giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ

Chương 2 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 21 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi giấc ngủ có thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt không, và điều gì xảy ra ở phụ nữ có hội chứng tiền kinh nguyệt, đau bụng kinh hoặc đang dùng thuốc tránh thai nội tiết. Khi đo bằng đa ký giấc ngủ, thay đổi lặp lại nhất ở pha hoàng thể là hoạt động dải thoi ngủ tăng, đi cùng nhiệt độ thân cao hơn. Tổng thời gian ngủ và hiệu quả giấc ngủ ở phụ nữ trẻ khoẻ mạnh hầu như không đổi. Phụ nữ có hội chứng tiền kinh nguyệt nặng cảm nhận giấc ngủ kém đi trước kỳ kinh dù máy đo không thấy thay đổi tương ứng. Đau bụng kinh đi kèm hiệu quả giấc ngủ và giấc ngủ cử động mắt nhanh (REM) thấp hơn trong đêm đau. Với thuốc tránh thai nội tiết, phân tích gộp không thấy thay đổi có ý nghĩa lâm sàng, trong khi một khảo sát tự báo cáo thấy nhiều than phiền hơn.

Khung đọc: các pha của chu kỳ và cách xác định pha#

Chu kỳ kinh nguyệt thường được chia thành pha nang noãn (follicular phase), từ ngày hành kinh đến rụng trứng, và pha hoàng thể (luteal phase), từ rụng trứng đến kỳ kinh sau. Ở pha hoàng thể, progesterone tăng cao rồi sụt xuống ở cuối pha. Các nghiên cứu trong chương phần lớn so sánh giữa pha nang noãn và pha hoàng thể, có khi thêm đêm hành kinh.

Cách xác định pha quyết định độ tin cậy của so sánh. Nghiên cứu chặt chẽ xác nhận rụng trứng bằng que thử hormone tạo hoàng thể (luteinizing hormone, LH) trong nước tiểu hoặc bằng progesterone, ví dụ ≥ 3 ng/mL (de Zambotti và cs., 2015b). Nghiên cứu lỏng hơn ước tính pha theo lịch. Đo cùng một người ở nhiều pha cho so sánh sạch hơn so sánh giữa các nhóm người khác nhau.

Phần lớn nghiên cứu trong chương ở phụ nữ trẻ trước mãn kinh (premenopause). Một nghiên cứu quan trọng lại ở phụ nữ quanh mãn kinh (perimenopause) còn rụng trứng. Họ ở giai đoạn đầu chuyển tiếp mãn kinh theo hệ phân giai đoạn STRAW (Stages of Reproductive Aging Workshop). Kết quả ở nhóm này có thể không áp dụng cho phụ nữ trẻ.

Một tổng quan tường thuật năm 2023 nhận định progesterone và các chất chuyển hoá của nó nhìn chung đi kèm tác dụng thúc đẩy giấc ngủ (Haufe và Leeners, 2023). Sự sụt giảm progesterone cuối pha hoàng thể đi kèm giấc ngủ bị gián đoạn, còn estrogen nội sinh không tương quan rõ với thay đổi giấc ngủ theo chu kỳ. Vai trò của allopregnanolone qua thụ thể GABA-A là giả thuyết, chưa phải cơ chế đã xác lập. Nhận định của tổng quan không khớp trọn với số đo đa ký giấc ngủ trong chương. Pha hoàng thể muộn, khi progesterone đã sụt, đi kèm thời gian thức sau khi đã ngủ tăng (Baker và cs., 2007), khớp với tổng quan. Ngược lại, pha hoàng thể khi progesterone cao đi kèm nhiều lần thức giấc hơn (de Zambotti và cs., 2015b) SL.

Khác biệt giới nói chung về giấc ngủ, kể cả thoi ngủ, được bàn ở chương Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào.

Pha hoàng thể trên đa ký giấc ngủ#

Thoi ngủ: thay đổi lặp lại nhất#

Thoi ngủ (sleep spindle) là những chuỗi dao động ngắn trên điện não đồ (electroencephalography, EEG) trong giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement, NREM). Công suất dải sigma là một cách đo gián tiếp hoạt động vùng tần số của thoi ngủ.

Nghiên cứu dày đặc nhất ghi đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) mỗi đêm thứ hai suốt một chu kỳ có rụng trứng, ở 9 phụ nữ trẻ không có hội chứng tiền kinh nguyệt, tổng cộng 138 đêm (Driver và cs., 1996). Rụng trứng được xác nhận bằng LH nước tiểu, nhiệt độ cơ thể và hormone. Tổng thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ, độ trễ vào giấc, độ trễ giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM), giấc ngủ sóng chậm và cảm nhận chủ quan không thay đổi có ý nghĩa.

Điều thay đổi là công suất EEG dải 14,25–15,0 Hz, tức vùng thoi ngủ: nó dao động lớn và đạt đỉnh ở pha hoàng thể, song song với nhiệt độ lõi cơ thể. Tác giả kết luận điều hoà cân bằng nội môi giấc ngủ, đo bằng hoạt động sóng chậm, không bị chu kỳ kinh ảnh hưởng đáng kể. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Kết quả tương tự xuất hiện ở các mẫu khác. Ở 21 phụ nữ 18–40 tuổi (9 người có hội chứng tiền kinh nguyệt, 12 người chứng), pha hoàng thể muộn đi kèm công suất sigma tăng (p < 0,01), mạnh nhất ở 14–15 Hz (Baker và cs., 2007). Ở 20 phụ nữ đầu chuyển tiếp mãn kinh, mật độ thoi ngủ cao hơn (p = 0,007) và thoi ngủ dài hơn (p = 0,037) ở pha hoàng thể (de Zambotti và cs., 2015b). Công suất 14–15 Hz và 15–16 Hz tăng (p < 0,001). Tần số đỉnh thoi ngủ tăng chỉ ở nhóm không mất ngủ (tương tác p = 0,018).

Một nghiên cứu ở Áo so sánh giữa các nhóm (Plamberger và cs., 2021). Mẫu có 62 phụ nữ khoảng 21–22 tuổi: 16 người ở pha nang noãn, 27 người ở pha hoàng thể và 19 người dùng thuốc tránh thai đường uống. Mật độ thoi ngủ nhanh (13–15 Hz) ở pha hoàng thể cao hơn pha nang noãn (p = 0,009). Progesterone nước bọt là 129,2 pg/mL ở pha hoàng thể và 70,6 pg/mL ở pha nang noãn. Pha được ước tính theo lịch. Nghiên cứu do Quỹ Khoa học Áo tài trợ.

Vai trò của progesterone trong thay đổi thoi ngủ là giả thuyết của tác giả, không được đo trực tiếp (de Zambotti và cs., 2015b).

Thức giấc và giấc ngủ REM#

Ở 21 phụ nữ trong nghiên cứu của Baker năm 2007, pha hoàng thể muộn đi kèm thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) tăng (p = 0,02) (Baker và cs., 2007). Ở phụ nữ đầu chuyển tiếp mãn kinh, pha hoàng thể đi kèm nhiều lần thức giấc (p = 0,003) và vi thức giấc (arousal) mỗi giờ hơn (p = 0,025). Khác biệt WASO ở nhóm này không có ý nghĩa (p = 0,087). Ở phụ nữ có rối loạn khí sắc tiền kinh và nhóm chứng, ngủ phòng thí nghiệm mỗi đêm thứ ba suốt một chu kỳ, REM giảm ở đầu pha hoàng thể (Shechter và cs., 2012).

Mâu thuẫn: giấc ngủ sóng chậm ở pha hoàng thể#

Driver năm 1996, Baker năm 2001 và Baker năm 2007 không thấy giấc ngủ sóng chậm khác giữa pha nang noãn và pha hoàng thể. Trong nghiên cứu năm 2001, tỉ lệ là 25% so với 26% (Baker và cs., 2001). Ngược lại, ở phụ nữ đầu chuyển tiếp mãn kinh, giấc ngủ sóng chậm (giai đoạn N3) tính theo phần trăm thời gian trên giường thấp hơn ở pha hoàng thể (p = 0,024) (de Zambotti và cs., 2015b). N3 giảm từ 12,4% xuống 10,5% ở nhóm mất ngủ, và từ 12,6% xuống 10,0% ở nhóm không mất ngủ.

Nguyên nhân khả dĩ có ba. Phụ nữ 43–53 tuổi, một nửa có mất ngủ, có giấc ngủ sóng chậm nền thấp và có thể nhạy hơn với progesterone. Đơn vị đo khác nhau: phần trăm thời gian trên giường so với phần trăm tổng thời gian ngủ. Và mọi nghiên cứu đều rất nhỏ.

Nghiên cứuMẫuCách xác định phaThoi ngủ ở pha hoàng thểGiấc ngủ sóng chậmThức giấc
Driver và cs., 19969 phụ nữ trẻ, 138 đêmLH, nhiệt độ, hormoneCông suất 14,25–15,0 Hz đạt đỉnhKhông thay đổi có ý nghĩa thống kêHiệu quả giấc ngủ không thay đổi có ý nghĩa thống kê; tóm tắt không nêu WASO
Baker và cs., 20018 phụ nữ chu kỳ tự nhiênKhông nêu (đo giữa pha nang noãn và giữa pha hoàng thể)Không nêu25% so với 26%Hiệu quả giấc ngủ 95% so với 94%
Baker và cs., 200721 phụ nữ 18–40 tuổiQue thử LHCông suất sigma tăng (p < 0,01)Không khác theo phaWASO tăng (p = 0,02)
de Zambotti và cs., 201520 phụ nữ đầu chuyển tiếp mãn kinhProgesterone ≥ 3 ng/mLMật độ tăng (p = 0,007)N3 giảm (p = 0,024)Số lần thức giấc tăng (p = 0,003)
Plamberger và cs., 202162 phụ nữ, so sánh giữa nhómTheo lịchMật độ thoi ngủ nhanh cao hơn (p = 0,009)N3 không khácWASO không khác

Nhiệt độ, nhịp tim và thiết bị đeo#

Nhiệt độ thân trong phòng thí nghiệm#

Một nghiên cứu ở Nam Phi ghi nhiệt độ trực tràng mỗi phút trong ít nhất 24 giờ, kèm PSG 7 giờ đầu đêm, ở ba nhóm 8 người khoảng 21–22 tuổi (Baker và cs., 2001). Ba nhóm là nữ chu kỳ tự nhiên, nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết và nam. Nhiệt độ trung bình 24 giờ là 37,0 °C ở pha nang noãn và 37,4 °C ở pha hoàng thể (p = 0,005); ở người dùng thuốc là 37,5 °C, ở nam 37,1 °C.

Mức giảm nhiệt độ ban đêm được đo bằng chỉ số đáp ứng nhiệt trong 7 giờ trên giường. Chỉ số này là −1,9 °C·giờ ở pha nang noãn, −1,5 ở pha hoàng thể, −2,8 ở người dùng thuốc và −4,2 ở nam (p = 0,0005). Nhiệt độ ban đêm ở phụ nữ chu kỳ tự nhiên giảm ít hơn so với ở nam. Mẫu rất nhỏ; nghiên cứu do Đại học Witwatersrand tài trợ.

Nhẫn đeo ngón tay theo dõi một chu kỳ tại nhà#

Một nghiên cứu ở California, Hoa Kỳ, theo dõi 26 phụ nữ khoẻ mạnh 18–35 tuổi (trung bình 24,4) qua một chu kỳ bằng nhẫn Oura, kèm nhật ký hằng ngày (Alzueta và cs., 2022). Rụng trứng được xác nhận bằng que thử LH nước tiểu; hormone không được đo. Nhiệt độ da ngoại vi và nhịp tim khi ngủ theo mô hình hai pha: cao hơn ở giữa và cuối pha hoàng thể so với khi hành kinh.

So với kỳ kinh, nhiệt độ da tăng 0,198 (khoảng tin cậy [KTC] 95%: 0,103–0,293) ở giữa pha hoàng thể và 0,242 (0,148–0,336) ở cuối pha, theo đơn vị của thiết bị (p < 0,001). Nhịp tim khi ngủ cao hơn 2,38 và 2,49 nhịp mỗi phút (p = 0,001). Chỉ số biến thiên nhịp tim phó giao cảm (root mean square of successive differences, rMSSD) cuối pha hoàng thể thấp hơn kỳ kinh 5,96 (sai số chuẩn 2,76; p = 0,034). Tuy vậy, mô hình tổng thể không có ý nghĩa (p = 0,13).

Giấc ngủ do nhẫn ước tính hầu như không đổi. Tổng thời gian ngủ trung bình là 7,04 giờ (độ lệch chuẩn 1,25); độ trễ vào giấc, WASO và các giai đoạn ngủ không thay đổi có ý nghĩa. Hiệu quả giấc ngủ giữa pha hoàng thể thấp hơn kỳ kinh 1,96 điểm phần trăm (p = 0,026), nhưng mô hình tổng thể không có ý nghĩa (p = 0,12). Chất lượng giấc ngủ tự báo cáo không đổi, còn triệu chứng cơ thể tăng khi hành kinh.

Giai đoạn ngủ do thuật toán thiết bị ước tính, kém chính xác hơn PSG. Nghiên cứu do Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) tài trợ; phần công bố không nhắc tới Oura, nhà sản xuất thiết bị. De Zambotti và Baker đồng sáng lập hoặc có cổ phần ở Lisa Health, và nhận tài trợ không liên quan từ Noctrix Health và Verily.

Không phải ai cũng thay đổi theo cùng một kiểu#

Trung bình nhóm có thể che các kiểu khác nhau giữa từng người. Van Reen và Kiesner theo dõi 213 phụ nữ (21,29 ± 4,01 tuổi) bằng bảng hỏi trực tuyến hằng ngày qua hai chu kỳ (Van Reen và Kiesner, 2016). Có nhóm khó ngủ tăng quanh kỳ kinh, có nhóm tăng giữa chu kỳ, và có nhóm không thay đổi. Khó ngủ liên quan với mọi triệu chứng tâm lý được khảo sát nhưng chỉ với khoảng một nửa triệu chứng cơ thể. Tóm tắt không nêu tỉ lệ mỗi nhóm.

Hội chứng tiền kinh nguyệt và rối loạn khí sắc tiền kinh: cảm nhận và đo#

Hội chứng tiền kinh nguyệt (premenstrual syndrome, PMS) là nhóm triệu chứng cơ thể và cảm xúc xuất hiện ở pha hoàng thể và giảm khi hành kinh. Rối loạn khí sắc tiền kinh (premenstrual dysphoric disorder, PMDD) là dạng nặng, chẩn đoán theo tiêu chuẩn DSM (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders). Chúng tôi chưa tìm được phân tích gộp nào về PMS, PMDD và giấc ngủ; bằng chứng hiện có là các nghiên cứu PSG rất nhỏ và các khảo sát tự báo cáo.

Cảm nhận kém đi, PSG không theo#

Nghiên cứu năm 2007 so 9 phụ nữ PMS nặng (5 người đạt tiêu chuẩn PMDD theo DSM-IV) với 12 phụ nữ không triệu chứng. Chỉ nhóm PMS tự đánh giá chất lượng giấc ngủ kém hơn ở pha hoàng thể muộn (p = 0,02) (Baker và cs., 2007). Cấu trúc giấc ngủ trên PSG không khác theo mức triệu chứng. Hiệu quả giấc ngủ ở nhóm PMS có xu hướng thấp hơn nhưng chưa đạt ngưỡng ý nghĩa (p = 0,06). Ở pha nang noãn, giấc ngủ sóng chậm là 16,8% ở nhóm chứng và 18,4% ở nhóm PMS. Tài trợ đến từ SRI International và Viện Sức khoẻ Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ (NICHD).

Nghiên cứu lớn hơn của cùng nhóm so 18 phụ nữ PMS nặng (30,5 ± 7,6 tuổi) với 18 phụ nữ ít triệu chứng. Kết quả cùng chiều: cảm nhận kém đi ở pha hoàng thể muộn, PSG không thay đổi tương ứng (Baker và cs., 2012). Nhóm PMS có lo âu nét tính cách, trầm cảm, mệt mỏi và căng thẳng cao hơn, và tác giả nhận định lo âu ảnh hưởng mạnh đến cách đánh giá giấc ngủ. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Khoảng cách giữa cảm nhận và số đo không có nghĩa là cảm nhận "sai". PSG đo cấu trúc giấc ngủ theo tiêu chuẩn chấm điểm; cảm giác ngủ không ngon còn phụ thuộc khí sắc, lo âu và triệu chứng cơ thể vào sáng hôm sau SL.

Mâu thuẫn: giấc ngủ sóng chậm ở phụ nữ PMS và PMDD#

Baker năm 2007 thấy phụ nữ PMS nặng có tần suất sóng delta thấp hơn nhóm chứng, như một đặc điểm nền không theo pha. Baker năm 2012 lại thấy nhóm PMS có nhiều giấc ngủ sóng chậm và hoạt động sóng chậm hơn nhóm chứng ở cả hai pha (Baker và cs., 2012). Ở 7 phụ nữ PMDD có mất ngủ pha hoàng thể và 5 người chứng, Shechter và cộng sự cũng thấy nhóm PMDD có nhiều giấc ngủ sóng chậm hơn, kèm melatonin thấp hơn (Shechter và cs., 2012).

Nguyên nhân khả dĩ là các bài đo những chỉ số khác nhau: tần suất sóng delta theo phân tích chu kỳ sóng, phần trăm giấc ngủ sóng chậm chấm điểm, hay công suất phổ. Mẫu rất nhỏ, chỉ 7–18 người mỗi nhóm. Shechter chỉ chọn phụ nữ PMDD có mất ngủ pha hoàng thể, và tỉ lệ người đạt PMDD trong nhóm PMS khác nhau giữa các bài.

Khảo sát dân số và trường học#

Trong khảo sát dịch tễ giấc ngủ São Paulo, Brazil (EPISONO), 72,6% trong 230 phụ nữ báo có PMS (Nicolau và cs., 2018). Nhóm này có chất lượng giấc ngủ tự báo cáo kém hơn, ngủ không phục hồi và mất ngủ dưới ngưỡng nhiều hơn. Trên PSG, tổng thời gian ngủ lại dài hơn và độ bão hoà oxy ngoại vi thấp hơn. PMS ở đây là tự báo cáo; tóm tắt không nêu biến hiệu chỉnh.

Ở 269 nữ sinh điều dưỡng Ấn Độ (19,06 ± 1,56 tuổi), 37,5% đạt tiêu chuẩn sàng lọc "có thể PMDD" (Lahan và cs., 2012). Nhóm này báo giấc ngủ trước kỳ kinh kém hơn, mệt mỏi ban ngày (χ² = 36,68) và buồn ngủ ban ngày (χ² = 18,16) nhiều hơn, p < 0,001. Sàng lọc PMDD dựa trên bảng hỏi hồi cứu, không ghi triệu chứng tiến cứu, vì vậy tỉ lệ 37,5% có thể bị thổi phồng. Phần giấc ngủ dùng bảng hỏi tự soạn bằng tiếng Hindi, chưa chuẩn hoá.

Một khảo sát 519 nữ sinh 15–18 tuổi ở Gyeonggi-do, Hàn Quốc, được làm trong thời kỳ COVID-19. Ngủ kém theo chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) đi kèm triệu chứng kinh nguyệt nặng hơn (Jeong và cs., 2023). Ngủ kém cũng đi kèm điểm triệu chứng tiền kinh cao hơn trên công cụ sàng lọc PSST (Premenstrual Symptoms Screening Tool), p < 0,01 sau hiệu chỉnh. Bài báo cáo hệ số hồi quy, không báo tỉ số chênh (odds ratio, OR). Thiết kế cắt ngang chỉ cho phép nói "liên quan".

Nữ sinh viên Việt Nam#

Ở Việt Nam, năm nghiên cứu ở nữ sinh viên đều cắt ngang, tự báo cáo, mỗi bài ở một trường; không bài nào đo giấc ngủ bằng thiết bị. Làm mốc, ở 421 sinh viên điều dưỡng Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, 47,5% ngủ kém theo PSQI, nữ 48,0% và nam 45,6% (An Thị Thuý Diệu và cs., 2026).

Ở 360 nữ sinh viên Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột, chọn ngẫu nhiên từ danh sách 1.512 người, 36,9% (133/360) có PMS theo PSST bản tiếng Việt (Lê Nguyễn Quỳnh Như và Nguyễn Thanh Hà, 2024). Trong đó 19/133 ở mức nặng. Ngủ dưới 7 giờ mỗi ngày đi kèm PMS với OR hiệu chỉnh 2,46 (KTC 95%: 1,25–4,84; p = 0,009). Vì PMS phổ biến, OR này không đọc thành nguy cơ tương đối. Có 51,9% báo mất ngủ trước kỳ kinh ở mức bất kỳ.

Hai mẫu khác dùng PSST cho cùng hình ảnh: trước kỳ kinh, "ngủ nhiều" gặp thường hơn "mất ngủ". Ở 412 nữ sinh viên Đại học Y Hà Nội, tỉ lệ là 69,4% so với 44,4% ở mức bất kỳ, do nhóm biên tập tính từ bảng SL (Trần Thị Quỳnh Trang và cs., 2023). Ở 394 nữ sinh viên y khoa Đại học Nguyễn Tất Thành, TP.HCM, là 75,4% so với 43,7% (Nguyễn Thái Đông Nhi, 2026). Ở Buôn Ma Thuột, ngủ nhiều ở mức bất kỳ khoảng 70,8% theo phép tính của nhóm biên tập SL.

Một nghiên cứu ở 349 nữ sinh viên điều dưỡng một trường đại học y công lập miền Bắc đã loại 25 người dùng nội tiết. Số giờ ngủ trung bình là 6,9 giờ mỗi ngày (độ lệch chuẩn 1,4) (Matsuura và cs., 2024). Số giờ ngủ không tương quan có ý nghĩa với tổng điểm bảng hỏi khó chịu kinh nguyệt (Menstrual Distress Questionnaire, MDQ), cả trước kỳ kinh (rs = −0,056) lẫn trong kỳ kinh (rs = −0,095). Giấc ngủ chỉ được hỏi bằng một câu về số giờ ngủ. Nghiên cứu do quỹ nhà nước Nhật Bản JSPS KAKENHI tài trợ.

Ba kết quả về thời lượng ngủ có vẻ trái nhau. Ở Buôn Ma Thuột, ngủ dưới 7 giờ đi kèm PMS. Ở trường miền Bắc, giờ ngủ không tương quan với điểm triệu chứng, và ở Đại học Y Hà Nội, không liên quan với đau bụng kinh (xem mục sau). Kết cục khác nhau, cách đo giờ ngủ thô, và cả ba đều cắt ngang; chiều liên quan có thể ngược lại, tức triệu chứng làm ngủ kém SL.

Đau bụng kinh#

Thử nghiệm chéo trong phòng thí nghiệm#

Bằng chứng duy nhất có thiết kế ngẫu nhiên trong chương là một thử nghiệm mù đôi, bắt chéo, có giả dược (Iacovides và cs., 2009). Đối tượng là 10 nữ sinh viên chưa sinh 21 ± 1 tuổi ở Nam Phi, đau bụng kinh nguyên phát nặng. Mỗi người ngủ ba đêm trong phòng thí nghiệm. Đó là một đêm pha nang noãn không đau, một đêm ngày kinh đầu dùng diclofenac (thuốc giảm đau chống viêm không steroid), và một đêm ngày kinh đầu dùng giả dược.

Chỉ số (PSG và thang tự đánh giá)Đêm không đauĐêm đau, giả dượcĐêm đau, diclofenac
Hiệu quả giấc ngủ97 ± 1%95 ± 3% (p < 0,05 so với không đau)97 ± 1% (p < 0,05 so với giả dược)
REM, % tổng thời gian ngủ26 ± 422 ± 5 (p < 0,05 so với không đau)26 ± 3 (p < 0,01 so với giả dược)
Chất lượng giấc ngủ tự đánh giá, mm70 ± 2056 ± 19 (không có ý nghĩa so với không đau)77 ± 15 (p < 0,05 so với giả dược)

Đêm đau dùng giả dược có hiệu quả giấc ngủ và REM thấp hơn đêm không đau. So sánh này không được phân ngẫu nhiên: đêm không đau ở pha nang noãn, đêm đau là ngày kinh đầu. Vì REM giảm khi hành kinh ở cả phụ nữ không đau bụng kinh (Baker và cs., 1999), một phần mức giảm REM có thể do pha chu kỳ; chỉ so sánh diclofenac với giả dược là ngẫu nhiên SL. Chất lượng giấc ngủ tự đánh giá trên thang điểm nhìn tương tự (visual analogue scale, VAS) đêm giả dược thấp hơn đêm không đau, nhưng không có ý nghĩa thống kê. Đêm diclofenac có hiệu quả giấc ngủ, REM và chất lượng tự đánh giá cao hơn đêm giả dược. Giấc ngủ sóng chậm và WASO không khác.

Sáu trên mười người dùng thuốc giảm đau cứu hộ trong đêm giả dược, không ai dùng trong đêm diclofenac. Không có nhóm chứng là phụ nữ không đau bụng kinh. Tài trợ đến từ Phòng thí nghiệm Giấc ngủ Wits Dial-a-Bed, Đại học Witwatersrand và Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Nam Phi, không từ công ty dược; một tác giả từng diễn thuyết cho Boehringer-Ingelheim. Đây là thuật lại một thử nghiệm 10 người, không phải khuyến nghị dùng thuốc.

Nghiên cứu bệnh–chứng và mẫu dân số#

Một nghiên cứu bệnh–chứng của cùng nhóm so 10 phụ nữ đau bụng kinh nguyên phát với 8 phụ nữ chu kỳ bình thường qua nhiều pha (Baker và cs., 1999). Nhóm đau bụng kinh có nhiệt độ thân trên giường cao hơn (p = 0,005), ít REM hơn (p = 0,03) và estrogen buổi sáng cao hơn (p = 0,005), kể cả ở những pha không đau. Ở cả hai nhóm, REM giảm ở pha hoàng thể và khi hành kinh (p = 0,001). Nghiên cứu do Quỹ Iris Ellen Hodges, Hội Giấc ngủ Nam Phi và Đại học Witwatersrand tài trợ.

Đêm hành kinh, hiệu quả giấc ngủ của nhóm đau bụng kinh là 88 ± 11%, so với 96 ± 2% ở các pha khác (tương tác p = 0,02); nhóm chứng là 95%. Chất lượng tự đánh giá là 48 ± 24 mm so với 65 ± 21 mm ở nhóm chứng (p = 0,04).

Ở quy mô dân số, dữ liệu EPISONO năm 2007 gồm 328 phụ nữ ở São Paulo đo PSG một đêm trong phòng thí nghiệm (Ishikura và cs., 2024). Phụ nữ đau bụng kinh có hiệu quả giấc ngủ 82,5% ± 13,8, so với 86,2% ± 10,9 ở người không đau, kèm mệt mỏi nhiều hơn; chỉ dấu viêm không khác. Tóm tắt không nói PSG ghi ở pha nào và không nêu biến hiệu chỉnh.

Ở 341 nữ sinh viên điều dưỡng 19–24 tuổi tại Đại học Y Hà Nội, 78,6% có đau bụng kinh nguyên phát (Pham và cs., 2025). Tỉ lệ đau bụng kinh không khác có ý nghĩa theo thời lượng ngủ tự báo cáo: 83,3% (5/6) ở nhóm dưới 4 giờ, 79,6% ở nhóm 4–7 giờ và 84,7% ở nhóm trên 7 giờ (p = 0,698). Có 11,2% người đau bụng kinh kể mất ngủ đi kèm. Bài ghi không thống nhất tỉ lệ đau bụng kinh (78,6% và 81,8%).

Thuốc tránh thai nội tiết#

Phân tích gộp: thay đổi nhỏ#

Một tổng quan hệ thống gộp 13 nghiên cứu, với 33 phép gộp (3 chủ quan, 30 PSG). Bài không thấy thuốc tránh thai nội tiết đi kèm thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về giấc ngủ (Bezerra và cs., 2023). Khác biệt có ý nghĩa thống kê duy nhất là WASO ngắn hơn ở người dùng: −7,12 phút (KTC 95%: −12,80 đến −1,44; I² = 65%; p = 0,01). Bài không phân biệt được loại progestin và đường dùng; tóm tắt không nêu tổng số người, và chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt. Một kết quả có ý nghĩa trong 33 phép gộp cũng có thể do so sánh bội SL.

Khảo sát và phòng thí nghiệm: tín hiệu khác chiều#

Một khảo sát trực tuyến ở phụ nữ 18–40 tuổi có 1.286 người đủ tiêu chuẩn phân tích (trên 2.055 người trả lời), trong đó 918 người đang dùng thuốc (Bezerra và cs., 2020). Người dùng báo nhiều than phiền hơn, với điểm thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale, ESS) và chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) cao hơn. Nhóm dùng thuốc thế hệ ba có tổng thời gian ngủ tự báo cáo ngắn hơn. Mẫu tự chọn trực tuyến.

Hai nghiên cứu phòng thí nghiệm nhỏ cho khác biệt riêng lẻ. Ở Nam Phi, người dùng thuốc có giấc ngủ sóng chậm 18%, so với 25–26% ở nữ chu kỳ tự nhiên và 22% ở nam (phân tích phương sai [ANOVA] chung, p = 0,045; 8 người mỗi nhóm) (Baker và cs., 2001). Hiệu quả giấc ngủ (95%, 94%, 92%, 91%) không khác biệt có ý nghĩa.

Ở Áo, thuốc là loại phối hợp ethinylestradiol với dienogest hoặc levonorgestrel (Plamberger và cs., 2021). Người dùng thuốc có mật độ thoi ngủ nhanh vùng trán cao hơn nhóm pha nang noãn (p = 0,002) và REM thấp hơn nhóm pha hoàng thể (p = 0,001), với progesterone nước bọt 58,4 pg/mL. Các chỉ số khác không khác.

Đọc mâu thuẫn#

Phân tích gộp chủ yếu dựa trên PSG không thấy thay đổi đáng kể, còn khảo sát tự báo cáo thấy nhiều than phiền hơn. Hai nghiên cứu phòng thí nghiệm nhỏ thấy ít giấc ngủ sóng chậm hoặc ít REM hơn. Nguyên nhân khả dĩ gồm đo chủ quan so với PSG, mẫu tự chọn, và nhiễu do chỉ định. Lý do dùng thuốc, như đau bụng kinh, mụn hay PMS, có thể tự nó liên quan đến giấc ngủ. Loại progestin, thế hệ thuốc, tuần dùng thuốc so với tuần nghỉ và cỡ mẫu cũng khác nhau.

Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào về thuốc tránh thai nội tiết và giấc ngủ; nghiên cứu ở trường miền Bắc nêu trên loại người dùng thuốc khỏi mẫu SL.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Giấc ngủ đo khách quan có thay đổi theo pha của chu kỳ kinh nguyệt không?Rất thấp
Phụ nữ có hội chứng tiền kinh nguyệt nặng có ngủ kém hơn khi đo bằng đa ký giấc ngủ không?Rất thấp
Thuốc tránh thai nội tiết có đi kèm thay đổi giấc ngủ không?Rất thấp

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được phân tích gộp nào về PMS, PMDD và giấc ngủ. Bằng chứng hiện có là các nghiên cứu PSG rất nhỏ, 7–18 người mỗi nhóm, và các khảo sát tự báo cáo.
  • Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm can thiệp nào nhằm vào giấc ngủ của phụ nữ PMDD hay đau bụng kinh, ngoài thử nghiệm thuốc giảm đau bắt chéo ở 10 người. Một thử nghiệm melatonin ở PMDD có trong danh sách tìm kiếm nhưng chưa được thu và chưa đọc được.
  • Mức tăng nhiệt độ lõi ở pha hoàng thể mới được đo trong các nghiên cứu phòng thí nghiệm rất nhỏ, 8 người mỗi nhóm, và chưa được kiểm ở mẫu lớn. Chúng tôi không mở được nghiên cứu nhiệt độ cơ thể nền trên rất nhiều chu kỳ của Bull và cộng sự.
  • Mâu thuẫn về giấc ngủ sóng chậm ở pha hoàng thể chưa được giải: chưa có nghiên cứu nào so sánh trực tiếp phụ nữ trẻ và phụ nữ quanh mãn kinh bằng cùng một quy trình SL.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam hay Đông Nam Á nào đo giấc ngủ theo pha chu kỳ, ở phụ nữ PMDD hay ở người dùng thuốc tránh thai nội tiết bằng PSG hay actigraphy. Các nghiên cứu Việt Nam hiện có chỉ hỏi số giờ ngủ hoặc triệu chứng giấc ngủ trong bảng PSST.
  • Với thuốc tránh thai nội tiết, chưa tách được tác động theo loại progestin, đường dùng và tuần dùng thuốc so với tuần nghỉ.

Viết tắt trong trang

EEG
điện não đồ (electroencephalography)
ESS
thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NIH
Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PMDD
rối loạn khí sắc tiền kinh nguyệt (premenstrual dysphoric disorder)
PMS
hội chứng tiền kinh nguyệt (premenstrual syndrome)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
STRAW
hệ phân giai đoạn lão hoá sinh sản (Stages of Reproductive Aging Workshop)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/chu-ky-kinh-nguyet-va-giac-ngu/