Chương này chỉ nói về Việt Nam và hỏi một câu: về giấc ngủ của người Việt, điều gì đã có số đo, số đo ấy đến từ thiết kế nào, và điều gì chúng tôi chưa tìm được ai đo. Kết luận chính là số đo đại diện quốc gia về giấc ngủ chỉ có ở người từ 60 tuổi. Các điều tra quốc gia khác về trẻ em, nhà ở và lao động không hỏi về giấc ngủ. Phần còn lại là nghiên cứu một trường, một xã hay một bệnh viện, với thang đo và ngưỡng khác nhau. Chương không đề xuất chính sách; chỗ nào là suy luận của nhóm biên tập được gắn nhãn SL.
Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) là bảng hỏi tự báo cáo. Tỉ số chênh (odds ratio, OR) được ghi kèm khoảng tin cậy (KTC) khi có.
Những gì có số đo đại diện quốc gia#
Người cao tuổi: LSAHV là nguồn duy nhất về giấc ngủ#
Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam, LSAHV) là khảo sát hộ gia đình đại diện quốc gia ở người từ 60 tuổi. Ở đợt nền 2018, người cao tuổi tự báo cáo ngủ trung bình 5,36 giờ mỗi đêm (n = 5.009); nam 5,52 giờ, nữ 5,23 giờ, nhóm từ 80 tuổi 5,02 giờ (Chen và Saito, 2020). Đây là câu hỏi một mục về số giờ ngủ, không đo khách quan.
Cũng theo LSAHV 2018, 56,5% người cao tuổi hài lòng với giấc ngủ. Khoảng một phần tư "thường xuyên" khó vào giấc (26,1%), thức giấc ban đêm (27,4%) hoặc dậy quá sớm không ngủ lại được (24,4%). Có 8,1% đã dùng thuốc hoặc biện pháp khác để dễ ngủ trong 2 tuần qua; câu hỏi gộp mọi loại thuốc và biện pháp. Có 34,6% ngủ trưa đều đặn, mỗi giấc trung bình 58,89 phút. Tỉ lệ ngủ trưa đều đặn ở nam là 42,9%, ở nữ 28,4%, nhưng bảng ghi chênh lệch này "không có ý nghĩa". Với hơn 6.000 người, chênh 14,5 điểm phần trăm mà không có ý nghĩa là khó tin, có thể do ký hiệu trong bảng đặt sai SL.
Thuần tập LSAHV 2018–2023 theo dõi 4.447 người cao tuổi trong 4 năm, với 514 ca tử vong, tức 12% (Chen và cs., 2026). Ngủ trưa dài từ 60 phút trở lên một cách đều đặn đi kèm OR tử vong 1,39 (KTC 95% 1,05–1,86) so với không ngủ trưa. Ngủ trưa ngắn hay trung bình không khác nhóm không ngủ trưa. Vì tử vong chiếm 12% mẫu, OR này không đọc được như tỉ số nguy cơ, và mối liên quan là quan sát, có thể do bệnh nền SL. Chúng tôi mới đọc tóm tắt.
LSAHV 2018 cũng cho bối cảnh sống: 61,3% người cao tuổi sống cùng ít nhất một người con và 8,6% sống một mình (Tran và cs., 2020). Khảo sát không đo giấc ngủ theo kiểu sống.
Trẻ em, nhà ở và lao động: điều tra quốc gia không hỏi về giấc ngủ#
Điều tra các mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ 2020–2021, thuộc chương trình điều tra cụm đa chỉ tiêu (Multiple Indicator Cluster Survey, MICS), phỏng vấn 13.359 hộ (Tổng cục Thống kê và UNICEF, 2021). Tỉ suất chết trẻ dưới 1 tuổi là 10 trên 1.000 trẻ sinh sống, tính cho 5 năm trước điều tra. Có 45,4% trẻ dưới 6 tháng được bú mẹ hoàn toàn. Trong phần báo cáo chúng tôi đọc được, MICS không có câu hỏi về nơi ngủ, tư thế ngủ hay ngủ chung của trẻ.
Về tiếp xúc da kề da sau sinh, MICS cho chỉ số có gia quyền 12,5%. Trên trang dữ liệu thô chưa gia quyền, 957 trong 1.566 phụ nữ (61,1%) nói con được đặt lên ngực mẹ, và 79,2% trong số đó cho biết trẻ đã được quấn trước (Tổng cục Thống kê và UNICEF, 2021). Nhóm biên tập suy ra chỉ số 12,5% có thể chỉ tính trẻ không quấn, vì 185 trên 1.566 bằng 11,8% SL. MICS không hỏi thời lượng da kề da.
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019 cho tỉ suất chết trẻ dưới 1 tuổi 14 trên 1.000 trẻ sinh sống (Tổng cục Thống kê, 2019). Điều tra giữa kỳ 2024 cho 11,3 (Tổng cục Thống kê, 2025). Ba con số 10, 14 và 11,3 khác nhau về phương pháp và thời kỳ tham chiếu, nên không gộp được thành một khoảng SL. Không nguồn nào tách đột tử trẻ sơ sinh hay ngạt khi ngủ. Điều tra phỏng vấn nguyên nhân tử vong quốc gia năm 2006 cũng không có nhóm nguyên nhân này (Ngo và cs., 2010).
Diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng từ 23,2 m² năm 2019 lên 26,6 m² năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2025). Tỉ lệ hộ sống dưới 8 m² mỗi người giảm từ gần 7% xuống 4,1%, cao nhất ở Đông Nam Bộ (10,7% năm 2024). Thông cáo không công bố số phòng ngủ hay số người ngủ chung phòng, nên không biết trẻ hay người lớn ngủ với ai.
Điều tra Lao động – Việc làm 2024 cho thấy người có việc làm làm trung bình 42,5 giờ mỗi tuần, và 28,7% làm trên 48 giờ (Tổng cục Thống kê, 2025). Báo cáo không có số liệu làm đêm hay làm ca, và không có câu hỏi về giấc ngủ. Theo nhận xét của nhóm biên tập, làm trên 48 giờ không đồng nghĩa với vi phạm luật, vì có thể là làm thêm hợp pháp hoặc tự làm SL.
Như vậy, chúng tôi chưa tìm được khảo sát quốc gia nào đo giấc ngủ người trưởng thành dưới 60 tuổi.
Những gì chỉ có nghiên cứu một cơ sở hay một địa phương#
Trẻ nhỏ và thanh thiếu niên#
Số liệu duy nhất bao trùm trẻ 0–36 tháng về nơi ngủ ở Việt Nam đến từ khảo sát 17 nước của Mindell và cộng sự, với 1.000 trẻ Việt Nam thu năm 2008 (Mindell và cs., 2010). Với trẻ 1 tháng tuổi còn có mẫu bà mẹ sau sinh ở một bệnh viện TP.HCM, trình bày ở dưới. Có 83,2% trẻ ngủ chung giường và 94,3% ngủ chung phòng với cha mẹ; chỉ 10,1% cha mẹ coi con có vấn đề giấc ngủ. Mẫu thuận tiện, không đại diện quốc gia, và ở Việt Nam được phỏng vấn trực tiếp bằng giấy trong khi phần lớn nước khác trả lời trực tuyến. Khảo sát do Johnson & Johnson tài trợ, hai đồng tác giả là nhân viên hãng.
Ở 948 học sinh trung học cơ sở TP.HCM đeo gia tốc kế cổ tay 7 ngày, chỉ 42,8% đạt khuyến nghị thời lượng ngủ (Phung và cs., 2026). Đây là số đo khách quan hiếm hoi ở thanh thiếu niên Việt Nam.
Ở học sinh trung học phổ thông, mọi số liệu đều từ một trường. Tỉ lệ ngủ kém là 47,5% ở một trường tại Đà Nẵng với ngưỡng PSQI ≥ 5 (Tran Danh Tien Thinh và cs., 2024). Tỉ lệ là 50,38% ở một trường tại TP.HCM (Nguyễn Văn Khanh và cs., 2025) và 61,4% ở một trường chuyên tại Tây Ninh (Tran Gia Huy và cs., 2025), cả hai với ngưỡng PSQI > 5. Ngưỡng khác nhau làm các tỉ lệ không so trực tiếp được SL.
Người trẻ và người trưởng thành#
Hai nghiên cứu cùng thang PSQI > 5 ở người trẻ cho kết quả rất khác. Mẫu hộ gia đình chọn ngẫu nhiên nhiều giai đoạn ở 1.302 người 15–30 tuổi tại thị xã Bình Minh (Vĩnh Long, 2024) cho 17,5% ngủ kém (Lâm Nhựt Anh và cs., 2025). Khảo sát trực tuyến tự chọn ở 1.209 người 15–25 tuổi ở nhiều vùng cho 53,3%, với 71,3% người trả lời là nữ (Cao Thị Thu Hà và cs., 2026). Mẫu trực tuyến tự chọn thường thu hút người quan tâm tới chủ đề, còn mẫu Bình Minh chỉ đại diện cho một thị xã bán nông thôn SL.
Ở người 18–60 tuổi, mẫu cộng đồng lớn nhất chúng tôi tìm được là 1.760 người ở một phường và một xã tỉnh Thái Bình, chọn mẫu thuận tiện (Nguyễn Đăng Thương và cs., 2025). Có 24,2% có rối loạn giấc ngủ theo tiêu chuẩn của Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, DSM-5), chủ yếu là mất ngủ.
Về người lao động, nghiên cứu nghề nghiệp chúng tôi tìm được chỉ gồm nhân viên y tế, lái xe khách và cán bộ đại học. Ở 420 điều dưỡng tại 3 bệnh viện công miền Tây Nam Bộ, 46,9% có rối loạn giấc ngủ; 75,2% làm ca xoay vòng, nhưng làm ca không đi kèm rối loạn giấc ngủ có ý nghĩa thống kê (Van Nguyen và Liu, 2022). Vì ba phần tư làm ca, nhóm so sánh nhỏ, và kết quả "không liên quan" có thể do thiếu lực thống kê SL.
Ở 200 lái xe khách đường dài, 65,5% ngủ 5 giờ mỗi đêm trở xuống (Nguyễn Thu Hà và Nguyễn Đức Sơn, 2021). Bài báo cáo OR 1,6 cho liên quan giữa ngủ kém và tai nạn, nhưng con số này không khớp với bảng của chính bài. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào về giấc ngủ của công nhân khu công nghiệp.
Bà mẹ sau sinh và người cao tuổi ở từng địa phương#
Ở 197 bà mẹ 1 tháng sau sinh tại một bệnh viện ở TP.HCM, thời lượng ngủ đo bằng Fitbit trung bình 5,53 giờ mỗi ngày; chỉ 11,2% ngủ từ 7 giờ trở lên (Kang và cs., 2026). Có 98,0% ngủ cùng phòng với con, thường cùng nhiều người nhà.
Ở người cao tuổi, các nghiên cứu địa phương dùng PSQI cho tỉ lệ ngủ kém 69,9% ở 3 xã Kiến Xương, Thái Bình (Bùi Thị Huyền Diệu và cs., 2024). Tỉ lệ là 72,9% ở người cao tuổi dân tộc Cơ Tu tại Nam Đông, Thừa Thiên Huế (Nguyễn Hoàng Thùy Linh và cs., 2023). Ở Kiến Xương, người cao tuổi tự báo cáo ngủ 5,64 giờ mỗi đêm, gần với 5,36 giờ của LSAHV. Theo nhận xét của nhóm biên tập, vì ngủ trưa phổ biến ở nhóm tuổi này, giờ ngủ đêm thấp không đồng nghĩa tổng giờ ngủ thấp SL.
Ngược với các thang đo, một thăm dò dư luận thương mại nhân Ngày Giấc ngủ Thế giới 2025 ở 900 người thành thị cho thấy 85% tự nhận "ngủ ngon" ở mức vừa phải đến rất thường xuyên (WIN International và Indochina Research, 2025). Đây là thăm dò, không phải nghiên cứu khoa học.
Thuốc ngủ, rotundin và y học cổ truyền#
Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu khách đóng giả nào ở Việt Nam xin mua thuốc ngủ, benzodiazepine hay rotundin. Nghiên cứu khách đóng giả gần nhất là ở 279 nhà thuốc tư nhân huyện Củ Chi, xin mua một thuốc nhỏ mắt kê đơn: 47,0% nhân viên bán hàng không yêu cầu đơn (Võ Thảo Nguyên và Nguyễn Thị Thu Thủy, 2021). Ở các nhà thuốc đạt chuẩn tại Vĩnh Phúc, chỉ 25,88% người mua được hỏi về đơn thuốc (Nguyễn Thị Song Hà, 2021). Cả hai không tách nhóm thuốc ngủ.
Số liệu về benzodiazepine chỉ có ở bệnh nhân nội trú. Ở 215 bệnh nhân từ 65 tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất, diazepam là thuốc có khả năng không phù hợp theo tiêu chuẩn Beers thường gặp nhất, với 55 trường hợp (Nguyen Van Tan và cs., 2023). Ở 306 bệnh nhân tăng huyết áp từ 60 tuổi nằm khoa lão tại Cần Thơ, 27,5% cho biết đã dùng thuốc ngủ trong tháng qua; thang PSQI không phân biệt thuốc kê đơn, tự mua hay thảo dược (Nguyễn Văn Tuấn và cs., 2021).
Về ngộ độc, loạt 37 người lớn ngộ độc cấp rotundin đơn thuần tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên (2024–2026) có 62,2% là tự đầu độc có chủ ý (Nguyen Dang Duc và cs., 2026). Có 10,8% phải thở máy và không có tử vong. Ở 276 trẻ ngộ độc cấp tại Bệnh viện Nhi Thái Bình, 9 ca do nhóm thuốc ngủ theo phân loại của tác giả, và bài không tách rotundin hay benzodiazepine (Vu và cs., 2026).
Ở cấp dược liệu, 160 mẫu củ bình vôi mọc tự nhiên ở Thái Nguyên có hàm lượng rotundin dao động từ 90,4 đến 981 mg/100 g theo tóm tắt (các bảng có nhiều mẫu ghi 0 mg/100 g) (Dương Văn Thảo, 2024). Đây là dữ liệu dược liệu, không phải dữ liệu trên người.
Về y học cổ truyền, tổng quan phạm vi năm 2025 tìm được 28 nghiên cứu can thiệp trong nước công bố tới 2023. Trong các nghiên cứu đó, không nghiên cứu có nhóm chứng nào được ngẫu nhiên hoá hay làm mù (Lê Thùy Chi và Nguyễn Duy Tuân, 2025). Nghiên cứu duy nhất chúng tôi tìm được có nhóm giả là nghiên cứu nhĩ châm ở 60 người sau đột quỵ, tự mô tả ngẫu nhiên, mù đôi, mới đọc được tóm tắt (Nguyễn Thị Thúy An và cs., 2024). Về việc người Việt tự dùng thảo dược để ngủ, chúng tôi chỉ tìm được một khảo sát 100 người chất lượng thấp ở ngoại thành TP.HCM (Huynh, 2021). Chi tiết ở chương về thảo dược, châm cứu và dưỡng sinh.
Văn bản chính thức nói gì và không nói gì về giấc ngủ#
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ#
Các văn bản của Bộ Y tế về chăm sóc sơ sinh chúng tôi đọc được chủ yếu nói về da kề da và bú mẹ; không văn bản nào nói về an toàn chỗ ngủ. Quyết định 4673/QĐ-BYT ngày 10/11/2014 quy định trẻ được tiếp xúc da kề da ngay sau sinh và kéo dài ít nhất 90 phút (Bộ Y tế, 2014).
Thông tư 38/2016/TT-BYT, hiệu lực từ 01/01/2017, yêu cầu cơ sở y tế cho trẻ sơ sinh nằm cùng mẹ suốt 24 giờ trong ngày để được bú mẹ hoàn toàn (Bộ Y tế, 2016). Văn bản không phân biệt nằm cùng giường hay cùng phòng, và không có điều khoản về tư thế hay an toàn khi ngủ. Mục tiêu của các điều khoản này là bú mẹ, không phải giấc ngủ.
Bộ tiêu chí Bệnh viện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc ban hành kèm Quyết định 3451/QĐ-BYT ngày 06/08/2019 đã hết hiệu lực từ 29/12/2021, thay bằng Quyết định 5913/QĐ-BYT (Bộ Y tế, 2019). Cả bảng kiểm cũ và văn bản thay thế đều tính nằm cùng phòng là "nằm cùng mẹ". Theo báo chí, hướng dẫn quốc gia năm 2025 về chăm sóc trẻ sơ sinh (Quyết định 2323/QĐ-BYT) dày 663 trang theo Báo Đại biểu Nhân dân; hai bản tin chúng tôi đọc không nhắc tới giấc ngủ (Báo Lào Cai, 2025). Chúng tôi chưa đọc được văn bản gốc.
Ở cấp giáo dục, chương trình giáo dục mầm non (Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BGDĐT ngày 13/04/2021) quy định số giấc ngủ ở nhà trẻ theo tuổi (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021). Trẻ 3–12 tháng ngủ 3 giấc, trẻ 12–18 tháng ngủ 2 giấc, mỗi giấc khoảng 90–120 phút; trẻ 18–36 tháng ngủ 1 giấc trưa khoảng 150 phút. Phần nhà trẻ không có quy định về bề mặt ngủ, tư thế ngủ hay chăn gối. Với học sinh, thông tin về giờ vào học từ 07:00 ở TP.HCM năm 2022 chỉ đến từ báo chí (VTC News, 2022).
Thuốc ngủ và rotundin#
Phụ lục II của Thông tư 18/2026/TT-BYT ngày 01/6/2026, áp dụng từ 16/7/2026, liệt kê 72 dược chất hướng thần (Bộ Y tế, 2026). Zolpidem có trong danh mục; zopiclone và rotundin không có. Chúng tôi đọc danh mục qua bản chép, chưa đối chiếu bản Công báo.
Danh mục thuốc không kê đơn của Thông tư 07/2017/TT-BYT không có rotundin (Bộ Y tế, 2017). Từ 01/7/2025, phần thuốc hoá dược của danh mục này đã hết hiệu lực theo Thông tư 12/2025/TT-BYT ngày 16/5/2025 (Bộ Y tế, 2025). Từ đó, việc một thuốc là kê đơn hay không được xác định theo hồ sơ đăng ký của từng thuốc. Vì vậy tình trạng kê đơn của một thuốc rotundin cụ thể phụ thuộc vào số đăng ký của nó, và chúng tôi chưa tra từng số đăng ký SL.
Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc của Bộ Y tế (Quyết định 3610/QĐ-BYT ngày 31/8/2015) gọi rotundin là "thuốc không cần kê đơn" (Bộ Y tế, 2015). Danh mục không kê đơn đang hiệu lực lúc đó (Thông tư 23/2014/TT-BYT) không có rotundin; câu trong hướng dẫn có thể phản ánh thực tế bán lẻ hơn là quy định SL. Hướng dẫn chuyên môn về mất ngủ không thực tổn trong Quyết định 2058/QĐ-BYT năm 2020 không nhắc tới rotundin (Bộ Y tế, 2020). Hướng dẫn này yêu cầu "hạn chế lạm dụng nhóm giải lo âu gây nghiện" nhưng không đặt giới hạn thời gian dùng benzodiazepine.
Từ 15/5/2026, Nghị định 90/2026/NĐ-CP phạt 10–20 triệu đồng với cá nhân bán thuốc kê đơn khi không có đơn (Chính phủ, 2026). Danh mục dược liệu độc hiện hành (Thông tư 13/2024/TT-BYT) không có bình vôi (Bộ Y tế, 2024). Các văn bản này được bàn kỹ ở chương về mất ngủ, thuốc ngủ và quy định kê đơn ở Việt Nam và chương về rotundin và bình vôi.
Giờ làm việc#
Bộ luật Lao động 2019 (số 45/2019/QH14, hiệu lực từ 01/01/2021) định nghĩa giờ làm việc ban đêm là từ 22:00 đến 06:00 sáng hôm sau (Quốc hội, 2019). Luật giới hạn giờ làm bình thường không quá 8 giờ mỗi ngày (10 giờ nếu quy định theo tuần) và 48 giờ mỗi tuần. Luật quy định nghỉ giữa giờ nhưng không quy định riêng giấc ngủ trưa; khoảng nghỉ trưa ở nhiều nơi là do nội quy (Quốc hội, 2019).
Câu hỏi và nguồn Việt Nam tốt nhất hiện có#
Bảng dưới đây ghi, với mỗi câu hỏi, nguồn Việt Nam tốt nhất chúng tôi tìm được, thiết kế và giới hạn chính. "Tốt nhất" ở đây là tốt nhất trong những gì đã có, không phải đủ tốt.
| Câu hỏi | Nguồn Việt Nam tốt nhất hiện có | Thiết kế | Giới hạn |
|---|---|---|---|
| Người cao tuổi ngủ bao lâu, có hài lòng không | LSAHV 2018 | Khảo sát hộ gia đình đại diện quốc gia, tự báo cáo | Chỉ người từ 60 tuổi; câu hỏi một mục, không đo khách quan |
| Ngủ trưa dài và tử vong ở người cao tuổi | LSAHV 2018–2023 (4.447 người) | Thuần tập 4 năm | Quan sát, tự báo cáo; OR với kết cục 12%; mới đọc tóm tắt |
| Người dưới 60 tuổi ngủ bao lâu, ngủ kém bao nhiêu | Bình Minh 2024 (1.302 người 15–30 tuổi); Thái Bình 2024–2025 (1.760 người 18–60 tuổi) | Cắt ngang; Bình Minh chọn mẫu xác suất | Một thị xã, hai xã phường; không có khảo sát quốc gia |
| Thanh thiếu niên có ngủ đủ không | 948 học sinh trung học cơ sở TP.HCM | Cắt ngang, gia tốc kế 7 ngày | Một thành phố; mới đọc tóm tắt |
| Trẻ dưới 3 tuổi ngủ ở đâu, với ai | Mindell 2010 (1.000 trẻ, thu năm 2008) | Cắt ngang, mẫu thuận tiện | Số liệu cũ; hãng sản phẩm trẻ em tài trợ; MICS không hỏi |
| Đột tử trẻ sơ sinh | Không có; chỉ có tỉ suất chết trẻ dưới 1 tuổi (MICS 2020–2021; Tổng điều tra 2019; giữa kỳ 2024) | Điều tra hộ và tổng điều tra | Không tách nguyên nhân; ba con số khác phương pháp |
| Bà mẹ sau sinh ngủ thế nào | 197 bà mẹ tại TP.HCM | Cắt ngang, Fitbit | Một bệnh viện đô thị; Fitbit chưa đối chiếu với đa ký giấc ngủ ở nhóm này |
| Giờ làm, làm ca và giấc ngủ | Điều tra Lao động – Việc làm 2024; 420 điều dưỡng Tây Nam Bộ | Điều tra quốc gia (giờ làm); cắt ngang (giấc ngủ) | Điều tra quốc gia không hỏi giấc ngủ; ba phần tư điều dưỡng làm ca |
| Tự mua thuốc ngủ không có đơn | Không có; gần nhất là khách đóng giả mua thuốc nhỏ mắt ở Củ Chi | Khách đóng giả | Không phải thuốc ngủ |
| Dùng thuốc ngủ ở người cao tuổi | LSAHV 2018 (8,1%); kê đơn nội trú | Khảo sát quốc gia; hồi cứu đơn thuốc | Câu hỏi gộp thuốc và biện pháp khác; nội trú không phản ánh cộng đồng |
| Rotundin là thuốc kê đơn hay không | Thông tư 12/2025/TT-BYT | Văn bản pháp quy | Phân loại theo từng số đăng ký, chưa tra |
| Ngộ độc rotundin | Loạt 37 ca ở Thái Nguyên | Loạt ca một trung tâm | Chỉ người lớn; 4 ca thở máy |
| Y học cổ truyền có tác dụng với mất ngủ không | Nhĩ châm sau đột quỵ (60 người) | Tự mô tả ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm giả | Mới đọc tóm tắt; không có số liệu nhóm chứng |
| Người Việt tự dùng thảo dược nào để ngủ | Khảo sát 100 người ngoại thành TP.HCM | Phỏng vấn, thống kê mô tả | 90% nữ; chất lượng phương pháp thấp |
Bảng cho thấy số đo quốc gia tập trung ở người cao tuổi và sức khoẻ trẻ em nói chung. Các câu hỏi về giấc ngủ ở tuổi lao động, trẻ sơ sinh và thuốc dựa vào nghiên cứu một cơ sở hay một địa phương SL.
Độ chắc chắn của các kết luận chính#
Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.
| Câu hỏi | Mức chắc chắn |
|---|---|
| Tỉ lệ mất ngủ ở người Việt là bao nhiêu? | Rất thấp |
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được khảo sát quốc gia nào đo giấc ngủ người trưởng thành dưới 60 tuổi; Điều tra Lao động – Việc làm 2024 không có câu hỏi giấc ngủ, và Điều tra Y tế quốc gia chưa kiểm được.
- Điều tra Sử dụng thời gian Việt Nam 2022 có tồn tại, nhưng chúng tôi không đọc được báo cáo kỹ thuật và chưa thấy số phút ngủ mỗi ngày được công bố.
- Chưa tìm được số liệu Việt Nam tách riêng đột tử trẻ sơ sinh hay ngạt do môi trường ngủ, và chưa tìm được văn bản nào của Bộ Y tế đề cập tư thế ngủ, nơi ngủ hay ngủ chung giường của trẻ.
- Chưa tìm được khảo sát đại diện quốc gia về nơi ngủ, tư thế ngủ, ngủ võng hay quấn trẻ; Tổng điều tra không công bố số phòng ngủ hay số người ngủ chung phòng.
- Chưa tìm được nghiên cứu khách đóng giả nào ở Việt Nam xin mua thuốc ngủ, benzodiazepine hay rotundin, và chưa có số liệu cộng đồng về tỉ lệ dùng các thuốc này.
- Chưa tra được phân loại kê đơn của từng số đăng ký rotundin và chưa đọc được Phụ lục V của Thông tư 18/2026/TT-BYT.
- Chưa tìm được báo cáo phản ứng có hại nào về rotundin hay bình vôi từ trung tâm cảnh giác dược quốc gia.
- Chưa tìm được nghiên cứu nào về giấc ngủ của công nhân khu công nghiệp, về ngủ trưa ở người đi làm, hay về kiểu sáng–tối của người trưởng thành Việt Nam.
- Chưa tìm được thử nghiệm y học cổ truyền nào trong nước đo giấc ngủ bằng đa ký giấc ngủ hay actigraphy.
Viết tắt trong trang
- DSM-5
- Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, ấn bản 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th edition)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- LSAHV
- Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam)
- MICS
- Điều tra cụm đa chỉ tiêu (Multiple Indicator Cluster Surveys)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- UNICEF
- Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (United Nations Children's Fund)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Việt Nam đã đo gì và chưa đo gì. Trong: Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt: ngủ trưa, ngủ chung, giờ giấc, thuốc ngủ, rotundin và thực hành truyền thống. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-kieu-viet/viet-nam-da-do-gi-va-chua-do-gi/