Chương này hỏi giấc ngủ thay đổi thế nào khi phụ nữ đi từ trước mãn kinh (premenopause) qua quanh mãn kinh (perimenopause) tới sau mãn kinh (postmenopause), và phần nào thuộc về mãn kinh, phần nào thuộc về tuổi. Trên bảng hỏi tự báo cáo, khó khăn giấc ngủ tăng theo giai đoạn. Trong thuần tập SWAN (Study of Women's Health Across the Nation) ở Hoa Kỳ, tỉ số chênh (odds ratio, OR) của thức giấc nhiều lần ở cuối quanh mãn kinh là 1,96 so với trước mãn kinh. Trên đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG), hai nghiên cứu dọc cỡ nhỏ không thấy thời lượng ngủ hay thời gian thức giữa đêm đổi theo giai đoạn; phần suy giảm đo được khớp với tuổi hơn. Cơn bốc hoả, khí sắc trầm và hormone đều liên quan với giấc ngủ nhưng chiều và độ lớn còn tranh cãi. Số liệu Việt Nam đều là cắt ngang, chủ yếu tự báo cáo, từ 68,5% đến 96,0% tuỳ cách đo.
Tỉ lệ khó khăn giấc ngủ theo giai đoạn#
SWAN xếp giai đoạn theo kiểu hành kinh, tương ứng hệ STRAW (Stages of Reproductive Aging Workshop); các nghiên cứu khác trong chương dùng định nghĩa riêng của từng bài. Quanh mãn kinh được tách thành đầu quanh mãn kinh (early perimenopause) và cuối quanh mãn kinh (late perimenopause). Một số nghiên cứu lấy mốc kỳ kinh cuối (final menstrual period, FMP) thay cho tên giai đoạn.
SWAN: tỉ số chênh theo giai đoạn#
SWAN là thuần tập tiến cứu đa sắc tộc do Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health, NIH) tài trợ, không có tài trợ của hãng (Kravitz và cs., 2008). Lúc vào nghiên cứu, 3.045 phụ nữ 42–52 tuổi được hỏi về khó vào giấc, thức giấc nhiều lần và thức dậy sớm trong 2 tuần qua. Có 30,8% báo cáo ít nhất một khó khăn từ 3 đêm mỗi tuần trở lên: 28,0% ở nhóm trước mãn kinh và 34,3% ở nhóm đầu quanh mãn kinh.
Qua 8 lần đo (20.407 lượt quan sát), OR của cả ba khó khăn ở cuối quanh mãn kinh đều cao hơn trước mãn kinh, nhưng không tăng đều qua mọi giai đoạn. Mô hình hiệu chỉnh sắc tộc, tuổi, dùng hormone, trầm cảm, lo âu, tiểu đêm, đau, thuốc hướng thần, chỉ số khối cơ thể (body mass index, BMI), hút thuốc và học vấn.
| Giai đoạn, so với trước mãn kinh | Khó vào giấc | Thức giấc nhiều lần | Thức dậy sớm |
|---|---|---|---|
| Đầu quanh mãn kinh | Không có ý nghĩa thống kê | 1,26 (1,08–1,47) | Không có ý nghĩa thống kê |
| Cuối quanh mãn kinh | 1,49 (1,08–2,06) | 1,96 (1,56–2,46) | 1,53 (1,17–2,01) |
| Sau mãn kinh tự nhiên, không dùng hormone | 1,77 (1,29–2,44) | 1,78 (1,42–2,23) | 1,19 (0,91–1,56) |
| Mãn kinh do phẫu thuật, không dùng hormone | 2,05 (1,21–3,49) | 2,04 (1,38–3,03) | 1,50 (0,96–2,33) |
| Sau mãn kinh, đang dùng hormone | 0,95 (0,57–1,57) | 1,13 (0,82–1,57) | 1,03 (0,70–1,53) |
Bảng 1. OR hiệu chỉnh (khoảng tin cậy, KTC 95%) trong SWAN; giấc ngủ tự báo cáo (Kravitz và cs., 2008; dòng cuối lấy từ bảng 3 của cùng bài; tổng kết El Khoudary và cs., 2019 diễn đạt khác, xem đoạn dưới).
Khó khăn giấc ngủ là kết cục phổ biến (30,8% lúc vào nghiên cứu), vì vậy OR ở đây không phải tỉ số nguy cơ và lớn hơn mức tăng tương đối của tỉ lệ SL. Nhóm mãn kinh do phẫu thuật nhỏ, khoảng tin cậy rộng. OR gần 1 ở người đang dùng hormone là so sánh quan sát: người tự chọn dùng hormone có thể khác người không dùng về triệu chứng và sức khoẻ SL. Tổng kết SWAN 2019 lại viết rằng ở phân tích dọc, hormone "không bảo vệ" phụ nữ sau mãn kinh khỏi rối loạn giấc ngủ, không khớp với bảng của bài gốc (El Khoudary và cs., 2019). Bằng chứng thử nghiệm, gồm liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I), nằm ở chương Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì.
Quanh kỳ kinh cuối và bốn quỹ đạo#
Một phân tích SWAN theo dõi 1.285 phụ nữ mãn kinh tự nhiên trong 2,9–17,1 năm (trung vị 15,3), trung bình 12,0 ± 2,8 lần đánh giá (Kravitz và cs., 2017). Tỉ lệ thức giấc nhiều lần từ 3 đêm mỗi tuần là 24,4% khi còn cách FMP hơn 2,5 năm. Tỉ lệ này là 33,6% từ 2,5 năm trước đến 1 năm sau FMP, và 40,3% khi đã qua FMP hơn 1 năm. Một phần mức tăng có thể trùng với tuổi tăng lên SL.
Bốn quỹ đạo thức giấc được tách ra: thấp (37,9%), trung bình (28,4%), tăng dần (15,3%) và cao (18,4%). Triệu chứng vận mạch (vasomotor symptoms, VMS: cơn bốc hoả, đổ mồ hôi đêm) thường xuyên liên quan với thức giấc ở cả ba giai đoạn; triệu chứng trầm cảm không còn ý nghĩa sau hiệu chỉnh. Tổng kết SWAN tóm lại: chỉ khoảng 15% phụ nữ có than phiền giấc ngủ tăng gắn với kỳ kinh cuối, các nhóm còn lại ổn định hoặc tăng tuyến tính phù hợp với lão hoá (El Khoudary và cs., 2019).
Triệu chứng hay rối loạn mất ngủ#
Tổng quan tường thuật của Baker, dẫn chủ yếu số liệu SWAN, ghi 40–60% phụ nữ báo cáo rối loạn giấc ngủ trong giai đoạn chuyển tiếp (Baker, 2023). Khoảng một phần tư phụ nữ có rối loạn nặng, ảnh hưởng chức năng ban ngày, đủ tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ. Phân biệt "có triệu chứng" với "rối loạn mất ngủ" giải thích một phần vì sao các tỉ lệ công bố chênh nhau SL.
Phân tích gộp 41 nghiên cứu quan sát cho tỉ lệ rối loạn giấc ngủ chung 51,6% (KTC 95% 44,6–58,5%), dị biệt rất cao (I² = 98,4%) và công cụ đo rất khác nhau (Salari và cs., 2023). Theo phân nhóm, tỉ lệ là 46,5% trước, 50,3% quanh và 54,7% sau mãn kinh, với khoảng tin cậy chồng lấn rộng. Tỉ lệ ở nhóm trước mãn kinh đã gần 50%, gợi ý phần lớn gánh nặng không riêng do mãn kinh SL. Một tổng quan hệ thống các nghiên cứu dọc, toàn bộ ở phương Tây, kết luận giai đoạn chuyển tiếp đi kèm nguy cơ rối loạn giấc ngủ tự báo cáo tăng nhẹ sau hiệu chỉnh nhiễu (Xu và cs., 2014).
So sánh giai đoạn trong cùng một mẫu#
Tỉ lệ giữa các nghiên cứu khó so vì khác thang đo và cách chọn mẫu; so giữa các giai đoạn trong cùng một nghiên cứu có ý nghĩa hơn. Hai nghiên cứu Hàn Quốc trong bảng dùng chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI).
| Nghiên cứu | Mẫu và cách đo | Trước mãn kinh | Quanh mãn kinh | Sau mãn kinh |
|---|---|---|---|---|
| K-Stori 2016, Hàn Quốc | 3.000 phụ nữ 45–64 tuổi, đại diện quốc gia; PSQI > 5 | 18,8% | 27,4% | 29,5% |
| Kangbuk Samsung, Hàn Quốc | 634 phụ nữ 44–56 tuổi không dùng hormone; PSQI > 5 | 14,4% | 18,2% | 30,2% |
| SWAN, Hoa Kỳ | 1.285 phụ nữ; thức giấc nhiều lần ≥ 3 đêm/tuần, theo mốc FMP | 24,4% | 33,6% | 40,3% |
| Phân tích gộp toàn cầu (không cùng mẫu) | 6, 6 và 13 nghiên cứu khác nhau cho ba giai đoạn; nhiều thang đo | 46,5% | 50,3% | 54,7% |
Bảng 2. Tỉ lệ khó khăn giấc ngủ theo giai đoạn trong từng nghiên cứu (Hwang và cs., 2021; Kim và cs., 2018; Kravitz và cs., 2017; Salari và cs., 2023). Với SWAN, ba cột là trước, quanh và sau FMP như định nghĩa ở trên.
Hình 1. Tỉ lệ khó khăn giấc ngủ theo giai đoạn mãn kinh trong ba nghiên cứu
- K-Stori 2016: 3.000 phụ nữ Hàn Quốc 45–64 tuổi, mẫu đại diện quốc gia; ngủ kém (PSQI > 5) 18,8% trước mãn kinh, 27,4% quanh mãn kinh, 29,5% sau mãn kinh. Sau hiệu chỉnh, OR 1,50 (1,07–2,11) cho quanh mãn kinh và 1,73 (1,26–2,39) cho sau mãn kinh so với trước mãn kinh (Hwang và cs., 2021).
- Kangbuk Samsung Health Study: 634 phụ nữ Hàn Quốc 44–56 tuổi không dùng liệu pháp hormone; 14,4%, 18,2% và 30,2% (Kim và cs., 2018).
- SWAN (Study of Women's Health Across the Nation): 1.285 phụ nữ Mỹ mãn kinh tự nhiên theo dõi tới 17 năm; tỉ lệ thức giấc nhiều lần từ 3 đêm/tuần trở lên theo thời điểm so với kỳ kinh cuối: 24,4%, 33,6% và 40,3% (Kravitz và cs., 2017).
Biểu đồ số liệu tự báo cáo. Ba nghiên cứu khác nhau về định nghĩa ngủ kém, cách chia giai đoạn và tuổi; xu hướng cùng chiều nhưng độ lớn không so trực tiếp được. Tăng theo giai đoạn không tách được hẳn khỏi tuổi.
K-Stori dùng PSQI, ngưỡng trên 5 điểm là ngủ kém (Hwang và cs., 2021). Sau hiệu chỉnh, quanh mãn kinh có OR 1,50 (1,07–2,11) và sau mãn kinh có OR 1,73 (1,26–2,39) so với trước mãn kinh. Nghiên cứu không có dữ liệu VMS.
Tự báo cáo và đa ký giấc ngủ: giai đoạn hay tuổi#
Hai nghiên cứu PSG dọc#
Nghiên cứu giấc ngủ của SWAN (SWAN Sleep Study) đo PSG tại nhà 3 đêm liền ở hai thời điểm cách nhau trung bình 3,58 năm. Nghiên cứu do NIH tài trợ (một tác giả tư vấn cho Merck, Eisai, Jazz và hãng khác) (Matthews và cs., 2021). Trong 159 phụ nữ, 38 người vẫn ở trước hoặc đầu quanh mãn kinh, 31 người sang cuối quanh mãn kinh và 90 người sang sau mãn kinh. Thời lượng ngủ toàn mẫu đi từ 6,39 lên 6,42 giờ. Thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) đi từ 47,41 lên 60,27 phút. Mức thay đổi của cả hai không khác có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm chuyển tiếp.
Ở Phần Lan, 60 phụ nữ trước mãn kinh, tuổi trung bình 46,0, được đo PSG lúc đầu và sau 6 năm (Lampio và cs., 2017). Sau hiệu chỉnh BMI, VMS và trầm cảm, tác giả kết luận suy giảm về độ liên tục và thời lượng giấc ngủ được giải thích bởi tuổi, không phải bởi giai đoạn mãn kinh. Sáu năm lão hoá đi kèm thay đổi tổng thời gian ngủ B −37,4 phút (KTC 95% −71,5 đến −3,3) và WASO B +37,7 phút (12,5–63,0). Mẫu nhỏ và chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.
Một mẫu cắt ngang đo PSG một đêm (phân nhóm nữ trong 1.324 người) cho tín hiệu khác: mãn kinh không dùng hormone đi kèm độ trễ vào giấc dài hơn và lượng giấc ngủ sâu thấp hơn (Bixler và cs., 2009). Đây là so sánh quan sát, không tách được tuổi khỏi giai đoạn.
Chỉ số tăng kích thích trên điện não#
Điều PSG dọc của SWAN thấy được là ở điện não đồ (electroencephalogram, EEG). Nhóm chuyển sang sau mãn kinh có công suất sóng beta (16–32 Hz) trong giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement, NREM) cao hơn ở lần đo thứ hai: ước lượng 0,117 (p = 0,005) (Matthews và cs., 2021). Kết quả giữ nguyên sau hiệu chỉnh VMS (0,118; p = 0,006). Nhóm cuối quanh mãn kinh không khác có ý nghĩa thống kê so với nhóm tham chiếu (0,061; p = 0,251). Tác giả diễn giải đây là tăng kích thích sinh lý trong giấc ngủ (hyperarousal); đó là chỉ số EEG, không phải triệu chứng. Tổng kết SWAN thì ghi công suất beta cao hơn ở cả cuối quanh mãn kinh lẫn sau mãn kinh, và cơn bốc hoả giải thích một phần (El Khoudary và cs., 2019).
Người ngủ ước lượng giấc ngủ của mình thế nào#
Ở 34 phụ nữ quanh mãn kinh đo PSG trong phòng thí nghiệm, phiếu hỏi buổi sáng ghi WASO 45,7 phút so với 60,1 phút trên PSG (de Zambotti và cs., 2014). Số lần thức tự báo cáo là 3,6 so với 26,6, và số cơn bốc hoả là 1,5 so với 3,5 mỗi đêm. PSG đếm cả những lần thức ngắn mà người ngủ không nhớ. Vì vậy, các thử nghiệm chỉ dùng nhật ký có thể đếm thiếu cơn bốc hoả ban đêm SL.
Ở mức nhóm, PSG vẫn cho thấy khác biệt giữa người có và không có rối loạn mất ngủ. Ở 20 phụ nữ đầu giai đoạn chuyển tiếp, 11 người mất ngủ có thời gian ngủ PSG ngắn hơn (p = 0,012) và WASO nhiều hơn (p = 0,031) so với 9 người không mất ngủ (de Zambotti và cs., 2015b). Hiệu quả giấc ngủ của họ cũng thấp hơn (p = 0,034), bất kể pha chu kỳ.
Vì sao hai cách đo kể hai câu chuyện#
Thang tự báo cáo cho OR khoảng 1,5–2 theo giai đoạn, trong khi PSG dọc ở 159 và 60 phụ nữ không thấy thời lượng hay WASO đổi theo giai đoạn. PSG ít đêm và mẫu nhỏ có thể thiếu độ nhạy. Cảm nhận giấc ngủ và mức tăng kích thích có thể đổi trước khi kiến trúc giấc ngủ đổi SL. Tự báo cáo dễ bị khí sắc và cơn bốc hoả chi phối. Chúng tôi xếp nhận định "mãn kinh làm giấc ngủ đo khách quan xấu đi" ở mức rất thấp, còn "phụ nữ báo cáo khó khăn giấc ngủ nhiều hơn qua giai đoạn chuyển tiếp" ở mức thấp, như hộp độ chắc chắn SL.
Cơn bốc hoả và thức giấc#
Trong SWAN, số ngày có VMS càng nhiều thì OR của cả ba khó khăn giấc ngủ càng cao, và VMS cùng giai đoạn mãn kinh đều liên quan độc lập với khó khăn giấc ngủ (Kravitz và cs., 2008). Với VMS 6–14 ngày trong 2 tuần so với không có, OR là 2,60 cho khó vào giấc, 2,93 cho thức nhiều lần và 2,16 cho thức sớm. Với VMS dưới 6 ngày, OR là 1,37; 1,31 và 1,35. Cả phơi nhiễm và kết cục đều tự báo cáo trên cùng một bảng hỏi, do đó có thể có sai lệch báo cáo chung.
Đo khách quan cho ba kết quả không cùng chiều. Freedman và Roehrs đo cơn bốc hoả bằng độ dẫn điện da vùng xương ức và đo PSG trong phòng thí nghiệm ở ba nhóm 46–51 tuổi (Freedman và Roehrs, 2004). Ba nhóm là phụ nữ sau mãn kinh có triệu chứng, sau mãn kinh không triệu chứng và phụ nữ còn kinh; người có ngưng thở và người dùng thuốc bị loại. Không chỉ số giấc ngủ nào khác có ý nghĩa giữa ba nhóm, dù nhóm có triệu chứng có 5,2 ± 2,9 cơn bốc hoả mỗi đêm. Trong vòng 2 phút quanh cơn bốc hoả, 46,7% vi thức xảy ra trước, 46,7% sau và 5,6% đồng thời. Với thức giấc, 55,2% xảy ra trước và 40,0% sau. Tóm tắt không nêu cỡ mẫu từng nhóm.
De Zambotti và cộng sự chọn 34 phụ nữ quanh mãn kinh có cơn bốc hoả ban đêm, đo PSG tổng 63 đêm với 222 cơn bốc hoả (de Zambotti và cs., 2014). Thời gian thức gắn với cơn bốc hoả trung bình 16,6 phút mỗi đêm (KTC 95% 10,8–22,4), chiếm 27,2% tổng WASO, dao động 0–89% giữa các đêm. Có 69,4% cơn bốc hoả đi kèm một lần thức giấc; chỉ 19,8% không xáo trộn giấc ngủ. Một tác giả nhận tài trợ từ Apnicure Inc., hãng thiết bị ngưng thở.
Trong một phân tích cắt ngang của SWAN Sleep Study, 343 phụ nữ 48–58 tuổi được đo PSG tại nhà và ghi VMS ban đêm vào nhật ký mỗi sáng (Kravitz và cs., 2011). Nghiên cứu do NIH tài trợ; một tác giả tư vấn cho nhiều hãng dược. Ngược kỳ vọng, VMS ban đêm đi kèm tổng thời gian ngủ dài hơn 22,29 phút (p = 0,001), và 21,58 phút (p = 0,002) ở mô hình hiệu chỉnh đầy đủ. VMS không liên quan với tỉ số sóng delta hay độ trễ giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM). Lo âu chỉ đi kèm độ trễ vào giấc dài hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn ở người có VMS ban đêm.
Bốn khác biệt có thể giải thích bất đồng. Về chọn mẫu, Freedman loại người có rối loạn giấc ngủ khác và dùng thuốc, còn de Zambotti chọn người có cơn bốc hoả ban đêm. Về cách đo, độ dẫn điện da kèm PSG khác nhật ký và bảng hỏi. Về chỉ số, so trung bình giữa nhóm khác phân tích từng cơn trong cùng một người. Về thứ tự, thức giấc có thể đi trước cơn bốc hoả, và liên quan về thời gian không chứng minh chiều nhân quả.
Ngưng thở khi ngủ là một nguyên nhân thức giấc khác cũng gắn với giai đoạn. Trong mẫu dân số Wisconsin gồm 589 phụ nữ đo PSG, sau mãn kinh đi kèm OR 2,6 (1,4–4,8) cho chỉ số ngưng thở – giảm thở (apnea–hypopnea index, AHI) ≥ 5 (Young và cs., 2003). Với AHI ≥ 15, OR là 3,5 (1,4–8,8); quanh mãn kinh không khác có ý nghĩa. Đây là OR cắt ngang với khoảng tin cậy rộng; chi tiết ở chương Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu.
FSH, estradiol, progesterone và khí sắc#
FSH: nhiều sóng chậm hơn hay nhiều thức giấc hơn#
Hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone, FSH) tăng dần trong giai đoạn chuyển tiếp. Trong thuần tập Phần Lan, FSH huyết thanh cao hơn đi kèm nhiều giấc ngủ sóng chậm (slow-wave sleep, SWS) hơn trên PSG (B 0,09; KTC 95% 0,01–0,16) (Lampio và cs., 2017). Ở 365 phụ nữ của SWAN Sleep Study, FSH tăng nhanh hơn trong 7 năm trước đó đi kèm tỉ lệ sóng delta cao hơn và tổng thời gian ngủ dài hơn (Sowers và cs., 2008). Cùng biến FSH đó lại đi kèm điểm PSQI kém hơn.
Một nghiên cứu phòng thí nghiệm cho chiều ngược lại (de Zambotti và cs., 2015a). Ở 17 phụ nữ quanh mãn kinh 43–52 tuổi không than phiền giấc ngủ, FSH cao hơn đi kèm WASO, số lần thức và vi thức nhiều hơn, độc lập với tuổi, BMI và cơn bốc hoả. Ở 16 phụ nữ có chẩn đoán mất ngủ, không thấy liên quan này. Estradiol không tương quan với giấc ngủ ở nhóm quanh mãn kinh. Nhóm so sánh còn kinh là 11 phụ nữ trẻ 18–27 tuổi, không phải phụ nữ trung niên trước mãn kinh; ở họ, estradiol tương quan nghịch với vi thức.
Nghiên cứu Sức khoẻ Phụ nữ Trung niên Seattle theo dõi 286 phụ nữ từ 1990 đến 2007 bằng lịch kinh, nhật ký triệu chứng và nước tiểu buổi sáng (Woods và Mitchell, 2010). Thức giấc ban đêm tự báo cáo liên quan với cuối giai đoạn chuyển tiếp và đầu sau mãn kinh, cơn bốc hoả, khí sắc trầm và FSH nước tiểu (cùng p < 0,001). Khó vào giấc liên quan với cortisol thấp hơn (p = 0,009). Ở một thuần tập đô thị Trung Quốc, FSH liên quan với triệu chứng mất ngủ (p = 0,031) (Luo và cs., 2020).
Bất đồng về FSH có thể do chỉ số khác nhau (nồng độ tại một thời điểm so với tốc độ thay đổi nhiều năm) và cỡ mẫu khác xa (17–60 người so với 365). Nơi đo, quần thể và cách đo giấc ngủ cũng khác. Sowers cho thấy cùng một biến FSH có thể đi kèm PSG tốt hơn và cảm nhận kém hơn cùng lúc.
Pha hoàng thể ở đầu giai đoạn chuyển tiếp#
Ở 20 phụ nữ đầu giai đoạn chuyển tiếp còn rụng trứng, mỗi người được đo PSG một đêm ở pha nang noãn và một đêm ở pha hoàng thể (de Zambotti và cs., 2015b). Pha hoàng thể, khi progesterone cao, đi kèm nhiều lần thức giấc mỗi giờ (p = 0,003) và nhiều vi thức mỗi giờ hơn (p = 0,025). WASO không khác có ý nghĩa (p = 0,087). Biến đổi theo chu kỳ ở phụ nữ trẻ hơn nằm ở chương Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ.
Khí sắc trầm hay cơn bốc hoả#
Phân tích gộp 12 nghiên cứu quan sát với 11.928 phụ nữ quanh mãn kinh thấy trầm cảm và cơn bốc hoả liên quan tương đương với rối loạn giấc ngủ (Zeng và cs., 2025). Trầm cảm có OR 2,73 (1,65–4,52; 4 nghiên cứu) và cơn bốc hoả có OR 2,70 (1,81–4,02; 5 nghiên cứu). Bệnh mạn tính có OR 1,39 và dùng thuốc hướng thần có OR 3,19. Phần lớn là nghiên cứu cắt ngang, do đó không xác định được chiều giữa trầm cảm và mất ngủ.
Các nghiên cứu riêng lẻ nghiêng về hai phía. Ở K-Stori, trầm cảm có OR 4,16 (3,32–5,22), mạnh nhất trong các yếu tố, nhưng nghiên cứu không đo VMS (Hwang và cs., 2021). Ở mẫu Hàn Quốc 634 người, điểm VMS (β = 0,240; p = 0,020) vẫn liên quan với PSQI sau khi hiệu chỉnh trầm cảm và căng thẳng (Kim và cs., 2018). Hồ sơ 1.451 phụ nữ ở một phòng khám mãn kinh Tokyo cho thấy mất ngủ liên quan chặt với khí sắc trầm hơn là với cơn bốc hoả (Terauchi và cs., 2010). Quỹ đạo SWAN thì thấy VMS liên quan, còn trầm cảm mất ý nghĩa sau hiệu chỉnh (Kravitz và cs., 2017).
Bất đồng có thể do K-Stori thiếu biến VMS, mẫu phòng khám gồm người tìm đến chăm sóc, có thể nhiều vấn đề tâm lý hơn cộng đồng, thiết kế cắt ngang so với dọc, và công cụ đo trầm cảm khác nhau. Liên quan giữa dùng thực phẩm chức năng và ngủ kém trong K-Stori (OR 1,72) có thể là nhân quả ngược: người ngủ kém tìm dùng SL.
Sắc tộc, phụ nữ châu Á và Việt Nam#
Khác biệt sắc tộc trong SWAN#
Trong SWAN Sleep Study, 368 phụ nữ (171 da trắng, 138 gốc Phi, 59 gốc Hoa) được đo PSG tại nhà (Hall và cs., 2009). Phụ nữ gốc Phi có giấc ngủ kém hơn phụ nữ da trắng cả về tự báo cáo, cấu trúc giấc ngủ và công suất EEG NREM, kể cả sau hiệu chỉnh kinh tế – xã hội. Giấc ngủ sóng chậm khác nhau giữa phụ nữ gốc Hoa và da trắng; tóm tắt không nêu chiều khác biệt. Căng thẳng tài chính đi kèm chất lượng và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn.
Tổng kết SWAN ghi trên PSG, phụ nữ gốc Phi ngủ ngắn hơn, vào giấc chậm hơn và hiệu quả thấp hơn phụ nữ da trắng và gốc Hoa (El Khoudary và cs., 2019). Với khác biệt đo bằng actigraphy (thiết bị đeo ghi cử động để ước tính ngủ–thức), khó khăn tài chính, vấn đề sức khoẻ và, ở phụ nữ da đen, cơn bốc hoả là các yếu tố trung gian chính. Theo tự báo cáo, phụ nữ da trắng lại than phiền nhiều nhất. Phụ nữ gốc Tây Ban Nha, gốc Hoa và gốc Nhật sinh tại Mỹ báo cáo nhiều than phiền hơn người cùng sắc tộc nhập cư thế hệ thứ nhất. Điều này gợi ý yếu tố văn hoá, môi trường hoặc cách báo cáo triệu chứng góp phần SL.
Thời gian kéo dài của VMS cũng khác theo sắc tộc, nhưng số liệu chỉ áp dụng cho phụ nữ có VMS thường xuyên (≥ 6 ngày trong 2 tuần trước), không phải mọi phụ nữ (Avis và cs., 2015). Trong 1.449 phụ nữ như vậy, trung vị là 7,4 năm: 4,8 năm ở gốc Nhật, 5,4 năm ở gốc Hoa, 6,5 năm ở da trắng, 8,9 năm ở gốc Tây Ban Nha và 10,1 năm ở gốc Phi. Nhóm gốc Hoa (95 người) và gốc Nhật (114 người) nhỏ. Ở 881 phụ nữ còn VMS sau kỳ kinh cuối, VMS kéo dài thêm trung vị 4,5 năm (chưa hiệu chỉnh).
Phụ nữ Đông Á, Đông Nam Á và Việt Nam#
| Nơi | Mẫu | Cách đo | Tỉ lệ |
|---|---|---|---|
| Hàn Quốc (K-Stori 2016) | 3.000 phụ nữ 45–64 tuổi, đại diện quốc gia | PSQI > 5 | 26% |
| Hàn Quốc (Seoul, Suwon) | 634 phụ nữ 44–56 tuổi đi khám sức khoẻ | PSQI > 5 | 19,4% |
| Hồng Kông | 305 phụ nữ gốc Hoa 45–55 tuổi, câu lạc bộ cộng đồng | PSQI > 5 | 26% |
| Tokyo, Nhật | 1.451 hồ sơ phòng khám mãn kinh | Không nêu trong tóm tắt | 50,8% |
| Đài Loan | 20.882 người gọi đường dây tư vấn mãn kinh | Triệu chứng tự báo cáo | 59,6% |
| Kuching, Malaysia | 356 phụ nữ 40–65 tuổi ở trạm y tế công | Một mục có/không của MRS | 52,2% |
| Thái Bình, Việt Nam | 296 phụ nữ 45–60 tuổi ở hai xã nông thôn | Một mục MRS | 96,0% |
| Thái Nguyên, Việt Nam | 610 phụ nữ sau mãn kinh khám tại một bệnh viện | Không nêu trong tóm tắt | 80% |
| Đồng Nai, Việt Nam | 381 phụ nữ sau mãn kinh khám phụ khoa tại một bệnh viện | PSQI > 5 | 68,5% |
Bảng 3. Tỉ lệ khó khăn giấc ngủ ở phụ nữ trung niên châu Á theo cách đo và cách chọn mẫu. MRS: Thang đánh giá mãn kinh (Menopause Rating Scale).
Các con số chia thành hai cụm: 19,4–26% với PSQI > 5 trong mẫu đại diện quốc gia và mẫu khám sức khoẻ ở Hàn Quốc, mẫu cộng đồng ở Hồng Kông (Kim và cs., 2018; Chung và Tang, 2006). Cụm thứ hai là 50,8–59,6% với một mục có/không hay than phiền triệu chứng, trong mẫu phòng khám hoặc người gọi đường dây tư vấn (Terauchi và cs., 2010; Lee và Lee, 2021; Rahman và cs., 2010). Nguyên nhân khả dĩ là công cụ đo, cách chọn mẫu, độ tuổi và giai đoạn. Ở Hồng Kông, giai đoạn mãn kinh không phải yếu tố dự báo độc lập; than phiền thể chất, triệu chứng tâm lý và căng thẳng đi kèm OR 4–6 trong thiết kế cắt ngang.
Dữ liệu dọc ở châu Á chúng tôi tìm được chỉ có một thuần tập đô thị Trung Quốc gồm 458 phụ nữ, tóm tắt chỉ báo giá trị p (Luo và cs., 2020). So với trước mãn kinh, khó vào giấc tăng ở giai đoạn chuyển tiếp (p = 0,029) và sau mãn kinh (p < 0,001). Mất ngủ trước mãn kinh dự báo mất ngủ trung bình–nặng về sau. Ở 154 phụ nữ sau mãn kinh tại Tây An, điểm PSQI trung bình là 8,58; người ngủ tốt có OR 0,51 (0,26–0,97) cho nguy cơ tim mạch Framingham 10 năm cao, trong một mẫu cắt ngang nhỏ (Chair và cs., 2017).
Ba nghiên cứu Việt Nam cho ba con số rất khác nhau, mỗi con số gắn với một cách đo. Ở 296 phụ nữ 45–60 tuổi tại hai xã huyện Vũ Thư (Thái Bình, 2020–2021), 96,0% có "vấn đề giấc ngủ" trên một mục của MRS, ngang tần suất cơn bốc hoả (96,3%) (Tran và Tang, 2023). Có 45,0% ở mức nặng – rất nặng, và điểm mục giấc ngủ (2,4 ± 1,2) cao hơn bốc hoả (2,0 ± 1,0). Một mục MRS tính cả mức nhẹ, không phải chẩn đoán mất ngủ; bài không phân theo giai đoạn và chỉ có thống kê mô tả.
Ở 381 phụ nữ đã mất kinh từ 12 tháng, không dùng nội tiết 3 tháng gần nhất, không làm ca đêm, khám tại Bệnh viện Đồng Nai 2, 68,5% (KTC 95% 63,6–73,1) có PSQI > 5 (Nguyễn và cs., 2025). Phần lớn ở mức 6–10 điểm (61,4%). Sau hồi quy đa biến, tập thể dục từ 3 buổi mỗi tuần đi kèm OR ngủ kém 0,54 (0,34–0,87). Trầm cảm từ mức vừa (OR 4,18; 1,67–10,47) và lo âu rất nặng (OR 6,83; 1,75–26,64) đi kèm ngủ kém; trầm cảm và lo âu đo bằng thang trầm cảm – lo âu – căng thẳng (Depression Anxiety Stress Scales, DASS-21). Bài không liệt kê đủ biến hiệu chỉnh và không thấy hiệu chỉnh BMI hay cơn bốc hoả. Liên quan với tập thể dục là quan sát: người ngủ kém có thể ít vận động hơn.
Ở 610 phụ nữ mãn kinh tự nhiên khám tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên (2025), khoảng 80% cho biết có rối loạn giấc ngủ; tóm tắt không nêu cách xác định (Hoàng và cs., 2026). Khi thẩm định MRS bản tiếng Việt ở 200 phụ nữ 50–59 tuổi, mục giấc ngủ có tương quan mục – tổng 0,74, cao nhất trong các mục cơ thể (Nguyen và cs., 2023). Con số này cao hơn bốc hoả và vã mồ hôi (0,68); cả thang có Cronbach's alpha 0,89.
Chênh lệch 68,5%, 80% và 96,0% có thể do định nghĩa (có triệu chứng bất kỳ trên MRS so với điểm PSQI), giai đoạn không phân theo STRAW, và mẫu cộng đồng so với phòng khám. Ba nghiên cứu đều ở một hoặc hai cơ sở, và không nghiên cứu nào đo giấc ngủ khách quan. Bức tranh chung nằm ở chương Giấc ngủ phụ nữ Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì.
Độ chắc chắn của các kết luận chính#
Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.
| Câu hỏi | Mức chắc chắn |
|---|---|
| Quanh và sau mãn kinh có đi kèm ngủ kém tự báo cáo hơn trước mãn kinh không? | Thấp |
| Đo bằng đa ký giấc ngủ, giấc ngủ có thay đổi theo giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh không? | Rất thấp |
| Cơn bốc hoả có làm thức giấc không? | Rất thấp |
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu PSG hay actigraphy nào về giấc ngủ quanh mãn kinh ở phụ nữ Đông Nam Á, kể cả Việt Nam; ngoài Việt Nam, ở Đông Nam Á chúng tôi chỉ tìm được một khảo sát MRS ở Malaysia.
- Dữ liệu dọc ở châu Á mới có một thuần tập đô thị Trung Quốc (n = 458) với tóm tắt chỉ có giá trị p; tổng quan các nghiên cứu dọc (Xu 2014) chỉ gồm nghiên cứu phương Tây.
- Chưa có nghiên cứu PSG dọc đủ lớn để tách tác động của giai đoạn mãn kinh khỏi tuổi; hai nghiên cứu hiện có gồm 159 và 60 phụ nữ.
- Chiều thời gian giữa cơn bốc hoả và thức giấc chưa rõ: trong một nghiên cứu phòng thí nghiệm, vi thức đi trước cũng nhiều như đi sau cơn bốc hoả.
- Một số nguồn chỉ đọc được tóm tắt: Lampio 2017, Freedman và Roehrs 2004 (không có cỡ mẫu từng nhóm), Hall 2009 (không nêu chiều khác biệt sóng chậm ở phụ nữ gốc Hoa), Sowers 2008 (không có hệ số).
- Chúng tôi chưa tìm được tỉ lệ ngưng thở khi ngủ đã hiệu chỉnh tuổi theo tình trạng mãn kinh ở phụ nữ châu Á.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào phân giai đoạn theo STRAW hay theo dõi dọc giấc ngủ qua giai đoạn mãn kinh.
Viết tắt trong trang
- AHI
- chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
- BMI
- chỉ số khối cơ thể (body mass index)
- CBT-I
- liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- FSH
- hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- NIH
- Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
- NREM
- giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- STRAW
- hệ phân giai đoạn lão hoá sinh sản (Stages of Reproductive Aging Workshop)
- SWAN
- Nghiên cứu Sức khoẻ Phụ nữ toàn quốc Mỹ (Study of Women's Health Across the Nation)
- SWS
- giấc ngủ sóng chậm (slow-wave sleep)
- VMS
- triệu chứng vận mạch (cơn bốc hoả, đổ mồ hôi đêm) (vasomotor symptoms)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/giac-ngu-quanh-man-kinh/