Phụ lục này liệt kê toàn bộ 77 dữ kiện của nhánh Quanh và sau mãn kinh đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b3-040) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương.
Dùng ở chương: Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-040 | Mẫu dân số Pennsylvania đo trong phòng thí nghiệm: ngưng thở khi ngủ (chỉ số ngưng thở – giảm thở, apnea–hypopnea index, AHI ≥ 10 kèm triệu chứng ban ngày) gặp ở 0,6% phụ nữ trước mãn kinh, 2,7% phụ nữ sau mãn kinh không dùng liệu pháp hormone và 0,5% phụ nữ sau mãn kinh đang dùng, so với 3,9% ở nam. | 0,6% / 2,7% / 0,5% (phụ nữ) so với 3,9% (nam); tỉ lệ nam:nữ 3,3:1; sau mãn kinh không dùng hormone so với trước mãn kinh p = 0,02 | Người | Mẫu ngẫu nhiên 2 giai đoạn từ cộng đồng; giai đoạn 2 đo một đêm trong phòng thí nghiệm giấc ngủ; hiệu chỉnh tuổi và BMI. Cỡ mẫu: Giai đoạn 1: 12.219 nữ, 4.364 nam (20–100 tuổi); giai đoạn 2: 1.000 nữ, 741 nam | Bixler và cs., 2001 (tóm tắt) |
| b3-041 | Thuần tập Wisconsin: sau khi hiệu chỉnh tuổi, thể trạng và hút thuốc, sau mãn kinh đi kèm OR 2,6 cho AHI ≥ 5 và OR 3,5 cho AHI ≥ 15 so với trước mãn kinh; quanh mãn kinh không khác có ý nghĩa. | AHI ≥ 5: quanh mãn kinh OR 1,2 (0,7–2,2); sau mãn kinh 2,6 (1,4–4,8). AHI ≥ 15: 1,1 (0,5–2,2); 3,5 (1,4–8,8) | Người | Mẫu dân số (Wisconsin Sleep Cohort Study); đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) trong phòng thí nghiệm; giai đoạn mãn kinh theo tiền sử kinh, phẫu thuật, dùng hormone, hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone, FSH), triệu chứng vận mạch (vasomotor symptoms, VMS); hiệu chỉnh tuổi, thể trạng (body habitus), hút thuốc. Cỡ mẫu: n = 589 phụ nữ | Young và cs., 2003 (tóm tắt) |
| b3-042 | Nghiên cứu dọc Sleep in Midlife Women (PSG tại nhà mỗi 6 tháng): so với trước mãn kinh, AHI cao hơn 31% ở sau mãn kinh; mỗi năm thêm sau mãn kinh đi kèm AHI cao hơn 4%, độc lập với tuổi và các số đo béo phì. | Quanh mãn kinh +21% (KTC 95% −4% đến 54%, không có ý nghĩa); sau mãn kinh +31% (2–68%); mỗi năm sau mãn kinh +4% (2–6%); AHI ≥ 15: OR 1,07/năm (0,97–1,18), không có ý nghĩa | Người | Thuần tập dọc, đo lặp; PSG tại nhà mỗi 6 tháng, 1996–2007; hiệu chỉnh tuổi, BMI, vòng eo, vòng cổ, dùng hormone, rượu, hút thuốc. Cỡ mẫu: n = 219 phụ nữ 38–62 tuổi; 1.667 lần PSG | Mirer và cs., 2017 |
| b3-043 | Nghiên cứu Nagahama (Nhật Bản, cộng đồng): rối loạn thở khi ngủ mức trung bình–nặng (chỉ số giảm bão hoà oxy 3% hiệu chỉnh theo thời gian ngủ actigraphy ≥ 15/giờ) gặp ở khoảng 1,6% phụ nữ trước mãn kinh, 9,4% phụ nữ sau mãn kinh và 23,4% nam (cộng mức trung bình và nặng từ bảng 2 — nhận xét của nhóm biên tập). Đây là tỉ lệ thô, chưa hiệu chỉnh tuổi. | Trước mãn kinh: trung bình 1,6%, nặng 0%; sau mãn kinh: trung bình 8,2%, nặng 1,2%; nam: trung bình 18,9%, nặng 4,5% | Người | Cắt ngang cộng đồng; máy đo oxy đeo cổ tay tối đa 4 đêm + actigraphy (không phải PSG); hiệu chỉnh tuổi, giới, hút thuốc, rượu trong mô hình bệnh kèm. Cỡ mẫu: n = 7.713 (2.491 nam, 1.794 nữ trước mãn kinh, 3.388 nữ sau mãn kinh) | Matsumoto và cs., 2020 |
| b3-075 | Tổng quan của Baker (2023) viết phụ nữ sau mãn kinh có "nguy cơ ngưng thở khi ngủ nặng cao hơn 3 lần". Con số gần nhất trong y văn gốc mà nhánh tìm được (Wisconsin, Young 2003) là tỉ số chênh 3,5 (KTC 95% 1,4–8,8) cho AHI ≥ 15, tức mức trung bình–nặng chứ không riêng mức nặng (đối chiếu: nhận xét của nhóm biên tập). | "Hơn 3 lần" (diễn đạt của tổng quan) so với OR 3,5 (1,4–8,8) cho AHI ≥ 15 của Young 2003 | Tổng quan | Tổng quan tường thuật. Cỡ mẫu: Không áp dụng | Baker, 2023 |
Dùng ở chương: Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-001 | Trong thuần tập SWAN, lúc vào nghiên cứu 30,8% phụ nữ 42–52 tuổi báo cáo ít nhất một trong ba khó khăn giấc ngủ (khó vào giấc, thức giấc nhiều lần, thức sớm) từ 3 đêm/tuần trở lên; tỉ lệ là 28,0% ở nhóm trước mãn kinh (premenopause) và 34,3% ở nhóm đầu quanh mãn kinh (early perimenopause). | 30,8% chung; 28,0% trước mãn kinh; 34,3% đầu quanh mãn kinh | Người | Thuần tập SWAN (Study of Women's Health Across the Nation), Hoa Kỳ; thuần tập tiến cứu, phân tích dữ liệu lúc vào nghiên cứu; giấc ngủ tự báo cáo trong 2 tuần qua (khó vào giấc, thức nhiều lần, thức sớm), ngưỡng ≥ 3 lần/tuần; giai đoạn mãn kinh xác định theo kiểu hành kinh (tương ứng hệ phân giai đoạn STRAW, Stages of Reproductive Aging Workshop). Cỡ mẫu: n = 3.045 phụ nữ 42–52 tuổi, 5 nhóm sắc tộc (da trắng 47,5%, gốc Phi 28%, Nhật 9%, Hoa 8%, gốc Tây Ban Nha 7,5%) | Kravitz và cs., 2008 |
| b3-002 | So với giai đoạn trước mãn kinh, giai đoạn cuối quanh mãn kinh (late perimenopause) đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) cao hơn cho cả ba khó khăn giấc ngủ tự báo cáo, cao nhất với thức giấc nhiều lần trong đêm (OR 1,96). | Cuối quanh mãn kinh: khó vào giấc OR 1,49 (KTC 95% 1,08–2,06); thức nhiều lần OR 1,96 (1,56–2,46); thức sớm OR 1,53 (1,17–2,01). Đầu quanh mãn kinh: thức nhiều lần OR 1,26 (1,08–1,47), hai khó khăn còn lại không có ý nghĩa thống kê | Người | Thuần tập SWAN (Study of Women's Health Across the Nation), Hoa Kỳ; thuần tập tiến cứu, 8 lần đo (ban đầu + 7 lần hằng năm), mô hình hồi quy logistic lặp; hiệu chỉnh sắc tộc, điểm nghiên cứu, tuổi, dùng liệu pháp hormone, triệu chứng trầm cảm (CES-D), lo âu, tiểu đêm, đau, biến cố sống, thuốc hướng thần/thuốc ngủ, BMI, hút thuốc, học vấn và một số biến khác tuỳ kết cục. Cỡ mẫu: n = 3.045; 20.407 lượt quan sát | Kravitz và cs., 2008 |
| b3-003 | Ở phụ nữ sau mãn kinh tự nhiên không dùng liệu pháp hormone, OR khó vào giấc là 1,77 và thức nhiều lần là 1,78 so với trước mãn kinh; thức sớm không khác có ý nghĩa thống kê. Mãn kinh do phẫu thuật (không dùng hormone) đi kèm OR khoảng 2 cho khó vào giấc và thức nhiều lần. | Sau mãn kinh, không dùng hormone: 1,77 (1,29–2,44) / 1,78 (1,42–2,23) / 1,19 (0,91–1,56). Mãn kinh phẫu thuật: 2,05 (1,21–3,49) / 2,04 (1,38–3,03) / 1,50 (0,96–2,33) (khó vào giấc / thức nhiều lần / thức sớm) | Người | Thuần tập SWAN (Study of Women's Health Across the Nation), Hoa Kỳ; thuần tập tiến cứu; cùng mô hình đa biến như trên. Cỡ mẫu: n = 3.045; 20.407 lượt quan sát | Kravitz và cs., 2008 |
| b3-004 | Trong SWAN, số ngày có triệu chứng vận mạch (vasomotor symptoms, VMS: cơn bốc hoả, đổ mồ hôi đêm) càng nhiều thì OR của cả ba khó khăn giấc ngủ càng cao (quan hệ liều – đáp ứng), và VMS cùng giai đoạn mãn kinh đều liên quan độc lập với khó khăn giấc ngủ. | Đa biến, VMS 6–14 ngày/2 tuần so với không có: khó vào giấc OR 2,60; thức nhiều lần OR 2,93; thức sớm OR 2,16. VMS < 6 ngày: 1,37 / 1,31 / 1,35 | Người | Thuần tập SWAN (Study of Women's Health Across the Nation), Hoa Kỳ; thuần tập tiến cứu; VMS và giấc ngủ cùng tự báo cáo trong 2 tuần; hiệu chỉnh như mô hình chính. Cỡ mẫu: n = 3.045 | Kravitz và cs., 2008 |
| b3-005 | Theo dõi PSG tại nhà khoảng 3,5 năm trong SWAN: thời lượng ngủ và thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) không thay đổi khác nhau giữa phụ nữ vẫn ở trước mãn kinh/đầu quanh mãn kinh, chuyển sang cuối quanh mãn kinh, hay sang sau mãn kinh. | Thời lượng ngủ 6,39 giờ → 6,42 giờ; WASO 47,41 → 60,27 phút (toàn mẫu), không khác theo nhóm chuyển tiếp | Người | SWAN Sleep Study, thuần tập dọc 2 lần đo cách nhau trung bình 3,58 năm (SD 0,72); đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) tại nhà 3 đêm liền, phân tích đêm 2 và 3 (135 người có 2 đêm, 24 người có 1 đêm); hiệu chỉnh tuổi lúc đầu, điểm nghiên cứu, sắc tộc, khoảng cách giữa 2 lần đo; sàng lọc thêm BMI, CES-D, VMS, thuốc, AHI ≥ 15. Cỡ mẫu: n = 159 (38 vẫn trước/đầu quanh mãn kinh, 31 cuối quanh mãn kinh, 90 sau mãn kinh) | Matthews và cs., 2021 |
| b3-006 | Cùng nghiên cứu trên, nhóm chuyển sang sau mãn kinh có công suất sóng beta trên điện não đồ (electroencephalography, EEG) trong giấc ngủ không cử động mắt nhanh (NREM) (dấu hiệu tăng kích thích sinh lý) cao hơn ở lần đo thứ hai; kết quả giữ nguyên sau khi hiệu chỉnh VMS. Nhóm cuối quanh mãn kinh không khác có ý nghĩa thống kê so với nhóm tham chiếu (p = 0,251). | Ước lượng 0,117 (SE 0,04), p = 0,005; sau hiệu chỉnh VMS 0,118 (SE 0,042), p = 0,006; cuối quanh mãn kinh 0,061, p = 0,251 | Người | SWAN Sleep Study, thuần tập dọc; PSG tại nhà; phân tích phổ EEG (FFT) kênh C3, beta 16–32 Hz. Cỡ mẫu: n = 159 | Matthews và cs., 2021 |
| b3-007 | Ở 60 phụ nữ Phần Lan theo dõi 6 năm bằng PSG, các suy giảm về độ liên tục và thời lượng giấc ngủ được giải thích bởi tuổi tăng thêm chứ không phải bởi giai đoạn mãn kinh; sau 6 năm, tổng thời gian ngủ giảm khoảng 37 phút và WASO tăng khoảng 38 phút. | 6 năm lão hoá: tổng thời gian ngủ B −37,4 phút (KTC 95% −71,5 đến −3,3); hiệu quả giấc ngủ B −6,5 (−12,7 đến −0,2); WASO B +37,7 (12,5–63,0); số lần thức/giờ B 1,8 (0,8–2,8); chỉ số vi thức B 2,3 (0,1–4,4) | Người | Thuần tập tiến cứu 6 năm; PSG lúc đầu và lúc theo dõi; hiệu chỉnh BMI, VMS và triệu chứng trầm cảm. Cỡ mẫu: n = 60 phụ nữ, tuổi trung bình 46,0 (SD 0,9), trước mãn kinh lúc đầu | Lampio và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b3-008 | Trong cùng thuần tập Phần Lan, nồng độ FSH huyết thanh cao hơn trong giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh đi kèm nhiều giấc ngủ sóng chậm (slow-wave sleep, SWS) hơn trên PSG, sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu. | B 0,09 (KTC 95% 0,01–0,16) | Người | Thuần tập tiến cứu 6 năm; PSG; hiệu chỉnh BMI, VMS, trầm cảm. Cỡ mẫu: n = 60 | Lampio và cs., 2017 (tóm tắt) |
| b3-009 | Một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đo cơn bốc hoả khách quan (độ dẫn điện da vùng xương ức) không thấy khác biệt có ý nghĩa về bất kỳ chỉ số giấc ngủ nào giữa phụ nữ sau mãn kinh có triệu chứng, không triệu chứng và phụ nữ còn kinh 46–51 tuổi. Tác giả kết luận không có bằng chứng cơn bốc hoả gây rối loạn giấc ngủ. | Phụ nữ có triệu chứng: 5,2 ± 2,9 cơn bốc hoả/đêm. Vi thức trong vòng 2 phút quanh cơn bốc hoả: 46,7% xảy ra trước, 46,7% sau, 5,6% đồng thời; thức giấc: 55,2% trước, 40,0% sau | Người | Nghiên cứu cắt ngang trong phòng thí nghiệm; PSG; cơn bốc hoả đo bằng độ dẫn điện da; loại trừ ngưng thở khi ngủ và người dùng thuốc; đo thêm buồn ngủ ban ngày, chú ý, mệt mỏi. Cỡ mẫu: 3 nhóm, đều 46–51 tuổi; tóm tắt không nêu cỡ mẫu từng nhóm | Freedman và Roehrs, 2004 (tóm tắt) |
| b3-010 | Ở phụ nữ quanh mãn kinh đo PSG trong phòng thí nghiệm, thời gian thức gắn với cơn bốc hoả khách quan trung bình 16,6 phút mỗi đêm, chiếm 27,2% tổng WASO, dao động 0–89% giữa các đêm. | 16,6 phút/đêm (KTC 95% 10,8–22,4); 27,2% (SD 27,1) WASO; trung bình 3,5 cơn/đêm (2,8–4,2) | Người | Cắt ngang, PSG trong phòng thí nghiệm 1–5 đêm/người (63 đêm); cơn bốc hoả đo khách quan bằng độ dẫn điện da xương ức (tăng ≥ 2 µmho trong 30 giây); giai đoạn STRAW theo chu kỳ kinh tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 34 phụ nữ quanh mãn kinh, 50,4 ± 2,7 tuổi, BMI 24,3; 222 cơn bốc hoả | de Zambotti và cs., 2014 |
| b3-011 | Trong cùng nghiên cứu, 69,4% cơn bốc hoả khách quan đi kèm một lần thức giấc trên PSG; chỉ 19,8% cơn bốc hoả không đi kèm xáo trộn giấc ngủ. | 69,4% có thức giấc; 19,8% không xáo trộn | Người | Cắt ngang, PSG trong phòng thí nghiệm; cơn bốc hoả đo bằng độ dẫn điện da. Cỡ mẫu: n = 34; 222 cơn bốc hoả | de Zambotti và cs., 2014 |
| b3-012 | Trong mẫu SWAN Sleep Study đa sắc tộc (da trắng, gốc Phi, Hoa), VMS ban đêm ghi nhật ký đi kèm tổng thời gian ngủ dài hơn khoảng 22 phút trên PSG tại nhà. VMS và triệu chứng khí sắc không liên quan với tỉ số sóng delta (delta sleep ratio) hay độ trễ REM. Lo âu chỉ đi kèm độ trễ vào giấc dài hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn ở người có VMS ban đêm. | Tổng thời gian ngủ: +22,29 phút (p = 0,001; hiệu chỉnh cơ bản), +21,58 phút (p = 0,002; hiệu chỉnh đầy đủ). Tương tác VMS × lo âu (STAI): độ trễ (log) β = 0,04 (p = 0,041); hiệu quả giấc ngủ β = −0,38 (p = 0,046). % sóng delta chưa hiệu chỉnh: trung vị 1,6% (có VMS) so với 1,9% (p = 0,04) | Người | Cắt ngang; PSG tại nhà (đêm 1 sàng lọc, phân tích đêm 2–3); VMS ban đêm ghi nhật ký buổi sáng mỗi đêm PSG; hiệu chỉnh tuổi, sắc tộc, tình trạng mãn kinh; mô hình đầy đủ thêm thuốc hướng thần, cử động chân chu kỳ, AHI, khó khăn tài chính, hôn nhân, sức khoẻ tự đánh giá. Cỡ mẫu: n = 343 phân tích (370 tham gia), 48–58 tuổi (tóm tắt; phần phương pháp ghi 48–59) | Kravitz và cs., 2011 |
| b3-045 | Phân tích gộp toàn cầu: tỉ lệ rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh là 51,6%, nhưng dị biệt giữa các nghiên cứu cực cao (I² = 98,4%) và công cụ đo rất khác nhau. | 51,6% (KTC 95% 44,6–58,5%); I² = 98,4% | Tổng quan | Phân tích gộp 41 nghiên cứu quan sát; công cụ đo gồm MRS, MENQOL, PSQI, ISI, Kupperman, Greene, AHI, STOP-Bang…; hồi quy meta: cỡ mẫu lớn hơn đi kèm tỉ lệ thấp hơn, tỉ lệ giảm theo năm công bố. Cỡ mẫu: 41 nghiên cứu | Salari và cs., 2023 |
| b3-046 | Trong cùng phân tích gộp, tỉ lệ rối loạn giấc ngủ tăng dần theo giai đoạn: 46,5% trước mãn kinh, 50,3% quanh mãn kinh, 54,7% sau mãn kinh, với khoảng tin cậy chồng lấn rộng. | Trước mãn kinh 46,5% (22,6–72,1%; 6 nghiên cứu, n = 2.008); quanh mãn kinh 50,3% (27,7–72,7%; 6 nghiên cứu, n = 4.677); sau mãn kinh 54,7% (47,2–62,1%; 13 nghiên cứu, n = 12.216) | Tổng quan | Phân tích gộp phân nhóm theo giai đoạn. Cỡ mẫu: n = 2.008 / 4.677 / 12.216 | Salari và cs., 2023 |
| b3-047 | Phân tích gộp các yếu tố liên quan rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ quanh mãn kinh: trầm cảm (OR 2,73) và cơn bốc hoả (OR 2,70) có mức liên quan tương đương; bệnh mạn tính OR 1,39; dùng thuốc hướng thần OR 3,19. | Trầm cảm OR 2,73 (1,65–4,52; I² = 95,4%; 4 nghiên cứu); cơn bốc hoả 2,70 (1,81–4,02; I² = 83,8%; 5 nghiên cứu); bệnh mạn tính 1,39 (1,24–1,56; I² = 0%); thuốc hướng thần 3,19 (1,31–7,77) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống 22 nghiên cứu, phân tích gộp 12 nghiên cứu quan sát (2 từ Trung Quốc); mất ngủ theo tiêu chí AASM/ICSD hoặc thang đo khác nhau. Cỡ mẫu: 12 nghiên cứu, n = 11.928 phụ nữ quanh mãn kinh | Zeng và cs., 2025 |
| b3-048 | Khảo sát đại diện quốc gia Hàn Quốc (K-Stori 2016): tỉ lệ ngủ kém (PSQI > 5) tăng từ 18,8% ở trước mãn kinh lên 27,4% ở quanh mãn kinh và 29,5% ở sau mãn kinh. | 18,8% (145/770) → 27,4% (109/398) → 29,5% (540/1.832); chung 26%. Điểm PSQI trung bình 3,99 / 4,37 / 4,64 | Người | Cắt ngang, chọn mẫu ngẫu nhiên đại diện quốc gia; PSQI, ngưỡng > 5. Cỡ mẫu: n = 3.000 phụ nữ 45–64 tuổi | Hwang và cs., 2021 |
| b3-049 | Trong K-Stori 2016, sau hiệu chỉnh, quanh mãn kinh (OR 1,50) và sau mãn kinh (OR 1,73) đi kèm ngủ kém so với trước mãn kinh; trầm cảm có mức liên quan mạnh nhất (OR 4,16). | Quanh mãn kinh OR 1,50 (1,07–2,11); sau mãn kinh 1,73 (1,26–2,39); trầm cảm 4,16 (3,32–5,22); bệnh mạn tính 1,50 (1,20–1,87); uống rượu nguy cơ 1,53 (1,17–2,02); dùng thực phẩm chức năng 1,72 (1,39–2,13) | Người | Cắt ngang; hồi quy logistic đa biến hiệu chỉnh giai đoạn mãn kinh, tuổi, thu nhập, hôn nhân, thực phẩm chức năng, bệnh mạn tính, rượu, trầm cảm, căng thẳng. Cỡ mẫu: n = 3.000 | Hwang và cs., 2021 |
| b3-050 | Ở 634 phụ nữ Hàn Quốc 44–56 tuổi không dùng liệu pháp hormone (Kangbuk Samsung Health Study), tỉ lệ ngủ kém (PSQI > 5) là 14,4% trước mãn kinh, 18,2% quanh mãn kinh và 30,2% sau mãn kinh. | 14,4% / 18,2% / 30,2%; chung 19,4%; PSQI trung bình 3,6 ± 2,3 | Người | Cắt ngang; người khám sức khoẻ tại trung tâm (Seoul, Suwon); PSQI > 5; MENQOL. Cỡ mẫu: n = 634 | Kim và cs., 2018 |
| b3-051 | Trong cùng mẫu Hàn Quốc, điểm VMS và triệu chứng thể chất (MENQOL) liên quan với điểm PSQI cao hơn sau hiệu chỉnh nhiều yếu tố gồm trầm cảm và căng thẳng; triệu chứng tâm lý – xã hội và tình dục không liên quan. | Vận mạch β = 0,240 (p = 0,020); thể chất β = 0,572 (p < 0,001) | Người | Cắt ngang; hồi quy tuyến tính đa biến hiệu chỉnh tuổi, BMI, tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc, hôn nhân, thu nhập, học vấn, việc làm, số con, vận động, trầm cảm, căng thẳng, giai đoạn mãn kinh. Cỡ mẫu: n = 634 | Kim và cs., 2018 |
| b3-052 | Hồ sơ 1.451 phụ nữ quanh/sau mãn kinh khám tại phòng khám mãn kinh ở Tokyo: 50,8% có mất ngủ; mất ngủ liên quan chặt với khí sắc trầm hơn là với cơn bốc hoả/đổ mồ hôi đêm, và khoảng một phần ba người mất ngủ trầm cảm nặng. | Tỉ lệ mất ngủ 50,8% | Người | Phân tích hồi cứu hồ sơ phòng khám (1995–2009); công cụ đo mất ngủ không nêu trong tóm tắt. Cỡ mẫu: n = 1.451 | Terauchi và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b3-053 | Phụ nữ Hoa 45–55 tuổi ở Hồng Kông (câu lạc bộ phụ nữ cộng đồng): 26% ngủ kém theo PSQI. Quanh và sau mãn kinh báo cáo rối loạn giấc ngủ nhiều hơn trước mãn kinh nhưng giai đoạn mãn kinh không phải yếu tố dự báo độc lập; than phiền thể chất, triệu chứng tâm lý và căng thẳng đi kèm OR 4–6. | Ngủ kém (PSQI > 5) 26%; khó vào/duy trì giấc ngủ hoặc thức sớm ≥ 3 lần/tuần khoảng 18% | Người | Cắt ngang; PSQI > 5; hồi quy đa biến. Cỡ mẫu: n = 305 | Chung và Tang, 2006 (tóm tắt) |
| b3-054 | Hồ sơ đường dây tư vấn mãn kinh miễn phí toàn quốc Đài Loan (2006–2016): mất ngủ là triệu chứng thường gặp thứ ba (59,6%), sau giảm trí nhớ (66,9%) và mệt mỏi (66,5%). | Mất ngủ 59,6% | Người | Cắt ngang mô tả trên hồ sơ cuộc gọi; triệu chứng tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 20.882 phụ nữ 40–89 tuổi | Lee và Lee, 2021 (tóm tắt) |
| b3-055 | Thuần tập dọc ở một cộng đồng đô thị Trung Quốc: so với trước mãn kinh, khó vào giấc và thức sớm tăng có ý nghĩa ở giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh và sau mãn kinh. Lo âu, trầm cảm và FSH liên quan với triệu chứng mất ngủ; mất ngủ trước mãn kinh dự báo mất ngủ trung bình–nặng về sau. | Khó vào giấc: chuyển tiếp p = 0,029, sau mãn kinh p < 0,001. Thức sớm: p = 0,003 và 0,011. Với khó vào giấc: lo âu p = 0,022, trầm cảm p = 0,005. Với mất ngủ: lo âu p < 0,001, trầm cảm p = 0,018; FSH p = 0,031 | Người | Thuần tập dọc; triệu chứng mất ngủ tự báo cáo; lo âu/trầm cảm đo bằng HADS. Cỡ mẫu: n = 458 | Luo và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b3-056 | Phụ nữ 40–65 tuổi tại các trạm y tế công ở Kuching (Sarawak, Malaysia; dân tộc Iban, Hoa, Bidayuh): 52,2% có vấn đề giấc ngủ theo mục của Thang đánh giá mãn kinh (MRS), đứng thứ ba sau đau cơ khớp (80,1%) và kiệt sức (67,1%); thường gặp nhất ở quanh mãn kinh. | Vấn đề giấc ngủ 186/356 (52,2%) | Người | Cắt ngang (2007); phỏng vấn trực tiếp; MRS cải biên (có/không trong 30 ngày); giai đoạn theo STRAW. Cỡ mẫu: n = 356 (23,0% trước, 39,6% quanh, 37,4% sau mãn kinh) | Rahman và cs., 2010 |
| b3-057 | Phụ nữ sau mãn kinh ở Tây An (Trung Quốc): điểm PSQI trung bình 8,58; người ngủ tốt (PSQI ≤ 5) có OR 0,51 cho nguy cơ tim mạch Framingham 10 năm cao. | PSQI 8,58 ± 4,37; OR 0,51 (KTC 95% 0,26–0,97) cho Framingham ≥ 10% | Người | Phân tích thứ cấp nghiên cứu cắt ngang cộng đồng; PSQI bản tiếng Trung; hồi quy logistic hiệu chỉnh việc làm, thói quen tập luyện. Cỡ mẫu: n = 154, tuổi 63,65 ± 4,47 | Chair và cs., 2017 |
| b3-058 | Trong SWAN, ở phụ nữ có VMS thường xuyên (≥ 6 ngày trong 2 tuần), thời gian kéo dài trung vị của VMS là 7,4 năm, ngắn nhất ở phụ nữ Nhật (4,8 năm) và Hoa (5,4 năm), dài nhất ở phụ nữ gốc Phi (10,1 năm). | Trung vị: gốc Phi 10,1; gốc Tây Ban Nha 8,9; da trắng 6,5; Hoa 5,4; Nhật 4,8 năm; sau kỳ kinh cuối còn 4,5 năm | Người | Thuần tập SWAN; VMS tự báo cáo hằng năm, "thường xuyên" = cơn bốc hoả hoặc đổ mồ hôi đêm ≥ 6 ngày trong 2 tuần trước; phân tích sống còn. Cỡ mẫu: n = 1.449 (Hoa 95, Nhật 114) | Avis và cs., 2015 |
| b3-059 | Tổng kết SWAN: phụ nữ Mỹ gốc Tây Ban Nha, Hoa và Nhật sinh tại Mỹ báo cáo nhiều than phiền giấc ngủ hơn phụ nữ cùng sắc tộc là người nhập cư thế hệ thứ nhất. | Định tính | Tổng quan | Tổng kết các công bố của thuần tập SWAN; giấc ngủ tự báo cáo. Cỡ mẫu: SWAN (cỡ mẫu không nêu trong đoạn đã đọc) | El Khoudary và cs., 2019 |
| b3-060 | Tổng kết SWAN: trên PSG, phụ nữ da đen có thời lượng ngủ ngắn hơn, độ trễ vào giấc dài hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn phụ nữ da trắng và phụ nữ Hoa. Với khác biệt đo bằng actigraphy, khó khăn tài chính, vấn đề sức khoẻ và (ở phụ nữ da đen) cơn bốc hoả là các yếu tố trung gian chính. | Định tính | Tổng quan | Tổng kết SWAN Sleep Study (PSG tại nhà) và actigraphy. Cỡ mẫu: SWAN Sleep Study n = 370 ở 4 điểm nghiên cứu | El Khoudary và cs., 2019 |
| b3-061 | Tổng kết SWAN: trong bốn kiểu diễn tiến than phiền giấc ngủ, chỉ khoảng 15% phụ nữ có than phiền tăng gắn với kỳ kinh cuối (chủ yếu thức nhiều lần); các nhóm còn lại ổn định hoặc tăng tuyến tính phù hợp với lão hoá. | Khoảng 15% | Tổng quan | Tổng kết SWAN; mô hình quỹ đạo theo nhóm. Cỡ mẫu: SWAN | El Khoudary và cs., 2019 |
| b3-063 | SWAN theo dõi tới 17 năm quanh kỳ kinh cuối (final menstrual period, FMP): tỉ lệ thức giấc nhiều lần ≥ 3 đêm/tuần tăng từ 24,4% trước FMP lên 33,6% quanh FMP và 40,3% sau FMP. | 24,4% → 33,6% → 40,3% | Người | Thuần tập dọc SWAN; trung bình 12,0 ± 2,8 lần đánh giá/người; giấc ngủ tự báo cáo 2 tuần qua (≥ 3 lần/tuần); giai đoạn: trước FMP (> 2,5 năm trước), quanh FMP (2,5 năm trước đến ≤ 1 năm sau), sau FMP (> 1 năm sau); mô hình quỹ đạo theo nhóm; hiệu chỉnh sắc tộc, điểm nghiên cứu và các biến khác. Cỡ mẫu: n = 1.285 phụ nữ mãn kinh tự nhiên; theo dõi 2,9–17,1 năm (trung vị 15,3) | Kravitz và cs., 2017 |
| b3-064 | Trong cùng phân tích, bốn quỹ đạo thức giấc nhiều lần được xác định: thấp (37,9%), trung bình (28,4%), tăng dần (15,3%) và cao (18,4%); VMS thường xuyên liên quan với thức giấc ở mọi giai đoạn, còn triệu chứng trầm cảm không còn ý nghĩa sau hiệu chỉnh. | Thấp 37,9% (n = 487); trung bình 28,4% (365); tăng 15,3% (197); cao 18,4% (236) | Người | Thuần tập dọc; mô hình quỹ đạo theo nhóm (group-based trajectory). Cỡ mẫu: n = 1.285 (da trắng 45,2%, da đen 28,9%, Nhật 11,2%, Hoa 9,6%, gốc Tây Ban Nha 5,1%) | Kravitz và cs., 2017 |
| b3-065 | Nghiên cứu Sức khoẻ Phụ nữ Trung niên Seattle: thức giấc ban đêm liên quan với giai đoạn cuối chuyển tiếp và đầu sau mãn kinh, với cơn bốc hoả, khí sắc trầm và FSH nước tiểu; khó vào giấc liên quan với cortisol thấp hơn. | Thức giấc ban đêm: p < 0,001 cho giai đoạn, cơn bốc hoả, khí sắc trầm, FSH; E1G p = 0,030. Khó vào giấc – cortisol thấp p = 0,009 | Người | Thuần tập cộng đồng 1990–2007; lịch kinh nguyệt hằng năm để xếp giai đoạn; nhật ký triệu chứng nhiều lần/năm; nước tiểu buổi sáng (E1G, FSH, cortisol, catecholamine); mô hình đa biến. Cỡ mẫu: n = 286 | Woods và Mitchell, 2010 (tóm tắt) |
| b3-066 | Trong SWAN Sleep Study, FSH tăng nhanh hơn trong 7 năm trước đó đi kèm tỉ lệ sóng delta cao hơn và tổng thời gian ngủ dài hơn trên PSG, nhưng lại đi kèm chất lượng giấc ngủ tự đánh giá (PSQI) kém hơn. | Định tính (tóm tắt không có hệ số) | Người | Cắt ngang lồng trong thuần tập SWAN; PSG tại nhà 2 đêm + PSQI; FSH, estradiol, testosterone đo hằng năm trước đó. Cỡ mẫu: n = 365 (gốc châu Âu, gốc Phi, Hoa) | Sowers và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b3-067 | Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: ở phụ nữ quanh mãn kinh không than phiền giấc ngủ, FSH cao hơn đi kèm WASO, số lần thức và vi thức nhiều hơn trên PSG, độc lập với tuổi, BMI và cơn bốc hoả; estradiol không tương quan với giấc ngủ ở nhóm quanh mãn kinh. | Định tính; ở 11 phụ nữ trẻ 18–27 tuổi còn kinh, estradiol tương quan nghịch với vi thức (p < 0,01) và FSH tương quan với WASO và giấc ngủ N1 | Người | Cắt ngang trong phòng thí nghiệm; PSG; hormone huyết thanh. Cỡ mẫu: 33 phụ nữ quanh mãn kinh 43–52 tuổi (17 không than phiền giấc ngủ, 16 được chẩn đoán mất ngủ) + 11 phụ nữ trẻ 18–27 tuổi còn kinh, không than phiền giấc ngủ | de Zambotti và cs., 2015a (tóm tắt) |
| b3-068 | Tổng quan hệ thống các nghiên cứu dọc cộng đồng (công bố trước 2013): sau hiệu chỉnh nhiễu, đi qua giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh đi kèm nguy cơ rối loạn giấc ngủ tự báo cáo tăng nhẹ; mọi nghiên cứu đều ở nước phương Tây. | Định tính (tổng hợp tường thuật) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống, tổng hợp tường thuật do dị biệt cao; chỉ nghiên cứu dọc. Cỡ mẫu: Không nêu trong tóm tắt | Xu và cs., 2014 (tóm tắt) |
| b3-069 | SWAN Sleep Study đo PSG tại nhà: phụ nữ gốc Phi có giấc ngủ kém hơn phụ nữ da trắng cả về tự báo cáo, cấu trúc giấc ngủ và công suất EEG NREM; giấc ngủ sóng chậm khác nhau giữa phụ nữ Hoa và da trắng; khác biệt vẫn còn sau hiệu chỉnh kinh tế – xã hội. Căng thẳng tài chính đi kèm chất lượng và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn. | Định tính (tóm tắt không có số) | Người | Cắt ngang; PSG tại nhà nhiều đêm; hiệu chỉnh chỉ số kinh tế – xã hội và các yếu tố ảnh hưởng giấc ngủ tuổi trung niên. Cỡ mẫu: n = 368 (171 da trắng, 138 gốc Phi, 59 Hoa) | Hall và cs., 2009 (tóm tắt) |
| b3-070 | Tổng kết SWAN Sleep Study: công suất sóng beta EEG (chỉ dấu kích thích nhận thức) trong giấc ngủ cao hơn ở phụ nữ cuối quanh mãn kinh và sau mãn kinh; cơn bốc hoả giải thích một phần. | Định tính | Tổng quan | Tổng kết SWAN Sleep Study; PSG tại nhà, phân tích phổ EEG. Cỡ mẫu: SWAN Sleep Study n = 370 | El Khoudary và cs., 2019 |
| b3-071 | Trong nghiên cứu PSG trong phòng thí nghiệm ở phụ nữ quanh mãn kinh, người tham gia tự đánh giá thấp WASO, số lần thức và số cơn bốc hoả so với số đo khách quan. | Theo bảng 1: WASO tự báo cáo 45,7 so với PSG 60,1 phút; số lần thức 3,6 so với 26,6; cơn bốc hoả 1,5 so với 3,5 mỗi đêm | Người | Cắt ngang; so sánh bảng hỏi buổi sáng với PSG và độ dẫn điện da. Cỡ mẫu: n = 34 | de Zambotti và cs., 2014 |
| b3-074 | Tổng quan của Baker (2023): 40–60% phụ nữ báo cáo rối loạn giấc ngủ trong giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh, nhưng khoảng một phần tư có rối loạn nặng ảnh hưởng chức năng ban ngày, đủ tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ. | Triệu chứng 40–60%; mức rối loạn mất ngủ khoảng 25% | Tổng quan | Tổng quan tường thuật (dẫn các nghiên cứu dịch tễ, chủ yếu SWAN). Cỡ mẫu: Không áp dụng | Baker, 2023 |
| b3-076 | Tổng quan của Baker (2023) dẫn rằng khoảng 40% phụ nữ ở giai đoạn cuối chuyển tiếp mãn kinh báo cáo thức giấc nhiều lần trong đêm. | Khoảng 40% | Tổng quan | Tổng quan tường thuật. Cỡ mẫu: Không áp dụng | Baker, 2023 |
| b3-077 | Trong SWAN, ở phụ nữ có VMS thường xuyên (≥ 6 ngày trong 2 tuần) còn triệu chứng sau kỳ kinh cuối, VMS kéo dài thêm trung vị 4,5 năm (chưa hiệu chỉnh). | 4,5 năm (chưa hiệu chỉnh) | Người | Thuần tập SWAN; phân tích sống còn ở người có VMS sau kỳ kinh cuối. Cỡ mẫu: n = 881 | Avis và cs., 2015 |
Dùng ở chương: Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-013 | Phân tích gộp các thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm giả dược: liệu pháp hormone mãn kinh (menopausal hormone therapy, MHT) đi kèm chất lượng giấc ngủ tự báo cáo tốt hơn chỉ ở phụ nữ có VMS lúc bắt đầu; ở phụ nữ không có VMS, hiệu ứng gần bằng 0. | Có VMS: hiệu số trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference, SMD) −0,54 (KTC 95% −0,91 đến −0,18; I² = 0%; độ chắc chắn trung bình). Không có VMS: SMD −0,04 (I² = 43%; KTC công bố −0,15 đến 0,24). Gộp chung: SMD −0,12 (−0,37 đến 0,13; I² = 66%; độ chắc chắn thấp) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp; 42 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) được đưa vào, 7 RCT có nhóm giả dược được gộp; mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên; kết cục chỉ là chất lượng giấc ngủ tự báo cáo (không có PSG); đánh giá GRADE. Cỡ mẫu: 7 RCT, n = 15.468 phụ nữ | Cintron và cs., 2017 |
| b3-014 | Phân tích gộp 15 RCT so với giả dược: liệu pháp hormone đi kèm điểm chất lượng giấc ngủ tự báo cáo tốt hơn ở mức nhỏ. | SMD −0,13 (KTC 95% −0,18 đến −0,08), p < 0,00001, I² = 41%; độ chắc chắn trung bình | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp RCT có nhóm giả dược; bảng hỏi (PSQI, WHIIRS, MOS-sleep…) ở 12 thử nghiệm, PSG ở 5 thử nghiệm; GRADE; kiểm định Egger gợi ý sai lệch xuất bản. Cỡ mẫu: 15 RCT, n = 27.715 (14.058 nhóm hormone, 13.657 nhóm chứng) | Pan và cs., 2022 |
| b3-015 | Trong cùng phân tích gộp, các chỉ số đo bằng PSG (tổng thời gian ngủ, độ trễ giấc ngủ, hiệu quả giấc ngủ, số vi thức) không khác có ý nghĩa giữa nhóm hormone và giả dược. | Tổng thời gian ngủ SMD −0,14 (−0,48 đến 0,20); độ trễ −0,22 (−0,57 đến 0,13); hiệu quả −0,09 (−0,39 đến 0,20); vi thức −0,07 (−0,42 đến 0,28); độ chắc chắn thấp | Tổng quan | Phân tích gộp phân nhóm theo PSG (5 thử nghiệm). Cỡ mẫu: 5 RCT có PSG (cỡ mẫu nhỏ) | Pan và cs., 2022 |
| b3-016 | Phân tích phân nhóm theo đường dùng: dạng qua da có SMD về chất lượng giấc ngủ tự báo cáo lớn hơn dạng uống, nhưng đây là so sánh gián tiếp giữa các thử nghiệm khác nhau. | Qua da SMD −0,35 (−0,64 đến −0,06; I² = 18%); uống −0,10 (−0,14 đến −0,07; I² = 17%). Estrogen đơn thuần −0,14 (−0,40 đến 0,12), không có ý nghĩa | Tổng quan | Phân tích phân nhóm trong phân tích gộp RCT; kết cục tự báo cáo. Cỡ mẫu: Số thử nghiệm mỗi phân nhóm nhỏ (ví dụ 3 RCT cho 17β-estradiol) | Pan và cs., 2022 |
| b3-017 | Thử nghiệm KEEPS (4 năm, mù đôi, có giả dược) ở phụ nữ mới mãn kinh: cả estrogen ngựa liên hợp đường uống và estradiol qua da đều giảm điểm PSQI toàn phần nhiều hơn giả dược có ý nghĩa (−1,27 và −1,32 so với −0,60 điểm). Hiệu số khoảng 0,7 điểm so với giả dược (phép trừ, nhận xét của nhóm biên tập). | Thay đổi PSQI toàn phần: giả dược −0,60; estrogen ngựa liên hợp uống (o-CEE) −1,27 (p = 0,001 so với giả dược); estradiol qua da (t-E2) −1,32 (p = 0,002) | Người | RCT đa trung tâm, mù đôi, 3 nhánh có giả dược, 4 năm; nhánh hormone có kèm progesterone theo chu kỳ; kết cục Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và 6 lĩnh vực. Cỡ mẫu: 727 ngẫu nhiên hoá (275 giả dược, 230 o-CEE, 222 t-E2); 653 có PSQI (243/209/201) | Cintron và cs., 2018 |
| b3-018 | Trong KEEPS, tỉ lệ ngủ kém (PSQI > 8) giảm từ 21% xuống 9% ở nhánh estradiol qua da và từ 28% xuống 16% ở nhánh estrogen uống, so với 22% xuống 17% ở nhánh giả dược; so với giả dược, chỉ mức giảm ở nhánh qua da có ý nghĩa thống kê. | t-E2: 21% → 9%; o-CEE: 28% → 16%; giả dược: 22% → 17% (p trong nhóm < 0,001 / < 0,001 / 0,06). So với giả dược: t-E2 p = 0,003; o-CEE p = 0,07 | Người | RCT mù đôi 4 năm; PSQI. Cỡ mẫu: n = 653 có dữ liệu PSQI | Cintron và cs., 2018 |
| b3-019 | Trong KEEPS, mức giảm VMS tương quan yếu với mức cải thiện PSQI; hiệu ứng của hormone lên giấc ngủ vẫn còn sau khi hiệu chỉnh thay đổi VMS ở toàn mẫu, nhưng mất ý nghĩa ở nhóm có VMS trung bình–nặng lúc đầu. | Tương quan thay đổi PSQI với cơn bốc hoả rs = 0,170, với đổ mồ hôi đêm rs = 0,177 (cả hai p < 0,001). Sau hiệu chỉnh thay đổi VMS, hiệu ứng của can thiệp: toàn mẫu p = 0,020 (cơn bốc hoả) và 0,004 (đổ mồ hôi đêm); nhóm VMS trung bình–nặng p = 0,525 và 0,128 | Người | Phân tích thứ cấp trong RCT; hiệu chỉnh thay đổi VMS. Cỡ mẫu: n = 653 | Cintron và cs., 2018 |
| b3-020 | Thử nghiệm WHI estrogen + progestin ở phụ nữ sau mãn kinh 50–79 tuổi: sau 1 năm, điểm rối loạn giấc ngủ tốt hơn giả dược 0,4 điểm trên thang 20 điểm — có ý nghĩa thống kê nhưng tác giả đánh giá không có ý nghĩa lâm sàng; sau 3 năm không còn khác biệt có ý nghĩa thống kê. | 0,4/20 điểm ở năm 1; không khác biệt ở năm 3 (phân nhóm 1.511 người) | Người | RCT có giả dược (Women's Health Initiative); chất lượng sống đo bằng bảng hỏi lúc đầu, 1 năm (toàn bộ) và 3 năm (phân nhóm). Cỡ mẫu: n = 16.608 (8.506 hormone, 8.102 giả dược) | Hays và cs., 2003 (tóm tắt) |
| b3-021 | Phân tích gộp dữ liệu cá nhân 4 thử nghiệm MsFLASH ở phụ nữ có cơn bốc hoả và mất ngủ (ISI ≥ 12): so với nhóm chứng, venlafaxine giảm Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) 2,3 điểm và tập thể dục aerobic 2,1 điểm; escitalopram, yoga và estradiol giảm ít; omega-3 không giảm. | ISI so với nhóm chứng: venlafaxine −2,3; tập aerobic −2,1; escitalopram, yoga, estradiol: giảm nhỏ; omega-3: không hiệu quả. PSQI: các nhánh thuốc/vận động giảm khoảng 1,2–1,6 điểm | Người | Phân tích gộp dữ liệu cá nhân từ 4 RCT (MsFLASH 01–04); nhóm chứng: giả dược (escitalopram, omega-3, estradiol, venlafaxine), sinh hoạt thường lệ (yoga, tập luyện), giáo dục về mãn kinh (nhóm chứng của nhánh liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ, CBT-I); 8–12 tuần; ISI và PSQI tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 546 phụ nữ quanh/sau mãn kinh (phân tích ISI 511, PSQI 494) | Guthrie và cs., 2018 |
| b3-022 | Thử nghiệm MsFLASH 3 nhánh 8 tuần: so với giả dược, venlafaxine giảm điểm ISI có ý nghĩa và estradiol đường uống giảm PSQI có ý nghĩa; tác giả gọi đây là mức giảm "khiêm tốn" (modestly); mức chênh so với giả dược khoảng 1–2 điểm (phép trừ, nhận xét của nhóm biên tập). | ISI: estradiol −4,1 (KTC 95% −5,3 đến −3,0), venlafaxine −5,0 (−6,1 đến −3,9), giả dược −3,0 (−3,8 đến −2,3) (p so với giả dược 0,09 và 0,007). PSQI: estradiol −2,2 (−2,8 đến −1,6; p = 0,04), venlafaxine −2,3 (−2,9 đến −1,6; p = 0,06), giả dược −1,2 (−1,7 đến −0,8) | Người | RCT mù đôi 3 nhánh tỉ lệ 2:2:3, 8 tuần; phụ nữ quanh/sau mãn kinh có ≥ 2 cơn bốc hoả khó chịu/ngày; ISI, PSQI tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 339 (97 estradiol, 96 venlafaxine, 146 giả dược) | Ensrud và cs., 2015 (tóm tắt) |
| b3-023 | Hai thử nghiệm pha 3 OASIS 1 và 2: elinzanetant (thuốc đối kháng thụ thể neurokinin-1 và -3) giảm điểm rối loạn giấc ngủ tự báo cáo PROMIS SD SF 8b nhiều hơn giả dược ở tuần 12. | Hiệu số trung bình bình phương nhỏ nhất (LS mean) so với giả dược: OASIS 1 −5,6 (KTC 95% −7,2 đến −4,0); OASIS 2 −4,3 (−5,8 đến −2,9); cả hai p < 0,001 (thang điểm T) | Người | Hai RCT pha 3 đa trung tâm, đa quốc gia, mù đôi, có giả dược; 12 tuần so sánh với giả dược rồi 14 tuần dùng thuốc; kết cục giấc ngủ là thang tự báo cáo PROMIS Sleep Disturbance Short Form 8b (kết cục phụ chính). Cỡ mẫu: OASIS 1: 199 thuốc / 197 giả dược (Mỹ, châu Âu, Israel); OASIS 2: 200 / 200 (Mỹ, Canada, châu Âu) | Pinkerton và cs., 2024 |
| b3-024 | Thử nghiệm pha 2 NIRVANA đo bằng PSG: elinzanetant giảm WASO so với giả dược ở tuần 4 (khoảng 22 phút) nhưng đến tuần 12 khác biệt gần như bằng 0. | WASO trên PSG, hiệu số LS mean: tuần 4 (kết cục chính) −22,50 phút (KTC 90% −35,47 đến −9,52); tuần 12 −0,94 phút (KTC 90% −13,96 đến 12,09). Hậu kiểm 12 tuần (mô hình hệ số ngẫu nhiên, KTC 95%, không kiểm định giả thuyết): WASO −10,07 phút (−18,54 đến −1,60); tổng thời gian ngủ +17,8 phút (6,68–29,00); hiệu quả +4,2% (1,84–6,45) | Người | RCT pha 2, ngẫu nhiên 1:1 với giả dược, 12 tuần; kết cục PSG (WASO; phân tích hậu kiểm thêm tổng thời gian ngủ, hiệu quả, số lần thức, vi thức), nhật ký giấc ngủ và thiết bị theo dõi không tiếp xúc tại nhà (phân nhóm). Cỡ mẫu: n = 110 (55 thuốc, 55 giả dược) phụ nữ sau mãn kinh 40–65 tuổi có VMS trung bình–nặng (≥ 20 cơn/tuần) và WASO trên PSG ≥ 30 phút (trung bình 2 đêm sàng lọc) | Baker và cs., 2026 |
| b3-025 | Phân tích gộp SKYLIGHT 1 và 2: fezolinetant (thuốc đối kháng thụ thể neurokinin-3) ở mức liều cao hơn giảm điểm PROMIS rối loạn giấc ngủ so với giả dược ở tuần 12; mức liều thấp hơn không khác có ý nghĩa. Cả hai mức liều giảm điểm suy giảm chức năng liên quan giấc ngủ. | PROMIS SD SF 8b, hiệu số LS mean so với giả dược tuần 12: mức liều thấp −0,6 (KTC 95% −1,7 đến 0,4); mức liều cao −1,5 (−2,5 đến −0,5). PROMIS SRI SF 8a: −1,1 (−2,1 đến −0,1) và −1,3 (−2,3 đến −0,3). PGI-C "tốt hơn nhiều/vừa": 40,1% (110/274) và 51,0% (154/302) so với 33,6% (98/292) giả dược | Người | Phân tích gộp 2 RCT pha 3 mù đôi có giả dược, 12 tuần; thang tự báo cáo PROMIS và PGI-C/PGI-S. Cỡ mẫu: n = 1.022 người ngẫu nhiên hoá và dùng ≥ 1 liều (342 giả dược, 339 và 341 ở hai mức liều) | Shapiro và cs., 2024 |
| b3-026 | Phân tích thứ cấp một RCT gabapentin cho cơn bốc hoả: điểm nhân tố chất lượng giấc ngủ của PSQI tốt hơn giả dược ở tuần 4 và 12; điểm PSQI toàn phần tốt hơn ở tuần 4. | Nhân tố chất lượng giấc ngủ: p < 0,03 (tuần 4 và 12); PSQI toàn phần tuần 4: p = 0,004; nhân tố hiệu quả giấc ngủ tuần 4: p = 0,05; nhân tố rối loạn hằng ngày: không khác | Người | Phân tích thứ cấp RCT mù đôi có giả dược; PSQI theo mô hình 3 nhân tố; đo tuần 4 và 12. Cỡ mẫu: Tóm tắt không nêu cỡ mẫu | Yurcheshen và cs., 2009 (tóm tắt) |
| b3-027 | RCT 4 tuần, một trung tâm, ở phụ nữ quanh/sau mãn kinh mất ngủ mạn tính gắn với VMS: suvorexant (thuốc đối kháng thụ thể orexin) giảm ISI nhiều hơn giả dược sau hiệu chỉnh ISI ban đầu và chủng tộc (p = 0,04; chưa hiệu chỉnh p = 0,10), hiệu số khoảng 2,5 điểm (phép trừ, nhận xét của nhóm biên tập). WASO và tổng thời gian ngủ theo nhật ký có xu hướng tốt hơn nhưng không còn ý nghĩa sau hiệu chỉnh so sánh bội. | ISI giảm −8,1 (KTC 95% −10,2 đến −6,0) so với giả dược −5,6 (−7,4 đến −3,9), p = 0,04 (đã hiệu chỉnh). WASO nhật ký −30,6 so với −12,6 phút (p = 0,05; sau FDR 0,15); tổng thời gian ngủ +40,1 so với +3,5 phút (p = 0,09; sau FDR 0,19). VMS ban đêm −1,8 so với −0,6 lần (p = 0,0005) | Người | RCT mù đôi có giả dược, 4 tuần; ISI ≥ 15 và WASO nhật ký > 30 phút; kết cục ISI, nhật ký giấc ngủ, nhật ký VMS (không dùng PSG). Cỡ mẫu: n = 56 bắt đầu dùng thuốc nghiên cứu (27 suvorexant, 29 giả dược), 40–65 tuổi, mất ngủ mạn tính theo DSM-5 | Rahman và cs., 2022 |
| b3-028 | Phân tích thứ cấp RCT nitroglycerin qua da 12 tuần: lúc vào nghiên cứu, 62,6% phụ nữ báo cáo thức giấc vì cơn bốc hoả ít nhất 2 lần mỗi đêm; thuốc không làm giấc ngủ tốt hơn giả dược, nhưng ở cả hai nhóm, mức giảm cơn bốc hoả càng lớn thì PSQI và WASO càng giảm. | Thức vì cơn bốc hoả −0,9 (thuốc) và −1,0 (giả dược) lần/đêm; WASO −10,1 và −7,3 phút; PSQI −1,3 và −1,2; liên quan giảm cơn bốc hoả – PSQI β = −0,30 (p = 0,01), – WASO β = −1,88 (p = 0,02) | Người | Phân tích thứ cấp RCT mù đôi có giả dược, 12 tuần; WASO theo nhật ký, PSQI, nhật ký triệu chứng 7 ngày. Cỡ mẫu: n = 141 (70 thuốc, 71 giả dược), tuổi 54,6 ± 3,9 | Pei và cs., 2024 (tóm tắt) |
| b3-029 | Phân tích phân nhóm theo loại progestogen: estrogen phối hợp progesterone vi hạt có SMD −0,22, estrogen phối hợp medroxyprogesterone acetate (MPA) có SMD −0,10 (so sánh gián tiếp). | Estrogen + progesterone vi hạt SMD −0,22 (−0,37 đến −0,06; p = 0,007; I² = 0%); estrogen + MPA −0,10 (−0,13 đến −0,07; I² = 0%) | Tổng quan | Phân tích phân nhóm trong phân tích gộp RCT; kết cục tự báo cáo. Cỡ mẫu: Số thử nghiệm mỗi phân nhóm nhỏ; phân nhóm MPA chủ yếu từ thử nghiệm lớn (WHI) | Pan và cs., 2022 |
| b3-030 | Trong phân tích gộp dữ liệu cá nhân MsFLASH, liệu pháp nhận thức – hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia, CBT-I) có mức giảm ISI so với nhóm chứng lớn nhất trong các can thiệp được thử (5,2 điểm), và mức giảm PSQI lớn nhất (2,7 điểm). | ISI −5,2 (KTC 95% −7,0 đến −3,4); PSQI −2,7 (−3,9 đến −1,5) so với nhóm chứng | Người | Phân tích gộp dữ liệu cá nhân 4 RCT MsFLASH; nhánh CBT-I so với giáo dục về mãn kinh; 8 tuần; ISI và PSQI tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 546 (toàn bộ phân tích gộp) | Guthrie và cs., 2018 |
| b3-031 | RCT MsFLASH: CBT-I qua điện thoại (6 buổi trong 8 tuần) giảm ISI nhiều hơn nhóm giáo dục về mãn kinh 5,2 điểm ở tuần 8 và 4,0 điểm ở tuần 24; PSQI giảm thêm 2,7 và 1,6 điểm. | ISI: tuần 8 −5,2 (KTC 95% như bài công bố: −6,1 đến −3,3, không đối xứng quanh ước lượng điểm); tuần 24 −4,0 (−6,0 đến −1,9). PSQI: tuần 8 −2,7 (−3,9 đến −1,5); tuần 24 −1,6 (−2,7 đến −0,5) | Người | RCT một trung tâm (Washington, Mỹ), 2013–2015; CBT-I qua điện thoại so với giáo dục về mãn kinh (cùng số buổi); đánh giá viên bị làm mù; phân tích theo ý định can thiệp; kết cục ISI (chính), PSQI, nhật ký giấc ngủ. Cỡ mẫu: n = 106 phụ nữ quanh/sau mãn kinh 40–65 tuổi, ISI ≥ 12 và ≥ 2 cơn bốc hoả/ngày | McCurry và cs., 2016 |
| b3-032 | Trong cùng RCT, theo nhật ký giấc ngủ, nhóm CBT-I có WASO thấp hơn khoảng 20 phút và độ trễ vào giấc ngắn hơn khoảng 19 phút so với nhóm chứng ở tuần 8; tổng thời gian ngủ không khác có ý nghĩa thống kê; tần suất, mức độ và mức khó chịu của cơn bốc hoả không khác có ý nghĩa giữa hai nhóm. | WASO tuần 8 −20,4 phút (KTC 95% −39,1 đến −1,7); tuần 24 −6,7 (−24,2 đến 10,7; bài ghi p = 0,02). Độ trễ vào giấc tuần 8 −19,3 phút (−31,8 đến −6,8) | Người | RCT; nhật ký giấc ngủ; nhật ký cơn bốc hoả; Thang cản trở sinh hoạt do cơn bốc hoả (Hot Flash Related Daily Interference Scale). Cỡ mẫu: n = 106 | McCurry và cs., 2016 |
| b3-033 | RCT ở phụ nữ sau mãn kinh mất ngủ khởi phát hoặc nặng lên quanh mãn kinh: ISI giảm 7,70 điểm với CBT-I, 6,56 điểm với liệu pháp giới hạn giấc ngủ (sleep restriction therapy, SRT) và 1,12 điểm với giáo dục vệ sinh giấc ngủ (nhóm chứng). | ISI sau can thiệp: CBT-I −7,70; SRT −6,56; vệ sinh giấc ngủ −1,12. Cỡ hiệu ứng d = 1,43 (CBT-I), 1,66 (SRT) | Người | RCT một trung tâm (Michigan, Mỹ), 3 nhánh; CBT-I 6 buổi trực tiếp; SRT 2 tuần; nhóm chứng 6 email giáo dục vệ sinh giấc ngủ; kết cục ISI (chính) và nhật ký giấc ngủ; PSG chỉ dùng để sàng lọc; theo dõi sau can thiệp và 6 tháng. Cỡ mẫu: n = 150 (50/nhánh), tuổi 56,44 ± 5,64, rối loạn mất ngủ theo DSM-5 | Drake và cs., 2019 |
| b3-034 | Trong cùng RCT, tỉ lệ thuyên giảm mất ngủ (ISI ≤ 7) sau 6 tháng là 67,8% với CBT-I, 55,8% với SRT và 13,3% với giáo dục vệ sinh giấc ngủ. | Ngay sau can thiệp: 54% / 38% / 4%; 6 tháng: 67,8% / 55,8% / 13,3% (CBT-I / SRT / vệ sinh giấc ngủ) | Người | RCT 3 nhánh; ISI. Cỡ mẫu: n = 150 | Drake và cs., 2019 |
| b3-035 | Phân tích gộp 15 RCT can thiệp không dùng thuốc ở phụ nữ quanh/sau mãn kinh: gộp chung có hiệu ứng lớn lên PSQI và ISI nhưng dị biệt rất cao; riêng phân nhóm CBT (3 thử nghiệm PSQI, 2 thử nghiệm ISI) có khoảng tin cậy đi qua 0. | Chung: PSQI SMD −1,32 (−1,78 đến −0,86; I² = 91%); ISI SMD −1,11 (−1,82 đến −0,41; I² = 88%). CBT: PSQI g = −0,61 (−1,78 đến 0,56); ISI g = −0,66 (−3,74 đến 2,43). Châm cứu (5 RCT; nhóm chứng lẫn châm giả và không can thiệp): PSQI g = −2,11 (−3,04 đến −1,17) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp RCT; RoB 2.0 (9 thấp, 3 có lo ngại, 3 cao); can thiệp: châm cứu 5, CBT 3, yoga 2, pilates 2, đi bộ 2, thiền 2, hương liệu 1 (cộng lại 17, nhiều hơn 15 RCT; bài ghi không thống nhất). Cỡ mẫu: 15 RCT (tổng cỡ mẫu không nêu) | Ha và cs., 2023 |
| b3-036 | Phân tích gộp RCT CBT-I ở phụ nữ mất ngủ quanh mãn kinh (Mỹ, Ai Cập, Trung Quốc, Iran, Hàn Quốc): CBT-I đi kèm chất lượng giấc ngủ tốt hơn (SMD −1,01) và ISI thấp hơn 4,49 điểm so với nhóm chứng; hình thức trực tiếp và từ xa không khác có ý nghĩa. | Chất lượng giấc ngủ SMD −1,01 (KTC 95% −1,27 đến −0,75; I² = 65%; n = 795); ISI MD −4,49 (−6,12 đến −2,87; I² = 89%; n = 504); trực tiếp −1,10 so với từ xa −0,84 (p = 0,39) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp (PROSPERO CRD42024604013); 11 RCT, 9 nghiên cứu (10 so sánh) được gộp; RoB 2.0; không chấm GRADE. Cỡ mẫu: 11 RCT, n = 973 | Moon và cs., 2025 |
| b3-037 | Tuyên bố đồng thuận 2023 về liệu pháp không hormone của Hội Mãn kinh Bắc Mỹ (NAMS, nay là The Menopause Society) xếp CBT, thôi miên lâm sàng, SSRI/SNRI, gabapentin, fezolinetant ở mức bằng chứng I cho VMS. Tuyên bố không khuyến nghị thở chậm có nhịp, thực phẩm chức năng/thảo dược, kỹ thuật làm mát, tránh yếu tố khởi phát, tập luyện, yoga, chánh niệm, thư giãn cho VMS. | Mức I: CBT, thôi miên lâm sàng, SSRI/SNRI, gabapentin, fezolinetant; mức I–II: oxybutynin; mức II–III: giảm cân, phong bế hạch sao | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố đồng thuận (position statement) dựa trên tổng quan y văn của hội đồng chuyên gia; mục tiêu là VMS, không phải mất ngủ. Cỡ mẫu: Không áp dụng | The NAMS 2023 Nonhormone Therapy Position Statement Advisory Panel, 2023 |
| b3-038 | Phần giấc ngủ trong tuyên bố NAMS 2023: thôi miên lâm sàng được ghi là giảm cơn bốc hoả, cải thiện khí sắc và giấc ngủ tốt hơn so với nhóm không can thiệp. Suvorexant không được khuyến nghị vì dữ liệu hạn chế; thiết bị làm mát chỉ có cải thiện giấc ngủ tự báo cáo so với lúc đầu (không so với nhóm chứng) và không được khuyến nghị. | Định tính (thuật lại) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố đồng thuận; các nhận định dẫn từ RCT riêng lẻ. Cỡ mẫu: Không áp dụng | The NAMS 2023 Nonhormone Therapy Position Statement Advisory Panel, 2023 |
| b3-039 | Viện Y tế và Chăm sóc Xuất sắc Quốc gia Anh (NICE) trong bản cập nhật hướng dẫn NG23 (công bố 7/11/2024; chúng tôi chỉ đọc qua tin của The Pharmaceutical Journal, 8/11/2024) đưa liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) dành riêng cho mãn kinh vào như một lựa chọn quản lý cho người từ 40 tuổi, cùng với hoặc thay cho liệu pháp hormone (HRT). Theo tin chính thức của NICE về bản dự thảo (11/2023), bằng chứng cho thấy CBT giúp các vấn đề giấc ngủ liên quan mãn kinh (thời gian vào giấc, thời gian trước khi thức). | Dự thảo công bố 17/11/2023 (tham vấn đến 5/1/2024); bản chính thức 7/11/2024 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn lâm sàng quốc gia (NICE NG23), cập nhật dựa trên rà soát bằng chứng. Cỡ mẫu: Không áp dụng | National Institute for Health and Care Excellence, 2023 (tóm tắt) |
| b3-044 | Tuyên bố NAMS 2023 ghi nhận paroxetine (một SSRI) đi kèm cải thiện tình trạng gián đoạn giấc ngủ trong thử nghiệm, không tăng cân và không ảnh hưởng xấu đến ham muốn tình dục. | Định tính (thuật lại) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố đồng thuận; dẫn kết quả RCT về paroxetine cho VMS. Cỡ mẫu: Không áp dụng | The NAMS 2023 Nonhormone Therapy Position Statement Advisory Panel, 2023 |
| b3-062 | Tổng kết SWAN 2019 viết rằng ở phân tích dọc, việc dùng liệu pháp hormone "không bảo vệ" phụ nữ sau mãn kinh khỏi rối loạn giấc ngủ. Nhưng cùng tổng kết ghi ở phân tích cắt ngang ban đầu, người dùng hormone có tỉ lệ khó khăn giấc ngủ tương đương phụ nữ trước mãn kinh, và bảng số liệu của bài dọc gốc (Kravitz 2008) cho OR ở người dùng hormone gần 1 so với trước mãn kinh. Dữ liệu quan sát SWAN về hormone vì vậy không nhất quán và không cho phép kết luận (nhận xét của nhóm biên tập). | Định tính (tổng kết). Đối chiếu bảng 3 Kravitz 2008: sau mãn kinh dùng hormone so với trước mãn kinh — khó vào giấc OR 0,95 (0,57–1,57); thức nhiều lần 1,13 (0,82–1,57); thức sớm 1,03 (0,70–1,53) | Tổng quan | Tổng kết các phân tích thuần tập quan sát SWAN (cắt ngang ban đầu và dọc 7 năm; không ngẫu nhiên hoá); giấc ngủ tự báo cáo. Cỡ mẫu: SWAN | El Khoudary và cs., 2019 |
| b3-072 | Trong RCT ở phụ nữ sau mãn kinh, theo nhật ký giấc ngủ, hiệu quả giấc ngủ sau can thiệp là 86% (CBT-I), 83% (SRT) và 76% (vệ sinh giấc ngủ); sau 6 tháng, tổng thời gian ngủ tăng 48, 43 và 26 phút so với lúc đầu. | Hiệu quả giấc ngủ 86% ± 14% / 83% ± 13% / 76% ± 14%; WASO −26,96 / −32,04 / −15,80 phút; tổng thời gian ngủ 6 tháng +48 / +43 / +26 phút (CBT-I / SRT / vệ sinh giấc ngủ) | Người | RCT 3 nhánh; nhật ký giấc ngủ (không phải PSG). Cỡ mẫu: n = 150 | Drake và cs., 2019 |
| b3-073 | Theo từng lĩnh vực PSQI trong KEEPS: độ trễ vào giấc và mức hài lòng tốt hơn giả dược ở cả hai nhánh hormone. Lĩnh vực rối loạn giấc ngủ tốt hơn giả dược ở nhánh estradiol qua da và là lĩnh vực duy nhất khác nhau giữa hai chế phẩm (qua da tốt hơn uống); hiệu quả giấc ngủ, thời lượng và rối loạn chức năng ban ngày không khác có ý nghĩa so với giả dược. | Độ trễ: t-E2 −0,27, o-CEE −0,28 so với giả dược −0,08 (p chung < 0,001). Hài lòng: −0,32, −0,34 so với −0,19 (p = 0,001). Rối loạn giấc ngủ: −0,22, −0,12 so với −0,08 (t-E2 so với giả dược p < 0,001; t-E2 so với o-CEE p = 0,029). Hiệu quả p = 0,45; thời lượng p = 0,38; ban ngày p = 0,26 | Người | RCT mù đôi 4 năm; các lĩnh vực PSQI (0–3 điểm mỗi lĩnh vực). Cỡ mẫu: n = 653 | Cintron và cs., 2018 |
Viết tắt trong trang
- AASM
- Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
- AHI
- chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
- BMI
- chỉ số khối cơ thể (body mass index)
- CBT-I
- liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- FSH
- hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- NAMS
- Hội Mãn kinh Bắc Mỹ (nay là The Menopause Society) (North American Menopause Society)
- NREM
- giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- SD
- độ lệch chuẩn (standard deviation)
- SMD
- chênh lệch trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)
- STRAW
- hệ phân giai đoạn lão hoá sinh sản (Stages of Reproductive Aging Workshop)
- SWAN
- Nghiên cứu Sức khoẻ Phụ nữ toàn quốc Mỹ (Study of Women's Health Across the Nation)
- SWS
- giấc ngủ sóng chậm (slow-wave sleep)
- VMS
- triệu chứng vận mạch (cơn bốc hoả, đổ mồ hôi đêm) (vasomotor symptoms)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục C. Dữ kiện: quanh và sau mãn kinh. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/phu-luc-c-du-kien-b3/