tỉ lệ mổ lấy thai giữa nhóm có và không có rối loạn giấc ngủ theo PSQI không có ý nghĩa thống kê (50,2% so với 52,4%; p > 0,05) (Võ Ngọc Bảo Châu và cs., 2026). Kết quả của Lee và Gay (actigraphy) và kết quả Cần Thơ (PSQI) đo hai thứ khác nhau, và chỉ định mổ lấy thai phụ thuộc nhiều vào thực hành từng nơi SL.

Kết cụcPhơi nhiễmNguồn, thiết kếƯớc tính (KTC 95%)
GDMNgủ ngắnWang 2022, phân tích gộpOR 1,81 (1,35–2,44)
GDMNgủ < 7 giờ, actigraphyFacco 2017, thuần tập, 33 caaOR 2,06 (1,01–4,19)
GDMNgủ < 7 giờ, thêm hiệu chỉnh ngáyFacco 2017aOR 2,29 (0,97–5,39)
Sinh nonNgủ ngắnWang 2022, phân tích gộpOR 1,12 (0,93–1,34)
Sinh nonNgủ < 7 giờ, tự báo cáoFacco 2019, thuần tậpaOR 1,15 (0,92–1,44)
Sinh nonĐiểm giữa giấc ngủ sau 05:00Facco 2019, thuần tậpaOR 1,39 (1,08–1,80)
Sinh nonNgủ < 7 giờ, nhớ lạiJiang 2025, cắt ngangaOR 4,28 (3,06–6,00)
Mổ lấy thaiNgủ dàiWang 2022, 2 nghiên cứuOR 1,13 (1,04–1,22)
Mổ lấy thaiPSQI > 5Võ Ngọc Bảo Châu 2026, Cần Thơ50,2% so với 52,4% (p > 0,05)

Bảng 2. Giấc ngủ và kết cục thai kỳ. Mọi nghiên cứu là quan sát; không ước tính nào chứng minh quan hệ nhân quả.

Liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ trong thai kỳ#

Thử nghiệm trực tiếp#

Liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) gồm các kỹ thuật như hạn chế thời gian trên giường, kiểm soát kích thích và điều chỉnh suy nghĩ về giấc ngủ. Nền tảng của CBT-I ở người trưởng thành có ở Tập 7 — Y học giấc ngủ.

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) ở California tuyển 194 thai phụ tuần 18–32 từ phòng khám sản Stanford, Santa Clara Valley Medical Center và cộng đồng (Manber và cs., 2019). Nhóm can thiệp nhận 5 buổi CBT-I cá nhân. Nhóm chứng tích cực nhận 5 buổi giải mẫn cảm giả (pseudo-desensitization), ghép trải nghiệm ban đêm gây khó chịu với hình ảnh trung tính. Điểm ISI giảm từ 15,4 xuống 8,0 ở nhóm CBT-I và từ 15,9 xuống 11,2 ở nhóm chứng (d = 0,5; p < 0,001). Tỉ lệ thuyên giảm là 63,8% so với 51,9%, trung vị thời gian đến thuyên giảm 31 so với 48 ngày (HR 2,55; KTC 95% 1,51–4,32). Thử nghiệm do Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ tài trợ.

Nhóm chứng tích cực là điểm mạnh của thiết kế: số buổi gặp người hướng dẫn tương đương ở hai nhánh, vì vậy khác biệt khó quy hết cho việc được quan tâm SL. Nhưng actigraphy chỉ ghi nhận thời gian thức giảm trung bình khoảng 3 phút, trong khi thời gian thức theo nhật ký giảm rõ hơn ở nhóm CBT-I (Manber và cs., 2019). Điểm trầm cảm theo Thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale, EPDS) giảm nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê.

Thử nghiệm thứ hai dùng CBT-I số qua ứng dụng Sleepio, 6 buổi khoảng 20 phút, ở 208 thai phụ ≤ 28 tuần có triệu chứng mất ngủ tại Đại học California, San Francisco (Mỹ) (Felder và cs., 2020). Nhóm chứng là chăm sóc thông thường kiểu danh sách chờ. Sau 10 tuần, điểm ISI giảm nhiều hơn với cỡ hiệu ứng lớn (Cohen d = −1,03). Tỉ lệ thuyên giảm (ISI ≤ 7) là 44,0% so với 22,3% (p = 0,002), và 42,7% so với 28,6% ở mốc tuần 18 (p = 0,048). Thời lượng ngủ theo nhật ký không khác có ý nghĩa thống kê (p = 0,07). Thử nghiệm không đo khách quan, người tham gia và nhân viên không được che mù, mẫu chủ yếu là người da trắng có thu nhập và học vấn cao.

Thử nghiệm này có xung đột lợi ích: hãng Big Health, chủ của Sleepio, tặng mã truy cập, và một tác giả sở hữu quyền chọn cổ phần, làm cố vấn có thù lao cho hãng. Bài ghi biến cố bất lợi ở cả hai nhóm. Nhóm chứng có 1 thai chết lưu và 2 sẩy thai, được xếp là không liên quan. Nhóm CBT-I số có 3 sẩy thai trong ba tháng đầu, được xếp "có thể liên quan" đến việc tham gia; 1 người trong số đó đã sẩy thai trước khi bắt đầu chương trình.

Theo dõi sau sinh của cùng thử nghiệm cho thấy tỉ lệ thuyên giảm mất ngủ ở 6 tháng là 53,0% so với 35,2% (p = 0,02) (Felder và cs., 2022). Tỉ lệ có khả năng trầm cảm nặng ở 3 tháng là 3,96% so với 18,47% (p = 0,006), nhưng ở 6 tháng là 5,54% so với 10,73% (p = 0,22), không còn ý nghĩa thống kê. Điểm ISI chung không khác có ý nghĩa (p = 0,08). Tác giả gọi kết quả về trầm cảm là bằng chứng sơ bộ, cần thử nghiệm xác nhận. Giấc ngủ và trầm cảm sau sinh được bàn ở chương Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm.

Phân tích gộp#

Phân tích gộp 7 RCT ở phụ nữ chu sinh có mất ngủ cho thấy CBT-I giảm điểm ISI với cỡ hiệu ứng trung bình, hiệu số trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference, SMD) −0,62 (−0,77 đến −0,47; I² 28%) (Feng và cs., 2024). Ở lần theo dõi, SMD là −0,47 (−0,90 đến −0,03; I² 73%). Điểm PSQI giảm với SMD −0,82 (−1,27 đến −0,38), điểm EPDS giảm nhỏ với SMD −0,31 (−0,55 đến −0,06). Mọi kết cục là tự báo cáo; chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Can thiệp không dùng thuốc khác#

Một phân tích gộp RCT can thiệp không dùng thuốc trong thai kỳ gồm nghe nhạc, tập thể dục, thư giãn, vệ sinh giấc ngủ, bấm huyệt và một thử nghiệm bột hạt rau diếp (Paulino và cs., 2022). Tổng quan gồm 8 nghiên cứu (1.020 thai phụ), 6 RCT vào phân tích gộp (n = 623). Điểm PSQI giảm trung bình 3,03 điểm (hiệu số trung bình −3,03; −4,15 đến −1,92; I² = 84%). Nhóm nghe nhạc giảm 1,96 điểm (−3,27 đến −0,65), các can thiệp khác gộp lại giảm 3,66 điểm (−4,93 đến −2,40).

Độ chắc chắn của bằng chứng theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) là rất thấp cho mọi biến phân tích; riêng phần kết quả của bài ghi "thấp". Hầu hết thử nghiệm có nguy cơ sai lệch cao vì không che mù, và kết cục là PSQI tự báo cáo. Thử nghiệm hạt rau diếp ở Iran (mù đôi, 100 thai phụ mất ngủ, so với giả dược) không nêu chuẩn hoá hoạt chất. Bài không nêu nguồn tài trợ.

Đọc các thử nghiệm cùng nhau#

Hai thử nghiệm trực tiếp cho một khoảng cách: ISI cải thiện rõ ở cả hai. Ở thử nghiệm Manber, thời gian thức theo nhật ký giảm còn actigraphy chỉ giảm khoảng 3 phút. Thử nghiệm CBT-I số không đo khách quan và thời lượng ngủ theo nhật ký không khác có ý nghĩa thống kê (p = 0,07). Cỡ hiệu ứng còn phụ thuộc nhóm chứng: d = 0,5 so với nhóm chứng tích cực ở thử nghiệm Manber. Con số là d = 1,03 (bài ghi −1,03, dấu âm chỉ chiều giảm điểm) so với danh sách chờ ở thử nghiệm Sleepio. Vì vậy, hai con số không so trực tiếp được SL. Có ít nhất hai cách đọc. CBT-I có thể tác động lên cảm nhận và mức khó chịu về giấc ngủ nhiều hơn lên thời lượng. Hoặc actigraphy, vốn tính lúc nằm yên mà thức thành ngủ, không nhạy với loại thay đổi này SL.

Chúng tôi chưa tìm được RCT nào ở Việt Nam về can thiệp giấc ngủ dành riêng cho phụ nữ mang thai. Chương này cũng không thu thập dữ liệu về thuốc ngủ hay thuốc chống trầm cảm trong thai kỳ.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Bao nhiêu phụ nữ mang thai có mất ngủ hay ngủ kém?Rất thấp
Ngủ ngắn khi mang thai có đi kèm đái tháo đường thai kỳ và sinh non không?Rất thấp
Liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ trong thai kỳ có giảm mức độ mất ngủ tự báo cáo không?Vừa
Liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ trong thai kỳ có làm thay đổi giấc ngủ đo bằng actigraphy không?Thấp

Điều chưa biết#

  • Cấu trúc giấc ngủ theo tam cá nguyệt. Chúng tôi chưa thu được số liệu PSG theo từng tam cá nguyệt (tổng thời gian ngủ, giấc ngủ sóng chậm, REM, WASO). Tổng quan Garbazza 2020 chỉ đọc được tóm tắt, còn các nghiên cứu PSG kinh điển không mở được.
  • Toàn văn các phân tích gộp chính. Các phân tích gộp về RLS (Chen 2018), chất lượng giấc ngủ (Sedov 2018) và triệu chứng mất ngủ (Sedov 2021) chỉ đọc được tóm tắt, do đó thiếu khoảng tin cậy (Chen 2018, Sedov 2021) và tiêu chuẩn chẩn đoán.
  • Đo khách quan ở Việt Nam. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ bằng PSG hay actigraphy ở phụ nữ mang thai.
  • Chân không yên, ngưng thở và kết cục thai kỳ ở Việt Nam. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam về RLS, ngáy hay ngưng thở khi ngủ ở thai phụ, hay về liên quan giữa giấc ngủ với tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ trong mẫu Việt Nam.
  • Thử nghiệm can thiệp ở Việt Nam. Chúng tôi chưa tìm được RCT nào ở Việt Nam về CBT-I, vận động hay y học cổ truyền dành riêng cho phụ nữ mang thai.
  • Thuốc. Dữ liệu về thuốc ngủ và thuốc chống trầm cảm trong thai kỳ nằm ngoài phạm vi tập này.

Viết tắt trong trang

aOR
tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
CBT-I
liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
EPDS
thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale)
GDM
đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes mellitus)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
HR
tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RLS
hội chứng chân không yên (restless legs syndrome)
SMD
chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Giấc ngủ khi mang thai. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/giac-ngu-khi-mang-thai/