giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục D. Dữ kiện: Việt Nam

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 26 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 40 dữ kiện của nhánh Việt Nam đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b4-014) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương. Nhánh này chỉ thu thập nguồn Việt Nam và văn bản chính thức Việt Nam.

Dùng ở chương: Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-014Ở 204 cán bộ, giảng viên Trường Đại học Duy Tân (12/2023–7/2024), tỉ lệ mất ngủ theo Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) ở nữ là 47,6%, cao hơn nam (31,7%); khác biệt còn ý nghĩa trong mô hình đa biến.Mất ngủ (ISI ≥ 15): chung 38,2% (78/204); nữ 47,6% (40/84); nam 31,7% (38/120); OR hai biến (nam so với nữ) 0,51 (0,287–0,906), p = 0,021; mô hình đa biến: B = −0,161, p = 0,036NgườiCắt ngang mô tả kết hợp hồi cứu, chọn mẫu thuận tiện; mất ngủ đo bằng ISI tự báo cáo với điểm cắt cao (15–28 điểm = mất ngủ); OR hai biến; mô hình đa biến trình bày dạng hệ số B và t (hồi quy tuyến tính), biến hiệu chỉnh chưa rõ. Cỡ mẫu: n = 204 cán bộ, chuyên viên, giảng viên (41,2% nữ), Trường Đại học Duy TânTrần Thị Thuận và cs., 2024
b4-015Ở 124 sinh viên đa ngành Trường Đại học VinUni (Hà Nội, 2–4/2024), tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém (Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh, Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI > 5) là 81,5%; ở nữ khoảng 90% so với khoảng 70% ở nam.Chung 81,5% (101/124); nữ 63/70 (≈ 90,0%), nam 38/54 (≈ 70,4%) – tỉ lệ trong từng giới do nhóm biên tập tính từ số đếm; χ² = 7,775, bài ghi p = 0,05; với 1 bậc tự do, p ≈ 0,005 SLNgườiCắt ngang, khảo sát trực tuyến ẩn danh, chọn mẫu thuận tiện (124/250 mời trả lời đủ); PSQI > 5; Thang trầm cảm – lo âu – căng thẳng (Depression Anxiety Stress Scales, DASS-21); chỉ kiểm định khi bình phương hai biến, không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 124 sinh viên (70 nữ, 54 nam), Trường Đại học VinUni, Hà NộiNguyễn Châu Thành và cs., 2025
b4-024Ở 231 người bệnh đái tháo đường típ 2 khám ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (2025), tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém ở nữ là 69,0%, so với 41,5% ở nam; nữ giới đi kèm tỉ số chênh ngủ kém khoảng 3.PSQI > 5: chung 55% (127/231); nữ 69,0% (78/113); nam 41,5% (49/118); nữ OR 3,00 (1,54–5,83); tuổi ≥ 60 OR 1,93 (1,02–3,66); HbA1c ≥ 7% OR 1,96 (1,01–3,80)NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; PSQI > 5; hồi quy logistic đa biến (Bảng 4; OR giới 3,00 khác OR thô ≈ 3,14 nên là OR hiệu chỉnh). Cỡ mẫu: n = 231 người bệnh đái tháo đường típ 2 (48,9% nữ), Bệnh viện Đại học Y Hà NộiNguyễn Thị Mai và cs., 2026
b4-025Ngược lại, trong mẫu nhỏ 50 người bệnh đái tháo đường típ 2 nội trú tại Bệnh viện E (Hà Nội, 3–4/2024), tỉ lệ ngủ kém ở nữ và nam gần như bằng nhau.PSQI > 5: chung 52,0% (26/50); nam 52,6% (10/19); nữ 51,6% (16/31); OR 0,96 (0,31–3,01), p = 0,944NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; PSQI > 5; chỉ kiểm định hai biến, không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 50 người bệnh nội trú (62% nữ), Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện ENguyễn Hữu Chiến và cs., 2025
b4-026Ở 210 người bệnh hô hấp nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (Hà Nội, 2023), tỉ lệ ngủ kém trước nhập viện ở nam (70,1%) lại cao hơn nữ (57,9%), dù khác biệt không có ý nghĩa thống kê.PSQI > 5: chung 62,4% (131/210); nam 70,1%; nữ 57,9%; p = 0,07; điểm PSQI trung bình 7,2 ± 4,0NgườiCắt ngang mô tả có phân tích, chọn mẫu thuận tiện; PSQI bản tiếng Việt (> 5) hỏi về giấc ngủ trước nhập viện; hồi quy đa biến (ước lượng theo giới trình bày không rõ). Cỡ mẫu: n = 210 người bệnh ≥ 18 tuổi (63,3% nữ), Khoa Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, 3–8/2023Chu Thị Qui và cs., 2024
b4-035Ở 285 học sinh Trường THPT Chuyên Hoàng Lê Kha (Tây Ninh, 2–6/2023), là nam đi kèm tỉ số chênh ngủ kém thấp hơn (OR 0,54), nếu nhóm tham chiếu là nữ (tóm tắt không ghi rõ) thì học sinh nữ có khả năng ngủ kém cao hơn trong mẫu này.Nam OR 0,54 (KTC 95% 0,32–0,92) trong hồi quy logistic đa biếnNgườiCắt ngang; PSQI (tóm tắt không nêu điểm cắt); hồi quy logistic đa biến (không liệt kê biến hiệu chỉnh). Cỡ mẫu: n = 285 học sinh trường chuyên, Tây Ninh (tỉ lệ nữ không nêu trong tóm tắt)Trần Gia Huy và cs., 2025 (tóm tắt)
b4-036Ở 106 người mới chẩn đoán đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương (8/2024–7/2025), 67,9% có rối loạn giấc ngủ ít nhất mức nhẹ (PSQI ≥ 5). Giới là yếu tố có ý nghĩa trong mô hình (OR 0,13 cho "nữ so với nam"), nhưng chính tác giả viết rằng bệnh nhân nữ ngủ kém hơn ; nhóm biên tập cho rằng OR này nhiều khả năng do đảo nhóm tham chiếu – nên chiều liên quan theo giới không xác định được từ bài.PSQI ≥ 5: 67,9%; PSQI trung bình 6,86 ± 4,63; giới (nữ so với nam) OR 0,13 (0,02–0,82), p = 0,029; nữ 48,1% (51/106)NgườiCắt ngang 8/2024–7/2025; PSQI, điểm cắt ≥ 5 (khác điểm cắt > 5 thường dùng); hồi quy logistic từng bước tiến (đa biến, tập biến cuối không nêu rõ). Cỡ mẫu: n = 106 người bệnh mới chẩn đoán (48,1% nữ), Bệnh viện Nội tiết Trung ươngNguyen Quang Bay và cs., 2026

Dùng ở chương: Chu kỳ kinh nguyệt, thuốc tránh thai và giấc ngủ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-028Ở 421 sinh viên điều dưỡng đa khoa Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (81,2% nữ, 2024), 47,5% có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5); tỉ lệ ở nữ (48,0%) gần như bằng nam (45,6%).PSQI > 5: chung 47,5% (200/421); điểm trung bình 5,77 (độ lệch chuẩn, ĐLC 2,80); nữ 48,0% (164/342); nam 45,6% (36/79); OR 1,10 (0,67–1,80), p = 0,702NgườiCắt ngang mô tả, khảo sát trực tuyến; PSQI > 5; chỉ kiểm định hai biến (OR thô). Cỡ mẫu: n = 421 sinh viên điều dưỡng năm 1–4, TP.HCMAn Thị Thuý Diệu và cs., 2026
b4-029Ở 360 nữ sinh viên Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (10/2023–9/2024), 36,9% có hội chứng tiền kinh nguyệt (premenstrual syndrome, PMS); ngủ dưới 7 giờ/ngày đi kèm PMS với tỉ số chênh hiệu chỉnh 2,46; 51,9% có triệu chứng mất ngủ trước kỳ kinh ở mức bất kỳ.PMS 36,9% (133/360), trong đó 14,3% (19/133) mức nặng (rối loạn khí sắc tiền kinh, PMDD); ngủ < 7 giờ/ngày: OR hiệu chỉnh 2,46 (1,25–4,84), p = 0,009; mất ngủ (mọi mức) 51,9% (187/360); ngủ nhiều (mọi mức) ≈ 70,8% (255/360, tính của nhóm biên tập từ bảng)NgườiCắt ngang, chọn ngẫu nhiên đơn từ danh sách 1.512 nữ sinh viên; PMS đo bằng Công cụ sàng lọc hội chứng tiền kinh nguyệt (Premenstrual Symptoms Screening Tool, PSST) bản tiếng Việt; thời lượng ngủ tự báo cáo; hồi quy logistic đa biến. Cỡ mẫu: n = 360 nữ sinh viên chính quy ≥ 18 tuổi, Buôn Ma ThuộtLê Nguyễn Quỳnh Như và Nguyễn Thanh Hà, 2024
b4-030Ở 349 nữ sinh viên điều dưỡng một trường đại học y công lập ở tỉnh miền Bắc (2023; đã loại người dùng nội tiết), số giờ ngủ mỗi ngày không tương quan có ý nghĩa với tổng điểm triệu chứng kinh nguyệt cả trước và trong kỳ kinh.Ngủ trung bình 6,9 giờ/ngày (ĐLC 1,4); tương quan Spearman với tổng điểm MDQ: rs = −0,056 (trước kỳ kinh), rs = −0,095 (trong kỳ kinh), không có ý nghĩa thống kê; có triệu chứng 92,0% trước kỳ kinh và 98,9% trong kỳ kinhNgườiCắt ngang, khảo sát trực tuyến tự báo cáo 9–10/2023; triệu chứng đo bằng Bảng hỏi khó chịu kinh nguyệt (Menstrual Distress Questionnaire, MDQ) 46 mục; giấc ngủ chỉ là một câu hỏi số giờ ngủ/ngày; loại 25 người đang dùng nội tiết phụ khoa hoặc thuốc tránh thai nội tiết. Cỡ mẫu: n = 349 nữ sinh viên điều dưỡng (374 trả lời/433 mời), miền Bắc Việt NamMatsuura và cs., 2024
b4-031Ở 341 nữ sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội (1/2024), 78,6% có đau bụng kinh nguyên phát; thời lượng ngủ hằng ngày không liên quan có ý nghĩa với việc có đau bụng kinh, và 11,2% người đau bụng kinh kể mất ngủ là triệu chứng đi kèm.Đau bụng kinh 78,6% (268/341); có đau bụng kinh theo giờ ngủ: < 4 giờ 83,3% (5/6), 4–7 giờ 79,6%, > 7 giờ 84,7%; p = 0,698 (cả ba tỉ lệ theo giờ ngủ đều cao hơn 78,6%, khớp hơn với con số 81,8% bài ghi ở phần kết quả); mất ngủ đi kèm 11,2% (30/268)NgườiCắt ngang mô tả, bảng hỏi giấy tự điền 34 mục; thời lượng ngủ tự báo cáo theo nhóm; chất lượng sống đo bằng Q-LES-Q-SF (không có miền giấc ngủ). Cỡ mẫu: n = 341 nữ sinh viên điều dưỡng 19–24 tuổi, Hà NộiPham và cs., 2025
b4-037Ở 412 nữ sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội (10–12/2022), triệu chứng "ngủ nhiều" trước kỳ kinh gặp nhiều hơn "mất ngủ": 69,4% có ngủ nhiều ở mức bất kỳ so với 44,4% có mất ngủ.Ngủ nhiều: bất kỳ 69,4% (286/412), vừa – nặng 34,7%; mất ngủ: bất kỳ 44,4% (183/412), vừa – nặng 16,3% (tỉ lệ do nhóm biên tập tính từ Bảng 2)NgườiCắt ngang, chọn mẫu thuận tiện, khảo sát trực tuyến; triệu chứng đo bằng PSST tự báo cáo (4 mức); không phân tích liên quan giữa giấc ngủ và PMS. Cỡ mẫu: n = 412 nữ sinh viên 18–25 tuổi, năm 1–6, Trường Đại học Y Hà NộiTrần Thị Quỳnh Trang và cs., 2023
b4-038Kết quả tương tự ở 394 nữ sinh viên y khoa Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (TP.HCM): 75,4% có triệu chứng ngủ nhiều trước kỳ kinh ở mức bất kỳ (48,7% mức vừa – nặng), trong khi mất ngủ là một trong ba triệu chứng ít gặp nhất (43,7%).Ngủ nhiều: bất kỳ 75,4% (297/394), vừa – nặng 48,7%; mất ngủ: bất kỳ 43,7% (172/394), vừa – nặng 17,5%NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu phân tầng theo khoá; PSST bản tiếng Việt (4 mức); giấc ngủ không được đưa vào mô hình hồi quy. Cỡ mẫu: n = 394 nữ sinh viên y khoa, TP.HCMNguyễn Thái Đông Nhi, 2026

Dùng ở chương: Làm ca đêm, chu kỳ kinh và khả năng sinh sản#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-027Ở 200 nhân viên y tế (77% nữ) tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thạch Thất (Hà Nội, 3–8/2024), tỉ lệ mất ngủ theo ISI ở nữ là 47,4% so với 17,4% ở nam (OR thô khoảng 4,3), nhưng sau hiệu chỉnh đa biến giới không còn ý nghĩa.Mất ngủ: nữ 47,4% (73/154); nam 17,4% (8/46); OR thô (nữ so với nam) 4,28 (1,8–9,8), p < 0,0001; mô hình đa biến: nam OR 0,68, p = 0,33NgườiCắt ngang; ISI tự báo cáo (điểm cắt ghi không thống nhất 10 hay 11); hồi quy logistic đa biến hiệu chỉnh giới, hôn nhân, BMI, vận động, sử dụng chất, bệnh mạn tính, căng thẳng; không có biến ca đêm. Cỡ mẫu: n = 200 nhân viên y tế (154 nữ), Bệnh viện Đa khoa huyện Thạch Thất, Hà NộiCấn Thị Như Quỳnh và cs., 2025

Dùng ở chương: Giấc ngủ khi mang thai#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-001Ở 384 thai phụ tam cá nguyệt hai (15–27 tuần 6 ngày) có nguy cơ cao tiền sản giật khám tại Bệnh viện Hùng Vương (TP.HCM, 12/2023–6/2024), 21,6% có chất lượng giấc ngủ kém theo Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI > 5); hầu hết ở mức nhẹ, không ai ở mức nặng.PSQI > 5: 21,6% (KTC 95% 17,6–26,1); điểm PSQI trung bình 3,68 ± 2,28; nhẹ (6–9) 19,3%, trung bình (10–14) 2,3%, nặng 0%NgườiCắt ngang, chọn mẫu thuận tiện tại phòng khám; giấc ngủ đo bằng PSQI bản tiếng Việt tự báo cáo (điểm cắt > 5); tuổi thai trung bình 21,4 ± 4,03 tuần; loại trừ rối loạn giấc ngủ có từ trước, bệnh nội khoa nặng, thai dị tật. Cỡ mẫu: n = 384 thai phụ đơn thai ≥ 18 tuổi, nguy cơ cao tiền sản giật, Bệnh viện Hùng Vương, TP.HCMNguyễn Thị Ngọc Thơ và Hoàng Thị Diễm Tuyết, 2025
b4-002Trong cùng nghiên cứu ở Bệnh viện Hùng Vương, sau hồi quy logistic đa biến, chất lượng giấc ngủ kém đi kèm BMI < 18,5, lo âu, trình độ học vấn trên trung học phổ thông và việc dùng thiết bị điện tử đến sát giờ ngủ (ngừng dưới 1 giờ trước khi ngủ).BMI < 18,5: OR 7,17 (1,73–28,61); lo âu: OR 2,62 (1,41–4,88); học vấn trên THPT: OR 3,85 (1,58–10,76); ngừng thiết bị điện tử < 1 giờ trước ngủ: OR 3,28 (1,71–6,33); BMI ≥ 25: không ý nghĩa (OR 1,31)NgườiCắt ngang; PSQI > 5; hồi quy logistic đa biến đưa vào các biến có p < 0,2 ở phân tích đơn biến (bài không liệt kê đủ các biến hiệu chỉnh). Cỡ mẫu: n = 384 thai phụ tam cá nguyệt hai, Bệnh viện Hùng Vương, TP.HCMNguyễn Thị Ngọc Thơ và Hoàng Thị Diễm Tuyết, 2025
b4-003Ở 420 thai phụ khám ngoại trú tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ (5–10/2023; 65,5% ở ba tháng cuối), 40,2% có rối loạn giấc ngủ theo PSQI (> 5). Trong hồi quy logistic đa biến, các yếu tố đi kèm chủ yếu là tâm lý – gia đình – bệnh tật: quan hệ kém với gia đình chồng, đang điều trị một bệnh, sàng lọc trước sinh bất thường, thiếu tự tin làm mẹ, áp lực công việc, áp lực ngoại hình, biến cố bất lợi khi mang thai.PSQI > 5: 40,2%; OR hiệu chỉnh: quan hệ kém/xấu đi với gia đình chồng 6,29 (3,38–11,70); đang điều trị bệnh 9,86 (3,41–28,52); sàng lọc trước sinh bất thường 5,46 (2,22–13,47); thiếu tự tin làm mẹ 4,86 (2,74–8,65); áp lực công việc 3,79 (1,73–8,34); kỳ vọng giới tính con 4,00 (1,20–13,33); áp lực ngoại hình 2,58 (1,50–4,43); biến cố bất lợi khi mang thai 3,75 (2,12–6,66); ở với bố mẹ/nhà riêng 2,16 (1,17–4,00)NgườiCắt ngang mô tả có phân tích; PSQI tự báo cáo, điểm cắt > 5; hồi quy logistic đa biến (bảng có OR thô và hiệu chỉnh); tam cá nguyệt: 16,7% / 17,9% / 65,5%. Cỡ mẫu: n = 420 thai phụ (70 ba tháng đầu, 75 ba tháng giữa, 275 ba tháng cuối), Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Phụ sản TP. Cần ThơTrần Khánh Nga và cs., 2024
b4-004Ở 380 phụ nữ được đo ở ba tháng cuối thai kỳ và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ, tỉ lệ rối loạn giấc ngủ theo PSQI (> 5) là 61,8% ở ba tháng cuối và 74,2% sau sinh; tỉ lệ mổ lấy thai không khác có ý nghĩa giữa nhóm có và không có rối loạn giấc ngủ.PSQI > 5: 61,8% (tam cá nguyệt ba) → 74,2% (sau sinh); mổ lấy thai 50,2% so với 52,4% (p > 0,05)NgườiBài tự mô tả là cắt ngang, đo PSQI ở tam cá nguyệt ba (28–41 tuần 6 ngày) và sau sinh trên cùng nhóm; 9 yếu tố liên quan (số lần sinh, bệnh lý thai kỳ, có ý định mang thai, tự tin làm mẹ, áp lực ngoại hình, căng thẳng nghề nghiệp, hỗ trợ của chồng, chồng hút thuốc, rượu) – không có OR trong tóm tắt. Cỡ mẫu: n = 380 phụ nữ sinh và hậu sản tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần ThơVõ Ngọc Bảo Châu và cs., 2026 (tóm tắt)
b4-023Ở 244 thai phụ khám thai tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 26,23% có mất ngủ theo Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI ≥ 10); viêm âm đạo và tiểu đêm thường xuyên đi kèm mất ngủ.ISI ≥ 10: 26,23% (KTC 95% 21–32%); viêm âm đạo POR 2,57 (1,24–5,37); tiểu đêm thường xuyên POR 2,95 (1,48–5,86)NgườiCắt ngang; mất ngủ đo bằng ISI tự báo cáo (điểm cắt ≥ 10); tỉ số chênh hiện mắc (POR); tóm tắt không nêu phân bố tam cá nguyệt và biến hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 244 thai phụ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCMVõ Hoài Duy và cs., 2026 (tóm tắt)

Dùng ở chương: Tư thế đi ngủ cuối thai kỳ và thai chết lưu#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-021Hướng dẫn quốc gia về sàng lọc và quản lý đái tháo đường thai kỳ (Quyết định 1470/QĐ-BYT ngày 29/5/2024) không có từ "ngủ", "giấc ngủ", "mất ngủ", "ngưng thở khi ngủ" hay "ngáy"; từ "nghỉ ngơi" chỉ xuất hiện một lần trong hướng dẫn làm nghiệm pháp dung nạp glucose.0 lần nhắc giấc ngủ; 1 lần "nghỉ ngơi" (ngồi nghỉ khi làm nghiệm pháp 75 g)Hướng dẫn, tiêu chuẩnRà soát bằng từ khoá toàn văn bản PDF của hướng dẫn do Bệnh viện Tâm Anh đăng lại (chưa đối chiếu bản trên cổng Bộ Y tế). Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2024a
b4-040Trong toàn bộ phần sản khoa (27 mục, gồm tiền sản giật, đái tháo đường và thai nghén, bệnh tim và thai nghén, đẻ non, thai chết lưu, chảy máu sau đẻ, nhiễm khuẩn hậu sản) của tài liệu 315/QĐ-BYT (2015) không có từ "ngủ" hay "mất ngủ"; từ "ngáy" chỉ xuất hiện dưới dạng ran ngáy khi nghe phổi.0 lần nhắc giấc ngủ, ngáy khi ngủ hay ngưng thở khi ngủ trong 27 mục sản khoaHướng dẫn, tiêu chuẩnRà soát bằng từ khoá toàn văn tài liệu (sản khoa, phụ khoa, sơ sinh, phụ lục); "ngủ" chỉ xuất hiện ở mục Mãn kinh – tiền mãn kinh. Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2015

Dùng ở chương: Giấc ngủ sau sinh, cho con bú và trầm cảm#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-005Ở 223 sản phụ mắc COVID-19 sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, mỗi điểm tăng trên Thang chất lượng giấc ngủ sau sinh (Postpartum Sleep Quality Scale, PSQS; điểm cao là ngủ kém) đi kèm tỉ số chênh có dấu hiệu trầm cảm sau sinh (Thang trầm cảm sau sinh Edinburgh, Edinburgh Postnatal Depression Scale, EPDS ≥ 9) cao hơn khoảng 9%, kể cả sau hiệu chỉnh nỗi sợ COVID-19 và hỗ trợ xã hội. Trong mẫu, 36,3% có dấu hiệu trầm cảm.OR thô 1,11 (1,08–1,15); hiệu chỉnh tuổi, nghề, thu nhập, số lần sinh: 1,12 (1,08–1,16); thêm sợ COVID-19 và hỗ trợ xã hội: 1,09 (1,05–1,13) mỗi điểm PSQS; EPDS ≥ 9: 36,3% (81/223); PSQS trung bình 39,8 (nhóm có dấu hiệu) so với 20,0 (nhóm không)NgườiCắt ngang; giấc ngủ đo bằng Thang chất lượng giấc ngủ sau sinh bản Thổ Nhĩ Kỳ (T-PSQS, 14 mục, 0–140) hỏi về 2 tuần đầu sau sinh, tự điền trực tuyến hoặc phỏng vấn qua điện thoại; trầm cảm đo bằng EPDS (điểm cắt ≥ 9); hồi quy logistic 3 mô hình. Cỡ mẫu: n = 223 sản phụ 18–45 tuổi mắc COVID-19 khi sinh, Bệnh viện Phụ sản Hà NộiNguyễn Thị Thu Hà và cs., 2024
b4-006Trong cùng mẫu sản phụ Hà Nội, mục có điểm cao nhất của Thang chất lượng giấc ngủ sau sinh là "thức dậy lúc nửa đêm" (trung bình 5,5/10), tiếp theo là thiếu năng lượng khi làm một số việc (4,8/10); các mục khó vào giấc (1,7/10) hay mất hơn 30 phút để ngủ (1,5/10) có điểm thấp. Nhận xét của nhóm biên tập: vấn đề nổi bật là giấc ngủ bị cắt quãng hơn là khó vào giấc.Thức dậy lúc nửa đêm 5,5 ± 2,1; không đủ năng lượng khi làm một số việc 4,8 ± 2,1; năng lượng ban ngày giảm do ngủ kém 2,7 ± 2,1; hài lòng với chất lượng giấc ngủ (điểm cao là kém) 2,6 ± 1,9; ngủ thực tế trên 7 tiếng mỗi đêm (điểm cao là kém) 1,8 ± 2,3; khó đi vào giấc ngủ 1,7 ± 1,9; mất hơn 30 phút để ngủ 1,5 ± 1,9 (mỗi mục 0–10)NgườiCắt ngang; điểm thành phần T-PSQS tự báo cáo về 2 tuần đầu sau sinh. Cỡ mẫu: n = 223 sản phụ, Bệnh viện Phụ sản Hà NộiNguyễn Thị Thu Hà và cs., 2024
b4-007Ở 205 sản phụ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City (Hà Nội, 5–7/2025), rối loạn giấc ngủ là một trong các yếu tố đi kèm dấu hiệu trầm cảm sau sinh trong mô hình đa biến (tỉ số chênh lớn thứ hai, sau mức thu nhập trung bình); 46,8% có dấu hiệu trầm cảm theo EPDS.Rối loạn giấc ngủ: OR 14,59 (KTC 95% 3,49–60,96); thu nhập 15–< 25 triệu đồng: OR 24,15 (4,51–129,22); dấu hiệu trầm cảm 46,8%; trầm cảm sau sinh 4,9%NgườiCắt ngang; EPDS, Thang căng thẳng cảm nhận (PSS-10), Thang khả năng phục hồi ngắn (BRS-6); hồi quy logistic đa biến; cách đo "rối loạn giấc ngủ" không nêu trong tóm tắt. Cỡ mẫu: n = 205 sản phụ, bệnh viện tư, Hà NộiHo Hoang Thu Phuong và cs., 2025 (tóm tắt)
b4-032Ở bà mẹ 1 tháng sau sinh tại TP.HCM, tổng thời gian ngủ đo bằng vòng đeo tay không khác có ý nghĩa giữa nhóm bú mẹ hoàn toàn và nhóm bú mẹ không hoàn toàn (chênh khoảng 0,2 giờ), kể cả sau hiệu chỉnh. Số lần cho bú đêm và việc hút sữa cũng không đi kèm có ý nghĩa với thời gian ngủ.Bú mẹ hoàn toàn 5,4 giờ so với không hoàn toàn 5,6 giờ (p = 0,27); hiệu chỉnh β −0,16 giờ (−0,56 đến 0,24; theo Bảng 5, tóm tắt của bài ghi −0,31; −0,68 đến 0,06); ngủ ≥ 5 giờ 63,8% so với 68,0%, tỉ số hiện mắc (PR) hiệu chỉnh 0,94 (0,65–1,36); số lần bú đêm β −0,15 giờ mỗi lần (−0,46 đến 0,16)NgườiCắt ngang; thời gian ngủ (gồm cả giấc ngủ ngày) đo bằng Fitbit Charge 6; hồi quy tuyến tính và Poisson hiệu chỉnh tuổi, nghỉ thai sản, cách sinh, thu nhập hộ, học vấn, số con dưới 5 tuổi, dân tộc; mô hình hỗn hợp cho kết quả tương tự. Cỡ mẫu: n = 197 bà mẹ 1 tháng sau sinh (208 tham gia), Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCMKang và cs., 2026
b4-033Cùng nghiên cứu TP.HCM: 93,4% bà mẹ 1 tháng sau sinh có ngủ ngày và 80,7% vẫn thấy buồn ngủ hoặc mệt sau khi ngủ; thiết bị ghi trung bình 42,7 phút thức trong giai đoạn ngủ.Ngủ ngày 93,4%; buồn ngủ/mệt sau ngủ 80,7%; thời gian thức trong giấc ngủ 42,7 (ĐLC 31,8) phút; giai đoạn ngủ theo thiết bị: REM 69,3 phút, sâu 53,5 phút, nông 186 phútNgườiCắt ngang; ngủ ngày và cảm giác mệt tự báo cáo; giai đoạn ngủ theo thuật toán của Fitbit Charge 6 (chưa được kiểm định với PSG ở phụ nữ sau sinh). Cỡ mẫu: n = 197 bà mẹ 1 tháng sau sinh, TP.HCMKang và cs., 2026
b4-034Cũng trong mẫu TP.HCM đo Fitbit, chỉ 2,5% (5/197) bà mẹ 1–< 2 tháng sau sinh được xếp "có trầm cảm bất kỳ" theo EPDS. Nhận xét của nhóm biên tập: con số này thấp hơn nhiều so với các mẫu sản phụ Việt Nam khác dùng EPDS, nhưng bài không công bố điểm cắt nên không so sánh trực tiếp được.EPDS: 97,5% (192/197) "không có khả năng trầm cảm"; 2,5% (5/197) "có trầm cảm bất kỳ"NgườiCắt ngang; EPDS tự điền khoảng 1 tháng sau sinh; bài không nêu điểm cắt cho hai nhóm phân loại. Cỡ mẫu: n = 197 bà mẹ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCMKang và cs., 2026

Dùng ở chương: Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-008Ở 296 phụ nữ 45–60 tuổi tại hai xã nông thôn huyện Vũ Thư (Thái Bình, 2020–2021), 96,0% có triệu chứng "vấn đề giấc ngủ" trên Thang đánh giá mãn kinh (Menopause Rating Scale, MRS), ngang tần suất cơn bốc hoả (96,3%), và 45,0% ở mức nặng – rất nặng. Điểm trung bình mục giấc ngủ cao nhất trong nhóm triệu chứng cơ thể.Có vấn đề giấc ngủ 96,0% (284/296); nhẹ – vừa 51,0%; nặng – rất nặng 45,0%; điểm mục giấc ngủ 2,4 ± 1,2 so với bốc hoả 2,0 ± 1,0, mệt mỏi 2,1 ± 1,1, đau cơ khớp 1,9 ± 1,2NgườiCắt ngang dựa vào cộng đồng, lấy mẫu toàn bộ; giấc ngủ đo bằng một mục của MRS (tự báo cáo); không phân theo giai đoạn mãn kinh (STRAW); chỉ thống kê mô tả, không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 296 phụ nữ 45–60 tuổi, xã Tân Phong và Tân Hoà, huyện Vũ Thư, Thái Bình, 8/2020–2/2021Tran Thai Phuc và Tang Thi Hao, 2023
b4-009Ở 381 phụ nữ đã mãn kinh (mất kinh ≥ 12 tháng, không dùng nội tiết 3 tháng gần nhất, không làm ca đêm) khám phụ khoa tại Bệnh viện Đồng Nai 2 (11/2024–4/2025), 68,5% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI (> 5), chủ yếu ở mức 6–10 điểm.PSQI > 5: 68,5% (261/381; KTC 95% 63,6–73,1); PSQI 6–10: 61,4%; 11–14: 7,1%; 15–21: 0%NgườiCắt ngang mô tả tại phòng khám; PSQI tự báo cáo, điểm cắt > 5; DASS-21 cho trầm cảm, lo âu, căng thẳng; loại trừ cắt hai buồng trứng và làm ca đêm. Cỡ mẫu: n = 381 phụ nữ sau mãn kinh (412 mời), tuổi 56,34 ± 10,74, Bệnh viện Đồng Nai 2Nguyễn Thị Hoàng Vân và cs., 2025
b4-010Trong cùng nghiên cứu Đồng Nai, sau hiệu chỉnh đa biến, tập thể dục đều (≥ 3 buổi/tuần) đi kèm khả năng ngủ kém thấp hơn, còn trầm cảm từ mức vừa trở lên và lo âu rất nặng đi kèm khả năng ngủ kém cao hơn. Trầm cảm nhẹ và lo âu nhẹ – vừa – nặng không còn ý nghĩa.Tập thể dục ≥ 3 buổi/tuần: OR hiệu chỉnh 0,54 (0,34–0,87); trầm cảm ≥ vừa: 4,18 (1,67–10,47); lo âu rất nặng: 6,83 (1,75–26,64); trầm cảm nhẹ: 1,08 (0,60–1,94)NgườiCắt ngang; hồi quy logistic đa biến (bài không nêu đủ danh sách biến hiệu chỉnh); PSQI > 5; DASS-21. Cỡ mẫu: n = 381 phụ nữ sau mãn kinh, Bệnh viện Đồng Nai 2Nguyễn Thị Hoàng Vân và cs., 2025
b4-011Ở 610 phụ nữ mãn kinh tự nhiên (không phẫu thuật buồng trứng, không dùng nội tiết) khám tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên (1–6/2025), khoảng 80% cho biết có rối loạn giấc ngủ – một trong những than phiền thường gặp nhất cùng với hay quên và rối loạn tiểu tiện.Rối loạn giấc ngủ 80%; tuổi mãn kinh trung bình 49,9 ± 3,8 nămNgườiMô tả cắt ngang tại bệnh viện; cách xác định "rối loạn giấc ngủ" không nêu trong tóm tắt (nhiều khả năng tự báo cáo). Cỡ mẫu: n = 610 phụ nữ sau mãn kinh, Bệnh viện Trung ương Thái NguyênHoàng Thị Ngọc Trâm và cs., 2026 (tóm tắt)
b4-012Khi thẩm định Thang đánh giá mãn kinh bản tiếng Việt (VN-MRS) ở 200 phụ nữ 50–59 tuổi, mục "vấn đề giấc ngủ" có tương quan mục – tổng cao nhất trong các mục cơ thể, cao hơn cả bốc hoả và đau cơ khớp.Tương quan mục – tổng: giấc ngủ 0,74; bốc hoả/vã mồ hôi 0,68; khó chịu cơ khớp 0,66; Cronbach's alpha toàn thang 0,89; ICC lặp lại 0,991NgườiCắt ngang thẩm định thang đo, chọn mẫu thuận tiện (2–6/2020); 27 người đo lại sau 2 tuần; giấc ngủ là một mục tự báo cáo của MRS. Cỡ mẫu: n = 200 phụ nữ 50–59 tuổi (50% sau mãn kinh, 21% "mãn kinh", 29% "tiền mãn kinh" theo cách gọi của bài), Việt Nam (bài không nêu địa điểm cụ thể)Nguyen Thi My Hanh và cs., 2023

Dùng ở chương: Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-016Hướng dẫn quốc gia mới nhất của Bộ Y tế mà chúng tôi tìm được về chăm sóc phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh là Quyết định 3977/QĐ-BYT ngày 30/12/2024 (hiệu lực từ ngày ký, thay thế Quyết định 3793/QĐ-BYT ngày 17/12/2024 ban hành chỉ 13 ngày trước). Hướng dẫn có nhắc giấc ngủ ở nhiều chỗ: triệu chứng, chỉ định liệu pháp nội tiết, tư vấn và liệu pháp tâm lý.Số hiệu 3977/QĐ-BYT; ban hành 30/12/2024; hiệu lực từ ngày ký; thay thế 3793/QĐ-BYT (17/12/2024); luatvietnam.vn ghi ngày hết hiệu lực "Đang cập nhật" (chưa có văn bản thay thế được ghi nhận); đối tượng phụ nữ 45–69 tuổi; tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Việt Nam ghi 48–50Hướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản chuyên môn của Bộ Y tế (Vụ Sức khoẻ Bà mẹ – Trẻ em chủ trì; biên soạn với Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, Bệnh viện Từ Dũ, Hội Phụ Sản Việt Nam, Trường Đại học Y Dược Huế, Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng); đọc toàn văn trên luatvietnam.vn trừ Phụ lục 1 (ảnh). Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2024b
b4-017Hướng dẫn 3977/QĐ-BYT mô tả rối loạn giấc ngủ quanh mãn kinh chủ yếu là hậu quả của cơn bốc hoả và vã mồ hôi về đêm làm người phụ nữ thức dậy nhiều lần, liệt kê "mất ngủ, ngủ không sâu giấc" trong nhóm triệu chứng thần kinh – tâm lý, và lưu ý cần chẩn đoán phân biệt với trầm cảm.Có nhắc giấc ngủ ở mục Rối loạn vận mạch và mục Triệu chứng thần kinh, tâm lý; có yêu cầu chẩn đoán phân biệt với trầm cảmHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hướng dẫn; phần Chẩn đoán và xử trí, mục 1.1 và 1.2. Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2024b
b4-018Theo 3977/QĐ-BYT, liệu pháp nội tiết mãn kinh (menopause hormone therapy, MHT) được chỉ định cho phụ nữ quanh hoặc sau mãn kinh có rối loạn vận mạch từ trung bình đến nặng ảnh hưởng đến giấc ngủ và chất lượng cuộc sống; mục tiêu nêu cả rối loạn giấc ngủ trong các triệu chứng cần giảm.Giấc ngủ là một phần của tiêu chí chỉ định (rối loạn vận mạch vừa – nặng ảnh hưởng giấc ngủ); hướng dẫn cũng liệt kê "buồn ngủ" trong tác dụng không mong muốnHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hướng dẫn (lời nói đầu ghi Besins Healthcare hỗ trợ biên soạn); phần Liệu pháp nội tiết thời kỳ mãn kinh, mục 1.2 Mục tiêu, mục 2 Chỉ định, mục 5.5. Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2024b
b4-019Mục liệu pháp tâm lý hỗ trợ của 3977/QĐ-BYT có nêu liệu pháp hành vi nhận thức đối phó với cơn bốc hoả (hít thở chậm, tập trung suy nghĩ để giảm căng thẳng) và luyện thói quen đi ngủ vào cùng một thời điểm. Hướng dẫn không trình bày liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ (CBT-I) như một can thiệp riêng.Có nội dung hành vi về giờ đi ngủ; không có mục CBT-I riêng (theo phần đã đọc)Hướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hướng dẫn; mục 3.3 Liệu pháp tâm lý hỗ trợ; mục 2.1 lối sống (ngưng hút thuốc, tránh rượu bia, caffein; môi trường thông thoáng, quần áo nhẹ, điều chỉnh nhiệt độ phòng). Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2024b
b4-020Ở phần tư vấn, 3977/QĐ-BYT ghi các thực phẩm chức năng như phytoestrogen, isoflavon "có hiệu quả" hỗ trợ các triệu chứng nhẹ và trung bình gồm cả mất ngủ, nhưng không dẫn thử nghiệm cụ thể. Hướng dẫn chỉ nói chung "có thể sử dụng các loại thuốc hỗ trợ không chứa nội tiết", không nêu tên SSRI/SNRI, gabapentin hay fezolinetant.Phytoestrogen/isoflavon được nêu cho bốc hoả, mất ngủ, khô âm đạo mức nhẹ – vừa; không có trích dẫn thử nghiệm kèm theoHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hướng dẫn (lời nói đầu ghi Besins Healthcare hỗ trợ biên soạn); phần Tư vấn và chăm sóc sức khoẻ, mục 2.2(a) Liệu pháp không nội tiết; mục 3.4. Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2024b
b4-022Trong 12 hướng dẫn chuyên môn về sức khoẻ bà mẹ – trẻ em Bộ Y tế ban hành năm 2024 mà Sở Y tế Khánh Hoà phổ biến đầu năm 2025 (gồm tăng huyết áp thai kỳ – tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, chăm sóc sơ sinh, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, mãn kinh), không văn bản nào có chủ đề giấc ngủ hay mất ngủ.12 văn bản; 0 văn bản chuyên về giấc ngủ; văn bản liên quan phụ nữ: 1154/QĐ-BYT (4/5/2024, tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, sản giật), 1470/QĐ-BYT (29/5/2024), 3082/QĐ-BYT (17/10/2024), 3261/QĐ-BYT (4/11/2024, thay Phần 7 của 4128/QĐ-BYT), 3977/QĐ-BYT (30/12/2024)Hướng dẫn, tiêu chuẩnĐọc danh mục trong công văn của Sở Y tế Khánh Hoà (văn bản PDF ký số, 01/2025). Cỡ mẫu: Không áp dụngSở Y tế Khánh Hoà, 2025
b4-039Tài liệu hướng dẫn chuyên môn về các bệnh sản phụ khoa của Bộ Y tế (Quyết định 315/QĐ-BYT, 29/01/2015), mục Mãn kinh – tiền mãn kinh, đã nêu mất ngủ là triệu chứng thần kinh – tâm lý và giải thích vã mồ hôi ban đêm gây mất ngủ. Câu chữ gần như được giữ nguyên trong hướng dẫn 3977/QĐ-BYT năm 2024 (nhận xét của nhóm biên tập).Mất ngủ có trong mục 3.1.2 (rối loạn vận mạch) và 3.1.3 (triệu chứng thần kinh tâm lý); dùng từ "bốc nóng" thay vì "bốc hoả"; phần quản lý (3.4) không có nội dung riêng về giấc ngủHướng dẫn, tiêu chuẩnĐọc toàn văn mục Mãn kinh – tiền mãn kinh trong bản PDF do một bệnh viện tỉnh đăng lại. Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2015

Dùng ở chương: Giấc ngủ phụ nữ Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-013Khảo sát 440 phụ nữ ≥ 60 tuổi ở 16 khu ngoại ô nông thôn và thành thị Việt Nam (8/2014–1/2015) cho thấy 38,9% có rối loạn giấc ngủ; khó duy trì giấc ngủ là vấn đề thường gặp nhất; thừa cân đi kèm nhiều rối loạn hơn và sức khoẻ thể chất tốt đi kèm ít hơn.Rối loạn giấc ngủ 38,9%NgườiKhảo sát cắt ngang bằng bảng hỏi cấu trúc, hồi quy logistic; công cụ đo giấc ngủ không nêu trong tóm tắt. Cỡ mẫu: n = 440 phụ nữ ≥ 60 tuổi, 16 khu ngoại ô nông thôn và thành thịDao-Tran và Seib, 2018 (tóm tắt)

Viết tắt trong trang

BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
CBT-I
liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
EPDS
thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale)
ICC
hệ số tương quan nội lớp (intraclass correlation coefficient)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PMDD
rối loạn khí sắc tiền kinh nguyệt (premenstrual dysphoric disorder)
PMS
hội chứng tiền kinh nguyệt (premenstrual syndrome)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
STRAW
hệ phân giai đoạn lão hoá sinh sản (Stages of Reproductive Aging Workshop)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục D. Dữ kiện: Việt Nam. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/phu-luc-d-du-kien-b4/