Chương này chỉ nói về Việt Nam và hỏi: về giấc ngủ của phụ nữ Việt Nam, điều gì đã có số đo, đo bằng thiết kế nào, và điều gì chưa có số đo. Kết luận chính là gần như mọi số liệu đều đến từ nghiên cứu cắt ngang, tự báo cáo, ở một trường hay một bệnh viện, với thang đo và điểm cắt khác nhau. Chỉ một nghiên cứu đo bằng thiết bị đeo; chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào dùng đa ký giấc ngủ, đo ngưng thở khi ngủ hay thử can thiệp dành riêng cho phụ nữ. Văn bản của Bộ Y tế nhắc giấc ngủ chủ yếu trong hướng dẫn về mãn kinh; các hướng dẫn sản khoa chúng tôi đọc được không nhắc. Chương không đề xuất chính sách; chỗ nào là suy luận của nhóm biên tập được gắn nhãn SL.
Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) là bảng hỏi tự báo cáo. Tỉ lệ theo hai thang không so trực tiếp được. Tỉ số chênh (odds ratio, OR) được ghi kèm khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) khi có. Khi kết cục phổ biến, như ngủ kém trong phần lớn các mẫu dưới đây, OR xa giá trị 1 hơn nhiều so với tỉ số nguy cơ tương ứng.
Theo giai đoạn đời#
Học sinh và nữ sinh viên#
Ở 285 học sinh Trường THPT Chuyên Hoàng Lê Kha (Tây Ninh, 2023), là nam đi kèm tỉ số chênh ngủ kém theo PSQI thấp hơn, OR 0,54 (KTC 95% 0,32–0,92), sau hồi quy đa biến (Trần Gia Huy và cs., 2025). Tóm tắt không ghi rõ nhóm tham chiếu; nếu là nữ, học sinh nữ trong mẫu này có khả năng ngủ kém cao hơn. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Ở 124 sinh viên Trường Đại học VinUni (Hà Nội, 2024), 81,5% có PSQI trên 5 (Nguyễn Châu Thành và cs., 2025). Tỉ lệ ở nữ khoảng 90,0%, ở nam khoảng 70,4%, do nhóm biên tập tính từ số đếm SL. Bài ghi χ² = 7,775 với p = 0,05. Bảng hai giới × hai mức PSQI dựng từ số đếm cho đúng χ² = 7,775, tức kiểm định có một bậc tự do SL. Khi đó p xấp xỉ 0,005, vì vậy con số trong bài có thể là lỗi in hoặc là ngưỡng p < 0,05 viết thiếu SL.
Ở 421 sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (81,2% nữ), 47,5% có PSQI trên 5 (An Thị Thuý Diệu và cs., 2026). Tỉ lệ ở nữ (48,0%) gần như bằng nam (45,6%), OR 1,10 (0,67–1,80), p = 0,702.
Ba nghiên cứu hỏi về giờ ngủ và triệu chứng kinh nguyệt cho kết quả không thống nhất. Ở 360 nữ sinh viên Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, chọn ngẫu nhiên, ngủ dưới 7 giờ mỗi ngày đi kèm hội chứng tiền kinh nguyệt với OR hiệu chỉnh 2,46 (1,25–4,84) (Lê Nguyễn Quỳnh Như và Nguyễn Thanh Hà, 2024). Ở 349 nữ sinh viên điều dưỡng một trường miền Bắc, giờ ngủ không tương quan có ý nghĩa với điểm triệu chứng kinh nguyệt (rs = −0,056 trước kỳ kinh) (Matsuura và cs., 2024). Ở 341 nữ sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội, giờ ngủ không liên quan có ý nghĩa với đau bụng kinh (p = 0,698) (Pham và cs., 2025). Cả ba đều cắt ngang và dùng giờ ngủ tự báo cáo.
Theo Công cụ sàng lọc hội chứng tiền kinh nguyệt (Premenstrual Symptoms Screening Tool, PSST), triệu chứng giấc ngủ trước kỳ kinh hay gặp nhất là ngủ nhiều, không phải mất ngủ. Ở 412 nữ sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội, 69,4% có triệu chứng ngủ nhiều ở mức bất kỳ, so với 44,4% có mất ngủ; tỉ lệ do nhóm biên tập tính từ bảng SL (Trần Thị Quỳnh Trang và cs., 2023). Ở 394 nữ sinh viên y khoa Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, các con số tương ứng là 75,4% và 43,7% (Nguyễn Thái Đông Nhi, 2026). Xem thêm chương Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ.
Người lao động và nhân viên y tế#
Ở 204 cán bộ, giảng viên Trường Đại học Duy Tân, tỉ lệ mất ngủ theo ISI là 47,6% ở nữ và 31,7% ở nam (Trần Thị Thuận và cs., 2024). Khác biệt còn ý nghĩa trong mô hình đa biến (B = −0,161; p = 0,036), nhưng biến hiệu chỉnh chưa rõ. Điểm cắt ISI ở đây là từ 15, cao hơn các nghiên cứu khác.
Ở 200 nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa huyện Thạch Thất (Hà Nội, 2024), 77% là nữ (Cấn Thị Như Quỳnh và cs., 2025). Tỉ lệ mất ngủ theo ISI ở nữ là 47,4%, ở nam 17,4%, với OR thô 4,28 (1,8–9,8). Sau hiệu chỉnh hôn nhân, chỉ số khối cơ thể (body mass index, BMI), vận động, sử dụng chất, bệnh mạn tính và căng thẳng, giới không còn ý nghĩa (nam OR 0,68; p = 0,33). Khác biệt thô có thể đi qua căng thẳng hay bệnh mạn tính, không nhất thiết do giới SL. Nghiên cứu không có biến làm ca đêm. Tỉ lệ mất ngủ chung 40,5% của mẫu này đã được dùng ở Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt.
Phụ nữ trong các mẫu người bệnh#
Bốn mẫu người bệnh cho kết quả theo giới không cùng chiều. Ở 231 người bệnh đái tháo đường típ 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, 69,0% nữ có PSQI trên 5, so với 41,5% nam, với OR hiệu chỉnh 3,00 (1,54–5,83) cho nữ (Nguyễn Thị Mai và cs., 2026). Với kết cục chiếm 55% mẫu, OR này không đọc được như tỉ số nguy cơ. Ở 50 người bệnh đái tháo đường nội trú tại Bệnh viện E, tỉ lệ ở nữ và nam gần như bằng nhau, 51,6% và 52,6% (Nguyễn Hữu Chiến và cs., 2025).
Ở 210 người bệnh hô hấp nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, tỉ lệ ngủ kém trước nhập viện ở nam là 70,1% và ở nữ là 57,9%. Khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,07) (Chu Thị Qui và cs., 2024). Ở 106 người mới chẩn đoán đái tháo đường tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, bảng ghi OR 0,13 cho "nữ so với nam", nhưng phần bàn luận viết nữ ngủ kém hơn (Nguyen Quang Bay và cs., 2026).
Lý do khả dĩ SL: hai trong bốn mẫu chỉ có phân tích thô, bệnh nền chi phối mẫu bệnh viện, cỡ mẫu nhỏ, và cách mã hoá OR không rõ. Khi có hiệu chỉnh, khác biệt giới biến mất ở Thạch Thất nhưng vẫn còn ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Ở Tập 12, mẫu cộng đồng Thái Bình cho tỉ lệ mất ngủ ở nữ 26,5% so với 19,0% ở nam. Phân tích khác biệt giới nói chung nằm ở chương Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào.
Thai kỳ#
Bốn nghiên cứu ở ba bệnh viện cho tỉ lệ ngủ kém hoặc mất ngủ khi mang thai từ khoảng một phần năm đến gần hai phần ba.
Ở 384 thai phụ tam cá nguyệt hai có nguy cơ cao tiền sản giật tại Bệnh viện Hùng Vương (TP.HCM), 21,6% (KTC 95% 17,6–26,1) có PSQI trên 5, hầu hết ở mức nhẹ (Nguyễn Thị Ngọc Thơ và Hoàng Thị Diễm Tuyết, 2025). Sau hồi quy đa biến, ngủ kém đi kèm lo âu (OR 2,62; 1,41–4,88) và ngừng dùng thiết bị điện tử chưa tới 1 giờ trước khi ngủ (OR 3,28; 1,71–6,33).
Ở 420 thai phụ khám ngoại trú tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ năm 2023 (65,5% ở ba tháng cuối), 40,2% có PSQI trên 5 (Trần Khánh Nga và cs., 2024). Các yếu tố đi kèm trong mô hình đa biến chủ yếu là tâm lý, gia đình và bệnh tật. Ví dụ là quan hệ kém với gia đình chồng (OR hiệu chỉnh 6,29; 3,38–11,70) và sàng lọc trước sinh bất thường (5,46; 2,22–13,47). Với kết cục chiếm 40,2% mẫu, các OR này không đọc được như tỉ số nguy cơ.
Cũng ở Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ, 380 phụ nữ có tỉ lệ PSQI trên 5 là 61,8% ở ba tháng cuối (Võ Ngọc Bảo Châu và cs., 2026). Khác biệt về tỉ lệ mổ lấy thai giữa nhóm có và không có rối loạn giấc ngủ không có ý nghĩa thống kê, 50,2% so với 52,4% (p > 0,05). Ở 244 thai phụ tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 26,23% có mất ngủ theo ISI từ 10 điểm (Võ Hoài Duy và cs., 2026). Viêm âm đạo và tiểu đêm thường xuyên đi kèm mất ngủ, với tỉ số chênh hiện mắc lần lượt 2,57 (1,24–5,37) và 2,95 (1,48–5,86). Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Lý do khả dĩ cho khoảng 21,6% đến 61,8% là tuổi thai: ba mẫu dùng PSQI > 5 có tỉ lệ cao dần theo tỉ trọng ba tháng cuối SL. Dù vậy, đây là so sánh giữa các mẫu khác nhau về quần thể, chưa phải số đo trong cùng một mẫu SL. Hai lý do khác là công cụ đo (PSQI hay ISI) và quần thể chọn lọc tại bệnh viện SL. Bối cảnh quốc tế ở chương Giấc ngủ khi mang thai.
Sau sinh#
Nghiên cứu duy nhất đo bằng thiết bị là nghiên cứu 197 bà mẹ 1 tháng sau sinh tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, đeo Fitbit Charge 6 (Kang và cs., 2026). Tổng thời gian ngủ, gộp cả ngủ ngày, là 5,4 giờ ở nhóm bú mẹ hoàn toàn và 5,6 giờ ở nhóm còn lại (p = 0,27). Ở Cần Thơ, tỉ lệ PSQI trên 5 sau sinh là 74,2% (Võ Ngọc Bảo Châu và cs., 2026).
Tỉ lệ có dấu hiệu trầm cảm theo Thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale, EPDS) khác nhau rất xa giữa ba mẫu sản phụ. Con số là 36,3% ở 223 sản phụ mắc COVID-19 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, với điểm cắt từ 9 (Nguyễn Thị Thu Hà và cs., 2024). Ở 205 sản phụ tại Vinmec Times City, con số là 46,8% (Ho Hoang Thu Phuong và cs., 2025). Ở mẫu TP.HCM, bài không công bố điểm cắt, và chỉ 2,5% được xếp "có trầm cảm bất kỳ". Phân tích chi tiết ở chương Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm.
Quanh và sau mãn kinh#
Ba nghiên cứu cho tỉ lệ vấn đề giấc ngủ từ 68,5% đến 96,0%, nhưng mỗi bài định nghĩa một kiểu.
Ở 296 phụ nữ 45–60 tuổi tại hai xã nông thôn huyện Vũ Thư (Thái Bình, 2020–2021), 96,0% có triệu chứng "vấn đề giấc ngủ" trên Thang đánh giá mãn kinh (Menopause Rating Scale, MRS) (Tran Thai Phuc và Tang Thi Hao, 2023). Tỉ lệ này ngang với cơn bốc hoả (96,3%), và 45,0% ở mức nặng – rất nặng. Đây là một mục tự báo cáo, tính cả mức nhẹ, không phải chẩn đoán mất ngủ, và mẫu không được phân theo giai đoạn mãn kinh theo hệ STRAW (Stages of Reproductive Aging Workshop).
Ở 381 phụ nữ sau mãn kinh khám phụ khoa tại Bệnh viện Đồng Nai 2, đã loại người dùng nội tiết và người làm ca đêm, 68,5% (KTC 95% 63,6–73,1) có PSQI trên 5 (Nguyễn Thị Hoàng Vân và cs., 2025). Sau hiệu chỉnh (bài không liệt kê đủ biến hiệu chỉnh, không thấy BMI hay cơn bốc hoả), tập thể dục từ 3 buổi mỗi tuần đi kèm OR ngủ kém 0,54 (0,34–0,87). Trầm cảm từ mức vừa trở lên đi kèm OR 4,18 (1,67–10,47), lo âu rất nặng OR 6,83 (1,75–26,64). Liên quan với tập thể dục là quan sát: người ngủ kém có thể ít vận động.
Ở 610 phụ nữ mãn kinh tự nhiên khám tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, khoảng 80% cho biết có rối loạn giấc ngủ (Hoàng Thị Ngọc Trâm và cs., 2026). Mục tiêu chính của bài là tuổi mãn kinh, và tóm tắt không nêu cách đo giấc ngủ.
Khi thẩm định MRS bản tiếng Việt ở 200 phụ nữ 50–59 tuổi, mục "vấn đề giấc ngủ" có tương quan mục – tổng cao nhất trong các mục cơ thể, 0,74, so với 0,68 của bốc hoả (Nguyen Thi My Hanh và cs., 2023). Trong mẫu này, 50% đã sau mãn kinh, 21% đang mãn kinh và 29% chưa mãn kinh theo phân loại của bài. Bối cảnh quốc tế ở chương Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh.
Phụ nữ cao tuổi#
Ở 440 phụ nữ từ 60 tuổi tại 16 khu ngoại ô nông thôn và thành thị (2014–2015), 38,9% có rối loạn giấc ngủ, và khó duy trì giấc ngủ là vấn đề thường gặp nhất (Dao-Tran và Seib, 2018). Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, vốn không nêu công cụ đo giấc ngủ.
Thang đo, điểm cắt và cơ sở nghiên cứu#
| Thang hay công cụ | Đo gì | Điểm cắt đã gặp | Tình trạng ở Việt Nam theo dữ kiện |
|---|---|---|---|
| PSQI | Chất lượng giấc ngủ chung, tự báo cáo | Trên 5; có bài dùng từ 5 | Nhiều bài ghi dùng bản tiếng Việt |
| ISI | Mức độ mất ngủ | Từ 10; 10 hay 11 ghi không thống nhất; từ 15 | Điểm cắt khác nhau giữa các bài |
| EPDS | Dấu hiệu trầm cảm sau sinh | Từ 9; không công bố | Không so được tỉ lệ giữa các bài |
| MRS | Triệu chứng mãn kinh, giấc ngủ là một mục | Một mục, mức nhẹ đến rất nặng | Bản tiếng Việt đã thẩm định ở 200 phụ nữ |
| PSST | Triệu chứng tiền kinh nguyệt, có mục mất ngủ và ngủ nhiều | Bốn mức | Có bản tiếng Việt |
| Thang chất lượng giấc ngủ sau sinh | Giấc ngủ 2 tuần đầu sau sinh | Thang liên tục 0–140 | Bài dùng bản Thổ Nhĩ Kỳ |
| Fitbit Charge 6 | Thời gian ngủ, thức, giai đoạn ngủ theo thuật toán | Không áp dụng | Chưa đối chiếu với đa ký giấc ngủ ở phụ nữ sau sinh |
Thang được thẩm định trong dữ kiện của chúng tôi là MRS bản tiếng Việt. Ở 200 phụ nữ 50–59 tuổi, Cronbach's alpha của toàn thang là 0,89 và hệ số tương quan nội lớp khi đo lại sau 2 tuần là 0,991 (Nguyen Thi My Hanh và cs., 2023). Với các thang khác, dữ kiện chỉ ghi bài dùng "bản tiếng Việt" hay bản nước ngoài, không kèm số liệu thẩm định. Bài ở Thái Bình ghi thang mục giấc ngủ của MRS là 0–5, trong khi MRS chuẩn là 0–4, có thể do lỗi in SL.
Về cơ sở nghiên cứu, gần như mọi nghiên cứu trong chương là một trường, một bệnh viện hay một khoa. Chỉ ba nghiên cứu không gắn với một cơ sở duy nhất: mẫu hai xã ở Thái Bình, mẫu 16 khu của phụ nữ cao tuổi, và nghiên cứu thẩm định MRS vốn không nêu địa điểm SL. Nhiều mẫu bệnh viện là bệnh viện tuyến cuối hay bệnh viện tư, nơi người có triệu chứng dễ đến khám hơn, vì vậy tỉ lệ có thể cao hơn cộng đồng SL.
Văn bản chính thức nói gì#
Hướng dẫn về mãn kinh#
Hướng dẫn quốc gia mới nhất chúng tôi tìm được của Bộ Y tế về chăm sóc sức khoẻ phụ nữ quanh tuổi mãn kinh, đối tượng 45–69 tuổi, là Quyết định 3977/QĐ-BYT ngày 30/12/2024 (Bộ Y tế, 2024b). Văn bản có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quyết định 3793/QĐ-BYT ban hành ngày 17/12/2024, chỉ 13 ngày trước. Trang luatvietnam.vn ghi ngày hết hiệu lực là "Đang cập nhật". Chưa xác định văn bản này có thay phần mãn kinh trong 4128/QĐ-BYT năm 2016 hay không. Hướng dẫn ghi tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Việt Nam là 48–50.
Lời nói đầu ghi Văn phòng đại diện Công ty Besins Healthcare tại Việt Nam, một hãng dược có sản phẩm nội tiết mãn kinh, đã hỗ trợ quá trình biên soạn. Thông tin này liên quan đến các nội dung về liệu pháp nội tiết và thực phẩm chức năng dưới đây.
Theo phần chúng tôi đọc được, hướng dẫn nhắc giấc ngủ ở bốn chỗ:
- Rối loạn giấc ngủ quanh mãn kinh được mô tả chủ yếu là hậu quả của cơn bốc hoả và vã mồ hôi đêm làm người phụ nữ thức dậy nhiều lần. "Mất ngủ, ngủ không sâu giấc" nằm trong nhóm triệu chứng thần kinh – tâm lý, kèm lưu ý chẩn đoán phân biệt với trầm cảm.
- Liệu pháp nội tiết mãn kinh được chỉ định cho phụ nữ quanh hoặc sau mãn kinh có rối loạn vận mạch từ trung bình đến nặng, ảnh hưởng đến giấc ngủ và chất lượng cuộc sống. Hướng dẫn cũng liệt kê "buồn ngủ" trong tác dụng không mong muốn.
- Mục liệu pháp tâm lý hỗ trợ nêu liệu pháp hành vi nhận thức đối phó với cơn bốc hoả và luyện thói quen đi ngủ vào cùng một thời điểm. Theo phần đọc được, hướng dẫn không trình bày liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) như một can thiệp riêng SL.
- Phần tư vấn ghi các thực phẩm chức năng như phytoestrogen, isoflavon "có hiệu quả" với các triệu chứng nhẹ và trung bình, gồm cả mất ngủ, nhưng không dẫn thử nghiệm cụ thể. Hướng dẫn chỉ nói chung có thể dùng thuốc không chứa nội tiết, không nêu tên nhóm thuốc nào.
Đây là thuật lại văn bản, không phải khuyến nghị của chúng tôi. Hướng dẫn không nêu ngưng thở khi ngủ hay chân không yên như nguyên nhân khác của ngủ kém sau mãn kinh, theo phần đã đọc SL; Phụ lục 1 chỉ có dạng ảnh và chưa được kiểm. So sánh với thử nghiệm và hướng dẫn quốc tế nằm ở chương Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh.
Tài liệu hướng dẫn chuyên môn về các bệnh sản phụ khoa ban hành kèm Quyết định 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 đã nêu mất ngủ là triệu chứng thần kinh – tâm lý của mãn kinh (Bộ Y tế, 2015). Văn bản giải thích vã mồ hôi thường xảy ra vào ban đêm và gây mất ngủ, khó chịu, và dùng từ "bốc nóng" thay vì "bốc hoả". Câu chữ này gần như được giữ nguyên trong 3977/QĐ-BYT SL. Tình trạng hiệu lực hiện nay của 315/QĐ-BYT chưa được xác minh.
Hướng dẫn sản khoa#
Trong 27 mục sản khoa của tài liệu 315/QĐ-BYT, gồm tiền sản giật, đái tháo đường và thai nghén, đẻ non, thai chết lưu, không có từ "ngủ" hay "mất ngủ" (Bộ Y tế, 2015). Từ "ngáy" chỉ xuất hiện dưới dạng ran ngáy khi nghe phổi.
Hướng dẫn quốc gia về sàng lọc và quản lý đái tháo đường thai kỳ (Quyết định 1470/QĐ-BYT ngày 29/5/2024) cũng không có các từ "ngủ", "giấc ngủ", "mất ngủ", "ngưng thở khi ngủ" hay "ngáy" (Bộ Y tế, 2024a). Từ "nghỉ ngơi" chỉ xuất hiện một lần, trong hướng dẫn làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Bản PDF đọc được lấy từ trang một bệnh viện tư.
Sở Y tế Khánh Hoà phổ biến 12 hướng dẫn chuyên môn về sức khoẻ bà mẹ – trẻ em ban hành năm 2024; xét theo tên, không văn bản nào có chủ đề giấc ngủ (Sở Y tế Khánh Hoà, 2025). Các văn bản liên quan đến phụ nữ trong danh mục là 1154/QĐ-BYT về tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, sản giật, cùng 1470/QĐ-BYT, 3082/QĐ-BYT, 3261/QĐ-BYT và 3977/QĐ-BYT. Chúng tôi chưa đọc được toàn văn 1154/QĐ-BYT, vì vậy chưa biết văn bản này có nhắc ngưng thở khi ngủ hay ngáy không.
Y văn quốc tế liên hệ ngủ ngắn và ngưng thở khi ngủ với đái tháo đường thai kỳ và tiền sản giật, nhưng các hướng dẫn sản khoa Việt Nam chúng tôi đọc được không đề cập giấc ngủ SL.
Câu hỏi và nguồn Việt Nam tốt nhất hiện có#
| Câu hỏi | Nguồn Việt Nam tốt nhất hiện có | Thiết kế | Giới hạn |
|---|---|---|---|
| Nữ có ngủ kém hơn nam không | Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (231 người bệnh); Thạch Thất (200 nhân viên y tế) | Cắt ngang, có hiệu chỉnh | Mẫu bệnh viện; kết quả sau hiệu chỉnh trái chiều |
| Thai phụ ngủ kém bao nhiêu | Cần Thơ 2023 (420 thai phụ, đủ ba tam cá nguyệt) | Cắt ngang, PSQI | Một bệnh viện; 65,5% ở ba tháng cuối |
| Bà mẹ sau sinh ngủ bao lâu | TP.HCM (197 bà mẹ) | Cắt ngang, Fitbit | Một bệnh viện; thiết bị chưa đối chiếu với đa ký giấc ngủ |
| Giấc ngủ và trầm cảm sau sinh | Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (223 sản phụ) | Cắt ngang, hỏi lại 2 tuần đầu | Mẫu mắc COVID-19; điểm cắt EPDS khác các bài khác |
| Phụ nữ sau mãn kinh ngủ kém bao nhiêu | Đồng Nai 2 (381 phụ nữ) | Cắt ngang, PSQI | Mẫu phòng khám phụ khoa |
| Triệu chứng giấc ngủ quanh mãn kinh ở cộng đồng | Vũ Thư, Thái Bình (296 phụ nữ) | Cắt ngang cộng đồng, một mục MRS | Tính cả mức nhẹ; không phân giai đoạn |
| Phụ nữ cao tuổi | 440 phụ nữ từ 60 tuổi, 16 khu | Cắt ngang | Số liệu 2014–2015; mới đọc tóm tắt |
| Văn bản chính thức nói gì | 3977/QĐ-BYT (2024) | Hướng dẫn quốc gia | Hãng dược hỗ trợ biên soạn; phụ lục chưa đọc được |
Độ chắc chắn của các kết luận chính#
Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.
| Câu hỏi | Mức chắc chắn |
|---|---|
| Ở Việt Nam, phụ nữ có ngủ kém hơn nam giới không? | Rất thấp |
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ khách quan bằng đa ký giấc ngủ hay actigraphy ở phụ nữ mang thai hay phụ nữ mãn kinh. Dữ liệu đo bằng thiết bị duy nhất là nghiên cứu Fitbit sau sinh ở TP.HCM.
- Chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam về ngưng thở khi ngủ, ngáy hay hội chứng chân không yên ở phụ nữ mang thai, hay về liên quan giữa giấc ngủ và tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ trong mẫu Việt Nam.
- Chưa tìm được thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nào ở Việt Nam về can thiệp giấc ngủ dành riêng cho phụ nữ mang thai, sau sinh hoặc mãn kinh.
- Chúng tôi chưa tìm được số liệu giấc ngủ riêng cho nữ công nhân, cũng chưa tìm được nghiên cứu tách riêng nữ điều dưỡng làm ca đêm.
- Chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam đo giấc ngủ của mẹ theo từng tập quán ở cữ như nằm than, kiêng gió hay nằm phòng kín.
- Chúng tôi chưa tìm được khảo sát quốc gia đại diện nào, ngoài khảo sát người cao tuổi đã dùng ở Tập 12, báo cáo tỉ lệ mất ngủ theo giới ở người trưởng thành Việt Nam.
- Chưa đọc được toàn văn hướng dẫn kèm 4128/QĐ-BYT (2016) và 1154/QĐ-BYT (2024), cũng như Phụ lục 1 của 3977/QĐ-BYT, vì vậy chưa biết các văn bản này có nhắc giấc ngủ hay ngưng thở khi ngủ không.
Viết tắt trong trang
- BMI
- chỉ số khối cơ thể (body mass index)
- CBT-I
- liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
- EPDS
- thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- STRAW
- hệ phân giai đoạn lão hoá sinh sản (Stages of Reproductive Aging Workshop)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Giấc ngủ phụ nữ Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/phu-nu-viet-nam-ngu-the-nao/