giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào

Chương 1 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 22 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi giấc ngủ của phụ nữ và nam giới khác nhau ở đâu, khác bao nhiêu, và các cách đo khác nhau có cho cùng một câu trả lời không. Kết luận chính là một nghịch lý: trong các phân tích gộp, nữ báo mất ngủ nhiều hơn nam, nhưng khi đo bằng đa ký giấc ngủ, nữ thường có nhiều giấc ngủ sóng chậm hơn và giấc ngủ liền mạch hơn. Khoảng cách về mất ngủ dường như xuất hiện quanh tuổi dậy thì, và độ lớn của nó thay đổi theo định nghĩa mất ngủ, nhóm tuổi và vùng địa lý. Một số khác biệt hay được nhắc, như mật độ thoi ngủ, chưa vững khi xem lại số liệu gốc. Ở Việt Nam, các mẫu đều nhỏ, phần lớn ở một cơ sở, và chiều của khác biệt giới không thống nhất giữa các mẫu.

Khung đọc: "nữ", "nam" và khác biệt trung bình#

Trong chương này, "nữ" và "nam" là cách phân loại của từng nghiên cứu. Bản thảo phân tích gộp về thoi ngủ ghi rõ là so sánh theo giới tính sinh học; với phần lớn nghiên cứu còn lại, dữ kiện không ghi bài dùng giới tính sinh học hay giới tự báo cáo. Chúng tôi giữ nguyên cách gọi của bài.

Mọi con số trong chương là khác biệt trung bình giữa hai nhóm lớn, không nói về từng người. Phân bố của hai nhóm chồng lên nhau nhiều: trong một mẫu người cao tuổi sống tại cộng đồng, hơn 70% cả nam lẫn nữ có ít nhất một triệu chứng mất ngủ (Jaussent và cs., 2011). Khác biệt trung bình cũng không cho biết nguyên nhân. Nó có thể đi qua hormone sinh dục, bệnh kèm, căng thẳng, vai trò xã hội, hoặc cách mỗi nhóm trả lời bảng hỏi SL.

Chương phân biệt ba loại số đo. Loại thứ nhất là tự báo cáo, gồm câu hỏi triệu chứng, chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI). Chặt hơn là phỏng vấn chẩn đoán theo DSM (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders). PSQI trên 5 điểm là "ngủ kém", không đồng nghĩa với rối loạn mất ngủ. Loại thứ hai là đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG), dùng để chấm giai đoạn ngủ. Loại thứ ba là phân tích phổ điện não đồ (electroencephalography, EEG). Phần nền về cách đo nằm ở Tập 9 — Đo giấc ngủ.

Ngưng thở khi ngủ là nơi khác biệt giới đi theo chiều ngược lại và phụ nữ dễ bị bỏ sót chẩn đoán; chủ đề này được bàn riêng ở chương Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu.

Mất ngủ: nữ nhiều hơn, nhưng bao nhiêu tuỳ định nghĩa#

Ba phân tích gộp, ba cách hỏi#

Phân tích gộp sớm nhất mà chúng tôi dùng là của Zhang và Wing năm 2006. Nhóm tác giả tìm được 31 bài, đưa 29 bài vào phân tích tổng, với 1.265.015 người (718.828 nữ, 546.187 nam). Mất ngủ được tự báo cáo theo nhiều định nghĩa khác nhau. Tỉ số nguy cơ (risk ratio, RR) nữ so với nam là 1,41 (khoảng tin cậy [KTC] 95%: 1,28–1,55) (Zhang và Wing, 2006). Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt của bài này.

Phân tích gộp năm 2020 hẹp hơn: chỉ nhận 13 nghiên cứu chẩn đoán mất ngủ theo DSM, ICSD (International Classification of Sleep Disorders) hoặc ICD (International Classification of Diseases). Cỡ mẫu gộp là 326.908 người (139.349 nữ, 187.559 nam). Tỉ số chênh (odds ratio, OR) nữ so với nam là 1,58 (KTC 95%: 1,35–1,85), tỉ lệ mất ngủ gộp chung 22,0% (KTC 95%: 17,0–28,0%) (Zeng và cs., 2020). Dị biệt giữa các nghiên cứu rất lớn (I² = 99,7%). Kiểm định Egger không thấy dấu hiệu sai lệch xuất bản (t = 1,06; p = 0,31).

Hai con số 1,41 (RR) và 1,58 (OR) không so trực tiếp được. Khi kết cục phổ biến như ở đây (tỉ lệ gộp 22,0%), OR thường xa giá trị 1 hơn RR tương ứng, vì vậy không đọc OR 1,58 như một tỉ số nguy cơ SL.

Phân tích gộp năm 2025 về tỉ lệ rối loạn mất ngủ trong dân số chung gồm 47 nghiên cứu (48 mẫu). Tỉ lệ gộp theo DSM là 13,9% (KTC 95%: 10,9–17,6%), và ước tính mà tác giả coi là chính xác nhất, từ phỏng vấn trực tiếp, là 12,4% (9,0–16,8%) (van Straten và cs., 2025). Trong 14 nghiên cứu dùng tiêu chuẩn DSM, 12 nghiên cứu có tỉ lệ ở nữ cao hơn nam. Bài không nhận tài trợ riêng.

NguồnĐịnh nghĩa mất ngủSố nghiên cứu, cỡ mẫuKết quả theo giớiGhi chú
Zhang và Wing, 2006Tự báo cáo, nhiều định nghĩa29 bài trong phân tích tổng; 1.265.015 ngườiRR 1,41 (1,28–1,55)Chỉ đọc tóm tắt
Zeng và cs., 2020Chẩn đoán theo DSM, ICSD, ICD13 nghiên cứu; 326.908 ngườiOR 1,58 (1,35–1,85)I² = 99,7%; tỉ lệ gộp 22,0%
van Straten và cs., 2025Rối loạn mất ngủ theo DSM47 nghiên cứu12/14 nghiên cứu DSM có nữ cao hơn; hồi quy theo % nam p = 0,94So sánh ở cấp nghiên cứu
Cao và cs., 2017Nhiều định nghĩa, dân số chung Trung Quốc17 nghiên cứu; 115.988 ngườiKhông thấy khác biệt có ý nghĩa theo giớiI² = 99,5%; tỉ lệ gộp 15,0%

Mâu thuẫn nhỏ: cấp nghiên cứu và cấp cá nhân#

Cũng phân tích gộp năm 2025 đó chạy hồi quy gộp (meta-regression) tỉ lệ mất ngủ theo tỉ lệ nam trong mẫu. Kết quả không cho thấy liên quan: b = 0,036, p = 0,94, k = 19 (van Straten và cs., 2025). Đọc vội, con số này có vẻ trái với RR 1,41 và OR 1,58.

Theo chúng tôi, đây không hẳn là mâu thuẫn thật SL. Tỉ lệ nam trong các mẫu chỉ dao động trong khoảng hẹp 27–57%, và chỉ có 19 điểm dữ liệu; do đó phép hồi quy có độ nhạy rất thấp. Hồi quy ở cấp nghiên cứu còn chịu sai lệch sinh thái: nó so các mẫu với nhau, không so người với người. Chính các tác giả viết rằng dữ liệu không đủ để kết luận về giới ở cấp người bệnh.

Khoảng cách theo tuổi#

Zhang và Wing ghi nhận mức trội ở nữ tăng dần theo tuổi, rõ nhất ở người cao tuổi, nhưng tóm tắt không nêu RR theo nhóm tuổi (Zhang và Wing, 2006). Phân tích gộp năm 2020 cho chiều ngược lại: OR là 1,86 (1,80–1,91) ở các nghiên cứu có tuổi trung bình từ 44,7 trở xuống, và 1,31 (1,12–1,53) ở các nghiên cứu trên 44,7 (Zeng và cs., 2020). Bài ghi khác biệt giữa các phân nhóm không có ý nghĩa thống kê, dù hai khoảng tin cậy không chồng lên nhau. Với phần đọc được, chúng tôi không giải thích được chỗ vênh này và không coi khác biệt theo tuổi là kết quả chắc SL.

Hai kết quả khác nhau vì nhiều lý do khả dĩ: định nghĩa rộng so với rối loạn được chẩn đoán, và RR so với OR. Zeng còn chia tuổi ở cấp nghiên cứu, theo trung vị của tuổi trung bình từng nghiên cứu, với ít điểm dữ liệu (13 so với 29 nghiên cứu). Vì vậy câu hỏi "khoảng cách giới có rộng ra theo tuổi không" chưa có lời đáp.

Ở 5.886 người từ 65 tuổi sống tại cộng đồng (2.673 nam, 3.213 nữ), khác biệt nằm ở kiểu triệu chứng nhiều hơn là ở việc có hay không (Jaussent và cs., 2011). Hơn 70% ở cả hai giới có ít nhất một triệu chứng, thường gặp nhất là khó duy trì giấc ngủ. Nữ thường có 2–3 triệu chứng cùng lúc, nam thường chỉ một. Ngáy to đi kèm khó duy trì giấc ngủ chỉ ở nam.

Cùng bài đó, ở nữ, dùng liệu pháp hormone, chế độ ăn Địa Trung Hải, cà phê và rượu đi kèm ít triệu chứng hơn. Thiết kế cắt ngang chỉ cho phép nói "đi kèm", dù tóm tắt dùng chữ "tác dụng bảo vệ"; đây không phải căn cứ để dùng hay không dùng hormone hay rượu. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Đông Á và Trung Quốc#

Zhang và Wing ghi nhận mức trội ở nữ thấp hơn tương đối ở Đông Á, nhưng tóm tắt không nêu con số (Zhang và Wing, 2006). Trong phân tích gộp năm 2020, OR nữ so với nam ở châu Á là 1,77, gần như ngang châu Âu (1,84) và Bắc Mỹ (1,75), còn châu Phi là 1,25 (Zeng và cs., 2020). Mỗi phân nhóm châu lục chỉ có ít nghiên cứu, và khác biệt giữa các châu lục không có ý nghĩa thống kê.

Phân tích gộp 17 nghiên cứu dân số chung ở Trung Quốc, với 115.988 người, cho tỉ lệ mất ngủ gộp 15,0% (KTC 95%: 12,1–18,5%) (Cao và cs., 2017). Phân tích phân nhóm không thấy khác biệt có ý nghĩa theo giới. Định nghĩa mất ngủ khác nhau giữa các nghiên cứu gốc và dị biệt rất cao (I² = 99,5%). Bài do Uỷ ban Đổi mới Khoa học và Công nghệ Thâm Quyến tài trợ.

Khảo sát dân số ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, gồm 25.827 người từ 12 tuổi, chọn theo cụm ở 135 điểm và phỏng vấn tại nhà (Tang và cs., 2017). Tỉ lệ ngủ kém (PSQI trên 5) ở nam là 26,3%, ở nữ 27,0% (p = 0,232). Điểm PSQI trung bình là 4,32 ± 2,70 ở nữ và 4,21 ± 2,64 ở nam (p = 0,003), một khác biệt rất nhỏ SL. Sau hiệu chỉnh tuổi, hôn nhân, học vấn, nơi ở, hút thuốc và uống rượu, OR ngủ kém của nữ là 1,367 (p < 0,001). Bài do Quỹ Khoa học Tự nhiên Trung Quốc tài trợ.

Bài Hồ Nam gọi PSQI trên 5 là "mất ngủ", nhưng đó là ngủ kém theo PSQI, không phải rối loạn mất ngủ được chẩn đoán. Khác biệt giữa các nguồn Đông Á có thể do định nghĩa, do so sánh thô so với hiệu chỉnh, và do cấu trúc tuổi của mẫu. Ở Hồ Nam, hút thuốc và uống rượu phân bố khác nhau giữa hai giới có thể giải thích một phần chênh lệch giữa số thô và số hiệu chỉnh SL.

Các mẫu Việt Nam#

Chúng tôi chưa tìm được khảo sát quốc gia đại diện nào báo cáo tỉ lệ mất ngủ theo giới ở người trưởng thành Việt Nam. Các số liệu dưới đây đến từ những mẫu nhỏ, phần lớn ở một trường hay một bệnh viện, và không đại diện cho cả nước. Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt đã trình bày một mẫu cộng đồng ở Thái Bình, trong đó tỉ lệ mất ngủ ở nữ là 26,5% so với 19,0% ở nam.

Mẫu (một cơ sở)Cỡ mẫuThang đoNữ so với namPhân tích
Cán bộ, giảng viên Đại học Duy Tân204ISI ≥ 1547,6% so với 31,7%Hồi quy tuyến tính đa biến, biến hiệu chỉnh chưa rõ (p = 0,036)
Sinh viên VinUni124PSQI > 590,0% so với 70,4% SLThô
Học sinh trường chuyên, Tây Ninh285PSQINam OR 0,54 (0,32–0,92)Đa biến
Nhân viên y tế, Thạch Thất200ISI47,4% so với 17,4%OR thô 4,28; hết ý nghĩa sau hiệu chỉnh
Sinh viên điều dưỡng, Phạm Ngọc Thạch421PSQI > 548,0% so với 45,6%OR thô 1,10 (0,67–1,80)
Đái tháo đường típ 2, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội231PSQI > 569,0% so với 41,5%OR hiệu chỉnh 3,00 (1,54–5,83)
Đái tháo đường típ 2, Bệnh viện E50PSQI > 551,6% so với 52,6%OR 0,96 (0,31–3,01)
Bệnh hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh210PSQI > 557,9% so với 70,1%p = 0,07
Mới mắc đái tháo đường típ 2, Bệnh viện Nội tiết Trung ương106PSQI ≥ 5Không xác địnhNhóm tham chiếu có thể bị đảo

Ở Đại học Duy Tân, tỉ lệ mất ngủ ở nữ là 47,6% (40/84), ở nam 31,7% (38/120) (Trần Thị Thuận và cs., 2024). Điểm cắt ISI từ 15 cao hơn các nghiên cứu khác, và tóm tắt tiếng Anh ghi 40,0% cho nữ, không khớp bảng kết quả. Ở VinUni, từ số đếm của bài (63/70 nữ, 38/54 nam), chúng tôi tính được 90,0% và 70,4% SL (Nguyễn Châu Thành và cs., 2025). Bài ghi χ² = 7,775 với p = 0,05. Bảng hai giới × hai mức PSQI dựng từ số đếm của bài cho đúng χ² = 7,775, tức kiểm định có một bậc tự do SL. Khi đó p xấp xỉ 0,005, vì vậy con số 0,05 có thể là lỗi in hoặc là ngưỡng p < 0,05 viết thiếu SL.

Ở trường chuyên Tây Ninh, tóm tắt không ghi nhóm tham chiếu, nhưng OR 0,54 cho nam gợi ý học sinh nữ ngủ kém nhiều hơn (Trần Gia Huy và cs., 2025). Đây là trường chuyên với áp lực học tập cao, khó khái quát.

Mẫu Thạch Thất cho thấy vì sao không đọc số thô thành khác biệt giới (Cấn Thị Như Quỳnh và cs., 2025). Tỉ lệ mất ngủ ở nữ là 73/154, ở nam 8/46, OR thô 4,28 (1,8–9,8). Sau khi hiệu chỉnh hôn nhân, chỉ số khối cơ thể, vận động, sử dụng chất, bệnh mạn tính và căng thẳng, giới không còn ý nghĩa (nam OR 0,68; p = 0,33). Khác biệt thô có thể đi qua các yếu tố như căng thẳng hay bệnh mạn tính, không nhất thiết do giới; đây là nhận xét của nhóm biên tập SL.

Ba mẫu người bệnh cho ba chiều khác nhau: nữ ngủ kém hơn rõ, kể cả sau hiệu chỉnh, ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (Nguyễn Thị Mai và cs., 2026). Ở Bệnh viện E, hai giới gần như bằng nhau, nhưng mẫu quá nhỏ (Nguyễn Hữu Chiến và cs., 2025). Ở người bệnh hô hấp tại Tâm Anh, nam cao hơn, không có ý nghĩa thống kê (Chu Thị Qui và cs., 2024).

Ở Bệnh viện Nội tiết Trung ương, bảng kết quả ghi OR 0,13 (0,02–0,82) cho "nữ so với nam" (Nguyen Quang Bay và cs., 2026). Chính các tác giả lại viết bệnh nhân nữ ngủ kém hơn và cho rằng nhóm tham chiếu bị đảo; chiều liên quan vì vậy không xác định được. Ở sinh viên điều dưỡng Phạm Ngọc Thạch, tỉ lệ ở hai giới gần như bằng nhau (An Thị Thuý Diệu và cs., 2026).

Gộp lại, trong năm mẫu Việt Nam có nữ ngủ kém hơn rõ, một mẫu chỉ có phân tích thô (VinUni) và bốn mẫu có mô hình đa biến (Duy Tân, Tây Ninh, Thạch Thất, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội). Khi hiệu chỉnh, khác biệt biến mất ở Thạch Thất nhưng còn ở ba mẫu kia, dù biến hiệu chỉnh ở Duy Tân và Tây Ninh không được nêu rõ SL. Mẫu bệnh viện chịu chi phối của bệnh nền. Cỡ mẫu nhỏ, nhóm tuổi và điểm cắt khác nhau, cách mã hoá OR không rõ ở vài bài. Chúng tôi chưa thể nói khoảng cách giới ở Việt Nam lớn hay nhỏ hơn các phân tích gộp SL.

Khác biệt xuất hiện quanh tuổi dậy thì#

Nếu khoảng cách giới về mất ngủ có mặt từ nhỏ, người ta sẽ nghĩ nhiều hơn đến yếu tố xã hội; nếu nó xuất hiện cùng dậy thì, hormone sinh dục trở thành một ứng viên SL. Hai nghiên cứu lớn ở vị thành niên cùng chỉ về phía thứ hai, nhưng cả hai đều là cắt ngang.

Nghiên cứu thứ nhất phỏng vấn chẩn đoán theo DSM-IV ở 1.014 vị thành niên 13–16 tuổi, chọn ngẫu nhiên từ một hệ thống bảo hiểm y tế vùng Detroit, Hoa Kỳ (Johnson và cs., 2006). Tỉ lệ mất ngủ suốt đời là 10,7%, và 88% người từng mất ngủ vẫn đang mất ngủ. Trước khi có kinh, nguy cơ mất ngủ ở nữ không khác nam. Khác biệt giới chỉ xuất hiện sau kỳ kinh đầu.

Theo chữ của tác giả, có kinh đi kèm "nguy cơ mất ngủ tăng 2,75 lần" trong một phân tích thăm dò; tóm tắt không nêu loại tỉ số lẫn KTC. Chúng tôi vì vậy thuật lại nguyên chữ, không coi đó là nguy cơ tương đối đã rõ. Thời điểm có kinh trùng với nhiều thay đổi tâm lý và xã hội, và thiết kế quan sát không tách được phần của hormone.

Nghiên cứu thứ hai khảo sát 7.507 trẻ và vị thành niên 6–17 tuổi ở 31 trường học Hồng Kông, có phân giai đoạn dậy thì theo Tanner (Zhang và cs., 2016). Triệu chứng mất ngủ được định nghĩa là khó vào giấc, khó duy trì giấc ngủ hoặc thức dậy sớm từ 3 lần mỗi tuần trong tháng qua. Từ Tanner 1 đến Tanner 5, tỉ lệ ở nữ tăng từ 3,4% lên 12,2%, ở nam từ 4,3% lên 9,1%. Tương tác giữa giới và giai đoạn Tanner có ý nghĩa (p < 0,001).

Tỉ số giữa tỉ lệ ở Tanner 5 và Tanner 1 là 3,6 ở nữ và 2,1 ở nam; đây là tỉ số giữa hai tỉ lệ hiện mắc do tác giả tính, không phải OR. Ưu thế ở nữ xuất hiện từ Tanner 4, sau khi hiệu chỉnh tuổi, thu nhập gia đình và giờ vào học. Giai đoạn Tanner cũng đi cùng thay đổi về thân thể, cảm xúc và cách người xung quanh đối xử, vì vậy vai trò của hormone vẫn là giả thuyết SL.

Đo bằng máy: nghịch lý của giấc ngủ "tốt hơn"#

Giấc ngủ sóng chậm và độ liền mạch#

Tổng quan năm 2016 của Mong và Cusmano gọi tên nghịch lý (Mong và Cusmano, 2016). Nữ ở nhiều lứa tuổi báo nhiều vấn đề giấc ngủ hơn nam, với nguy cơ mất ngủ suốt đời cao hơn khoảng 40%. Trong khi đó, các số đo khách quan cho thấy giấc ngủ của nữ sâu và liên tục hơn, và hoạt động sóng chậm cao hơn ở nữ ở mọi lứa tuổi.

Số liệu lớn nhất đến từ Sleep Heart Health Study, một thuần tập đa trung tâm ở Hoa Kỳ (Redline và cs., 2004). Trong phân tích cắt ngang 2.685 người 37–92 tuổi đo PSG, nam ngủ nông hơn nữ. Trung bình, nữ có lượng giấc ngủ sóng chậm nhiều hơn 106% so với nam. Mô hình có tính đến tuổi, giới, dân tộc, bệnh kèm và chỉ số rối loạn hô hấp. Tuổi cao đi kèm giấc ngủ suy giảm rõ ở nam, còn ở nữ mối liên quan kém nhất quán hơn.

Tóm tắt của bài được dựng lại từ chỉ mục OpenAlex. Giấc ngủ sóng chậm được chấm theo tiêu chuẩn biên độ Rechtschaffen và Kales, mà biên độ sóng delta lại chịu ảnh hưởng của độ dày hộp sọ. Một phần khác biệt vì vậy có thể đến từ kỹ thuật đo; đây là nhận xét của nhóm biên tập, chưa có nguồn xác nhận SL.

Một mẫu dân số chung ở Trung Pennsylvania, Hoa Kỳ, gồm 1.324 người không than phiền về giấc ngủ, đo PSG một đêm trong phòng thí nghiệm (Bixler và cs., 2009). Nữ có tỉ lệ thời gian ngủ cao hơn, ít giai đoạn 1 hơn và nhiều giấc ngủ sóng chậm hơn nam. Tóm tắt không nêu số trung bình. Một đêm PSG duy nhất chịu hiệu ứng đêm đầu, tức giấc ngủ kém đi vì môi trường lạ.

Bản thảo phân tích gộp năm 2026, chưa qua bình duyệt, gộp 13 nghiên cứu ở 668 người ngủ bình thường (Walsh và cs., 2026). Chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference, SMD; giá trị âm nghiêng về nữ) cho công suất delta là −0,50 (KTC 95%: −0,70 đến −0,30), từ 7 nghiên cứu với 407 người, I² = 0%. Tác giả đầu nhận học bổng SSHRC (Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn Canada).

Phía còn lại của mâu thuẫn là một nghiên cứu nhỏ ở Nam Phi: 8 nam và 16 nữ khoảng 21–22 tuổi đo PSG 7 giờ đầu đêm trong phòng thí nghiệm (Baker và cs., 2001). Tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm là 22% ở nam và 25–26% ở nữ chu kỳ tự nhiên, khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Nguyên nhân khả dĩ là cỡ mẫu nhỏ và tuổi trẻ: khác biệt giới về giấc ngủ sóng chậm rõ hơn ở tuổi trung niên và cao tuổi, khi giấc ngủ sóng chậm ở nam giảm nhanh.

Gộp lại, chiều "nữ có nhiều giấc ngủ sóng chậm hơn" được ủng hộ bởi hai mẫu lớn ở Hoa Kỳ và bản thảo phân tích gộp. Trang phương pháp xếp độ chắc chắn của kết luận này ở mức rất thấp, vì cả hai mẫu lớn chỉ đọc được tóm tắt, bản thảo chưa bình duyệt, và câu hỏi về kỹ thuật đo biên độ chưa được giải SL.

Thoi ngủ: chưa biết ai cao hơn#

Thoi ngủ (sleep spindle) là những chuỗi dao động ngắn trên điện não đồ trong giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement, NREM), mô tả bằng mật độ, biên độ và tần số đỉnh. Công suất dải sigma đo gián tiếp hoạt động vùng tần số này.

Một nghiên cứu ở 160 người trưởng thành (72 nữ, 88 nam, 17–69 tuổi, trung bình 29,7) đo PSG hai đêm liên tiếp và phân tích đêm thứ hai (Ujma và cs., 2014). Thoi ngủ được phát hiện bằng phương pháp điều chỉnh ngưỡng theo từng người. Nữ có biên độ thoi ngủ nhanh tại điện cực Cz lớn hơn (8,02 so với 6,81 μV; p = 0,0005) và tần số đỉnh cao hơn (13,92 so với 13,55 Hz; p = 0,00006). Ngược lại, mật độ thoi ngủ nhanh tại điện cực O2 ở vùng chẩm cao hơn ở nam (7,29 so với 6,76 mỗi phút; p = 0,002).

Các so sánh nam–nữ trong bài là kiểm định t độc lập thô, không hiệu chỉnh tuổi; chỉ phân tích tương quan với trí thông minh mới hiệu chỉnh tuổi. Bài không kiểm soát pha chu kỳ kinh, và cách xử lý người dùng thuốc tránh thai không rõ. Tương quan giữa thoi ngủ và trí thông minh chủ yếu thấy ở nữ, nhưng không nói gì về khác biệt năng lực giữa hai giới.

Bản thảo phân tích gộp năm 2026 thấy công suất sigma tuyệt đối cao hơn ở nữ: SMD −0,29 (KTC 95%: −0,50 đến −0,08), từ 5 nghiên cứu với 365 người, I² = 0% (Walsh và cs., 2026). Với mật độ thoi ngủ, chỉ có 2 nghiên cứu với 190 người để gộp. SMD là −0,65 nhưng KTC 95% đi từ −1,95 đến 0,66, cắt qua 0, với I² = 85%. Nói cách khác, mật độ thoi ngủ ở nữ có xu hướng cao hơn nhưng không có ý nghĩa thống kê, dù tóm tắt của bản thảo viết là "cao hơn".

Vì vậy chúng tôi không coi đây là mâu thuẫn chắc chắn giữa Ujma 2014 và bản thảo năm 2026. Ở mức gộp, chỉ công suất sigma khác có ý nghĩa thống kê. Khác biệt về mật độ có thể do vị trí điện cực, thuật toán phát hiện thoi ngủ và số nghiên cứu quá ít. Hoạt động dải thoi ngủ còn thay đổi theo pha chu kỳ kinh, và so sánh giới không kiểm soát pha có thể bị nhoè SL; xem chương Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ.

Nhịp sinh học và giờ ngủ#

Một thực nghiệm ở Anh dùng giao thức lệch pha cưỡng bức (forced desynchrony): 34 người (16 nam, 18 nữ) sống theo ngày 28 giờ trong 10 ngày (Santhi và cs., 2016). Bộ phép thử nhận thức 40 phút được lặp lại khoảng mỗi 3 giờ. Nữ có biên độ dao động theo nhịp sinh học lớn hơn ở 11/39 chỉ số hiệu suất, tức suy giảm nhận thức ban đêm nhiều hơn nam trong điều kiện này.

Biên độ melatonin ở nữ cũng lớn hơn: 82,62 ± 8,09 so với 59,49 ± 5,95 pg/mL (p < 0,035). Theo giờ ngủ tự báo cáo trước khi vào phòng thí nghiệm, nữ đi ngủ ngày nghỉ lúc 23:51 so với 01:02 ở nam (p = 0,01), và thức dậy lúc 08:35 so với 09:56 (p = 0,003). Khác biệt về thời lượng ngủ thường ngày không có ý nghĩa thống kê (p = 0,54).

Đây là thực nghiệm ngắn hạn, mẫu nhỏ; pha chu kỳ kinh không được kiểm soát, và 9 người nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết. Tài trợ đến từ BBSRC (Hội đồng Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Khoa học Sinh học Anh), Quỹ Gossweiler và Hội Hoàng gia Anh; tác giả không khai xung đột lợi ích. Phụ nữ làm ca đêm được bàn ở chương Làm ca đêm, chu kỳ kinh và khả năng sinh sản.

Hormone sinh dục: mô hình động vật và giới hạn khi suy ra người#

Mô hình động vật cho phép làm điều không làm được ở người: bỏ tuyến sinh dục rồi bổ sung từng hormone. Tổng quan của Mong và Cusmano tóm tắt các thực nghiệm ở chuột cống (Rattus) và chuột nhắt (Mus) có đo điện não và điện cơ (Mong và Cusmano, 2016).

Ở chuột cống cái đã cắt buồng trứng, bổ sung estradiol làm giấc ngủ NREM và giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) trong pha tối, tức pha hoạt động của chuột, giảm còn khoảng 45% mức nền. Ở chuột nhắt, tác dụng này yếu hơn; ở chuột đực, estradiol không có tác dụng đó. Ở loài gặm nhấm, cắt buồng trứng xoá các dao động giấc ngủ theo chu kỳ động dục, và khi không còn steroid sinh dục lưu hành, khác biệt giới về giấc ngủ biến mất. Cắt tinh hoàn không làm thay đổi đáng kể giấc ngủ ở chuột đực.

Từ chuột sang người có ba khoảng cách. Chuột hoạt động ban đêm và ngủ nhiều pha trong ngày. Chính các tác giả lưu ý tác dụng ức chế giấc ngủ của estradiol ở chuột có vẻ "nghịch lý" so với phụ nữ. Và thí nghiệm cắt tuyến sinh dục không có tương đương ở người khoẻ mạnh. Dữ liệu chuột cho biết hormone sinh dục có thể tạo ra khác biệt giới về giấc ngủ ở loài gặm nhấm, chưa cho biết phần đóng góp của chúng ở người SL.

Ở người, bằng chứng về hormone chủ yếu là gián tiếp. Một tổng quan tường thuật năm 2023 nhận định progesterone và các chất chuyển hoá của nó nhìn chung đi kèm tác dụng thúc đẩy giấc ngủ (Haufe và Leeners, 2023). Sự sụt giảm progesterone cuối pha hoàng thể đi kèm giấc ngủ bị gián đoạn, còn estrogen nội sinh không cho thấy tương quan rõ với thay đổi giấc ngủ theo chu kỳ. Cơ chế qua thụ thể GABA-A của allopregnanolone, một chất chuyển hoá của progesterone, mới là giả thuyết.

Các mảnh gián tiếp khác là thời điểm khoảng cách giới xuất hiện quanh kỳ kinh đầu, và thay đổi điện não theo pha chu kỳ. Ghép lại, chúng phù hợp với giả thuyết hormone sinh dục góp một phần vào khác biệt giới, nhưng không loại được vai trò của tâm lý, xã hội và bệnh kèm SL.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Phụ nữ có mất ngủ nhiều hơn nam giới không?Thấp
Đo bằng đa ký giấc ngủ, giấc ngủ của nữ có sâu hơn của nam không?Rất thấp

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được phân tích gộp đã bình duyệt về khác biệt giới trong cấu trúc giấc ngủ đo bằng PSG. Bản thảo năm 2026 về thoi ngủ và sóng chậm chưa qua bình duyệt.
  • Mật độ thoi ngủ ở nữ cao hơn hay thấp hơn nam vẫn chưa rõ: phép gộp chỉ có 2 nghiên cứu, và nghiên cứu lớn nhất so sánh thô, không kiểm soát pha chu kỳ kinh.
  • Chúng tôi không mở được toàn văn MESA Sleep (Multi-Ethnic Study of Atherosclerosis) của Chen và cộng sự, vì thế chưa có số PSG và actigraphy theo giới từ thuần tập này. Tóm tắt của Redline 2004, Bixler 2009 và Walsh 2026 được dựng lại từ chỉ mục OpenAlex, cần đối chiếu nguyên văn.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam hay Đông Nam Á nào đo khác biệt giới về giấc ngủ bằng PSG.
  • Chúng tôi chưa tìm được khảo sát quốc gia đại diện nào báo cáo tỉ lệ mất ngủ theo giới ở người trưởng thành Việt Nam. Điều tra sức khoẻ học sinh toàn cầu tại trường học (Global School-based Student Health Survey, GSHS) ở Việt Nam có câu hỏi "lo lắng đến mức không ngủ được" theo giới, nhưng chúng tôi chưa mở được báo cáo.
  • Ở các mẫu Việt Nam, khác biệt giới thô có còn sau hiệu chỉnh không mới được kiểm ở vài bài, với kết quả trái nhau. Chúng tôi chưa có số liệu giấc ngủ riêng của nữ công nhân.

Viết tắt trong trang

EEG
điện não đồ (electroencephalography)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RR
tỉ số nguy cơ, còn gọi là nguy cơ tương đối (risk ratio, relative risk)
SMD
chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/khac-biet-gioi-ve-giac-ngu/