giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục A. Dữ kiện: sơ sinh và nhũ nhi (0–24 tháng)

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 44 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 90 dữ kiện của nhánh Sơ sinh và nhũ nhi (0–24 tháng) đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người hay trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b1-001) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương.

Dùng ở chương: Trẻ cần ngủ bao nhiêu: khuyến nghị và nền bằng chứng#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-001Tuyên bố đồng thuận của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) 2016 khuyến nghị trẻ 4–12 tháng ngủ 12–16 giờ mỗi 24 giờ và trẻ 1–2 tuổi ngủ 11–14 giờ mỗi 24 giờ, đều tính cả giấc ngủ ngày.4–12 tháng: 12–16 giờ/24 giờ; 1–2 tuổi: 11–14 giờ/24 giờ (kể cả ngủ ngày)Hướng dẫn, tiêu chuẩnTuyên bố đồng thuận chuyên gia theo phương pháp RAND/UCLA điều chỉnh (modified RAND/UCLA Appropriateness Method); không phải số đo trên mẫu trẻ. Cỡ mẫu: Hội đồng 13 chuyên gia; 864 bài báo được rà soátParuthi và cs., 2016b
b1-002AASM 2016 không đưa ra khuyến nghị cho trẻ dưới 4 tháng, với lý do biên độ dao động bình thường quá rộng và thiếu bằng chứng ở nhóm dưới 4 tháng; ban đầu nhóm "nhũ nhi" là 0–12 tháng rồi được thu hẹp thành 4–12 tháng.Không có khuyến nghị cho 0–3 thángHướng dẫn, tiêu chuẩnBài phương pháp luận của tuyên bố đồng thuận; mô tả quá trình rà soát và bỏ phiếu. Cỡ mẫu: 13 chuyên giaParuthi và cs., 2016a
b1-003Quy trình xây dựng khuyến nghị AASM: tìm kiếm ban đầu được 1.040 bài, còn 864 bài sau khi áp tiêu chí; hội đồng bỏ phiếu nhiều vòng trên thang Likert 9 điểm (trung vị 1–3 = không đồng ý, 4–6 = không chắc, 7–9 = đồng ý).1.040 → 864 bài; thang 9 điểmHướng dẫn, tiêu chuẩnTổng quan tài liệu + phương pháp RAND/UCLA điều chỉnh, nhiều vòng bỏ phiếu. Cỡ mẫu: 13 chuyên gia; 864 bàiParuthi và cs., 2016a
b1-004Hội đồng AASM đạt đồng thuận cho mức 12–16 giờ ở trẻ 4–12 tháng nhưng không đạt đồng thuận cho mức 16–18 giờ vì thiếu dữ liệu; chính bài phương pháp thừa nhận chỉ có ít nghiên cứu ở nhóm 4 đến dưới 12 tháng.Không đồng thuận cho 16–18 giờHướng dẫn, tiêu chuẩnBài phương pháp luận của tuyên bố đồng thuận. Cỡ mẫu: 13 chuyên giaParuthi và cs., 2016a
b1-005Bằng chứng nhũ nhi mà AASM dẫn: hai thuần tập sinh lớn tiến cứu cho thấy trẻ khoẻ mạnh ngủ trên khoảng 13–14 giờ mỗi 24 giờ; trẻ ngủ ít hơn đi kèm khả năng có vấn đề chất lượng cuộc sống cao hơn về sau.Khoảng >13 đến >14 giờ/24 giờHướng dẫn, tiêu chuẩnTóm lược bằng chứng trong tuyên bố đồng thuận (dẫn thuần tập sinh tiến cứu, thời lượng ngủ chủ yếu do cha mẹ báo cáo). Cỡ mẫu: Không nêu cụ thể trong đoạn được đọcParuthi và cs., 2016a
b1-006Hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 2019 cho trẻ dưới 5 tuổi: trẻ dưới 1 tuổi nên có 14–17 giờ (0–3 tháng) hoặc 12–16 giờ (4–11 tháng) giấc ngủ chất lượng tốt, kể cả ngủ ngày; trẻ 1–2 tuổi 11–14 giờ, kể cả ngủ ngày, với giờ ngủ và giờ dậy đều đặn.0–3 tháng: 14–17 giờ; 4–11 tháng: 12–16 giờ; 1–2 tuổi: 11–14 giờHướng dẫn, tiêu chuẩnHướng dẫn WHO dựa trên tổng quan hệ thống và bảng chứng cứ chấm theo khung GRADE (độ chắc chắn của bằng chứng). Cỡ mẫu: Không áp dụngWHO, 2019a
b1-007Trong bảng chứng cứ của hướng dẫn WHO 2019, về thời lượng ngủ và tăng mỡ cơ thể ở trẻ 0–4,9 tuổi (ngủ đo bằng actigraphy — thiết bị đeo ghi cử động — hoặc cha mẹ báo cáo), 15 nghiên cứu dọc với 31.482 trẻ được xếp chất lượng bằng chứng THẤP; đa số báo cáo ngủ ngắn đi kèm tăng mỡ, nhưng một nghiên cứu thấy ngủ dài đi kèm tăng mỡ.15 nghiên cứu dọc, n = 31.482; GRADE thấp; 18 nghiên cứu cắt ngang, n = 30.829; GRADE thấpTổng quanBảng chứng cứ GRADE trong phụ lục web của hướng dẫn WHO; nghiên cứu quan sát dọc và cắt ngang; ngủ đo bằng actigraphy hoặc cha mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 31.482 (dọc); 30.829 (cắt ngang); tuổi trung bình của các mẫu trong khoảng 0–4,9WHO, 2019b
b1-008Bảng chứng cứ WHO 2019: với điều hoà cảm xúc, bằng chứng dọc (7 phân tích trong bảng, chú thích ghi 8 nghiên cứu; 46.959–47.199 trẻ) và cắt ngang (17 nghiên cứu, 16.536 trẻ) đều được xếp RẤT THẤP; với vận động thô và tinh ở nhũ nhi (tuổi trung bình 7,4–13 tháng), 2 nghiên cứu cắt ngang (1.403 trẻ) không thấy liên quan với thời lượng ngủ (chắc chắn THẤP).Điều hoà cảm xúc: GRADE rất thấp; vận động: không liên quan, GRADE thấpTổng quanBảng chứng cứ GRADE trong phụ lục web WHO; nghiên cứu quan sát. Cỡ mẫu: Vận động: n = 1.403 nhũ nhi, 2 nghiên cứuWHO, 2019b
b1-009Quỹ Giấc ngủ Quốc gia Mỹ (National Sleep Foundation, NSF) năm 2015 xây dựng khuyến nghị thời lượng ngủ cho mọi lứa tuổi bằng hội đồng 18 thành viên từ 12 tổ chức, dùng phương pháp RAND/UCLA; trẻ sơ sinh được khuyến nghị 14–17 giờ.Sơ sinh 14–17 giờ; hội đồng 18 người, 12 tổ chứcHướng dẫn, tiêu chuẩnTuyên bố đồng thuận chuyên gia, RAND/UCLA Appropriateness Method. Cỡ mẫu: 18 chuyên giaHirshkowitz và cs., 2015 (tóm tắt)
b1-010Trang thông tin hiện hành của NSF ghi trẻ 0–3 tháng cần 14–17 giờ, trẻ 4–11 tháng khoảng 12–15 giờ mỗi ngày, và trẻ trong năm thứ hai cần 11–14 giờ (trang viết "mỗi đêm"); NSF thêm rằng chênh thêm một hai giờ mỗi phía của khoảng có thể vẫn phù hợp tuỳ từng người.0–3 tháng: 14–17 giờ; 4–11 tháng: 12–15 giờ; 1–2 tuổi: 11–14 giờHướng dẫn, tiêu chuẩnTrang phổ biến kiến thức của NSF, dựa trên khuyến nghị 2015. Cỡ mẫu: Không áp dụngNational Sleep Foundation, 2026
b1-011Tổng quan hệ thống 34 nghiên cứu quan sát (bảng hỏi hoặc nhật ký) của Galland và cộng sự đưa ra giá trị tham chiếu trung bình thời lượng ngủ 12,8 giờ ở nhũ nhi, với khoảng ±1,96 độ lệch chuẩn từ 9,7 đến 15,9 giờ; ở nhóm tuổi chập chững/mẫu giáo là 11,9 giờ (9,9–13,8).Nhũ nhi: 12,8 giờ (9,7–15,9); chập chững/mẫu giáo: 11,9 giờ (9,9–13,8)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích hồi quy gộp (meta-regression) 34 nghiên cứu quan sát; giấc ngủ do cha mẹ báo cáo qua bảng hỏi hoặc nhật ký, không đo khách quan. Cỡ mẫu: 34 nghiên cứu, trẻ 0–12 tuổiGalland và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-012Trong tổng quan Galland 2012, phân tích hồi quy gộp cho thấy các nước chủ yếu châu Á có thời lượng ngủ ngắn hơn có ý nghĩa, khoảng 1 giờ ít hơn trên toàn dải 0–12 tuổi.Khoảng −1 giờ ở các nước chủ yếu châu ÁTổng quanHồi quy gộp 34 nghiên cứu quan sát; cha mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: 34 nghiên cứuGalland và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-014Galland 2012 ước tính thời gian đi vào giấc ngủ (sleep latency) tương đối ổn định trong khoảng 0–6 tuổi, nhưng dữ liệu rất thưa; phương trình phù hợp nhất cho số giờ ngủ theo tuổi 0–12 có R² = 0,89.R² = 0,89; thời gian vào giấc ổn định 0–6 tuổiTổng quanTổng quan hệ thống, hồi quy gộp; cha mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: 34 nghiên cứuGalland và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-015Trong hai thuần tập sinh Phần Lan (CHILD-SLEEP và FinnBrain), tổng thời lượng ngủ trung bình do cha mẹ báo cáo giảm từ 14,4 giờ lúc 3 tháng xuống 11,9 giờ lúc 2 tuổi.14,4 giờ (3 tháng) → 11,9 giờ (24 tháng)NgườiHai thuần tập sinh dựa dân số; Bảng hỏi giấc ngủ nhũ nhi rút gọn (Brief Infant Sleep Questionnaire, BISQ) do cha mẹ điền, thêm Infant Sleep Questionnaire ở CHILD-SLEEP; mô tả, không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: CHILD-SLEEP: 1.427 (3 tháng), 1.301 (8 tháng), 1.163 (18 tháng), 950 (24 tháng); FinnBrain: 2.002 (6 tháng), 1.693 (12 tháng)Paavonen và cs., 2020 (tóm tắt)
b1-016Trong cùng hai thuần tập Phần Lan, chất lượng giấc ngủ biến thiên rất lớn trong hai năm đầu và biến thiên giảm rõ về năm thứ hai; thời gian vào giấc giảm trước 6 tháng, còn giấc ngủ đêm chỉ bắt đầu liền mạch trong năm thứ hai.Vào giấc nhanh hơn trước 6 tháng; ngủ đêm liền mạch từ năm thứ haiNgườiHai thuần tập sinh; BISQ do cha mẹ báo cáo ở 3, 6, 8, 12, 18, 24 tháng. Cỡ mẫu: n = 950–2.002 tuỳ thời điểmPaavonen và cs., 2020 (tóm tắt)
b1-054Tổng quan về đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) ở năm đầu đời: trẻ sơ sinh đủ tháng dành khoảng 50% tổng thời gian ngủ ở giấc ngủ REM (giấc ngủ động, active sleep), tỉ lệ này giảm dần; chu kỳ ngủ ở trẻ sơ sinh dài 30–70 phút và thường bắt đầu bằng REM, khác với chu kỳ 75–90 phút bắt đầu bằng NREM ở trẻ lớn.REM ≈ 50% ở sơ sinh; chu kỳ 30–70 phút (sơ sinh) so với 75–90 phút (trẻ lớn)Tổng quanTổng quan tường thuật về PSG lâm sàng ở nhũ nhi. Cỡ mẫu: Không áp dụngKaditis và Gozal, 2022
b1-055Cũng theo Kaditis và Gozal, AASM có quy tắc riêng chấm giai đoạn ngủ (thức, NREM, REM và giai đoạn chuyển tiếp) cho trẻ đủ tháng 0–2 tháng; ngưỡng tham chiếu chỉ số ngưng thở tắc nghẽn ở bách phân vị 95 là 5,1 cơn/giờ lúc 1 tháng rồi giảm theo tuổi, và chỉ số ngưng thở trung ương vẫn cao lúc 1 và 3 tháng, giảm khoảng 75% đến 1 tuổi.Chỉ số ngưng thở tắc nghẽn (bách phân vị 95) = 5,1/giờ lúc 1 tháng; chỉ số ngưng thở trung ương giảm ≈ 75% đến 1 tuổiTổng quanTổng quan tường thuật, gộp từ hai thuần tập đo PSG/đa ký hô hấp. Cỡ mẫu: Không nêu trong phần đọc đượcKaditis và Gozal, 2022
b1-056Khảo sát 827 trẻ 0–3 tuổi tại Hạ Môn (Trung Quốc, 2020) bằng BISQ mở rộng: nhũ nhi (tuổi trung bình 5,8 tháng) ngủ tổng 13,8 giờ/ngày (ngày 4,6 giờ, đêm 9,2 giờ, đoạn dài nhất 5,9 giờ), trẻ chập chững (26,2 tháng) ngủ 10,9 giờ (ngày 2,2 giờ, đêm 8,7 giờ, đoạn dài nhất 7,4 giờ).Nhũ nhi 13,8 ± 2,5 giờ; chập chững 10,9 ± 1,4 giờNgườiCắt ngang tại bệnh viện; BISQ-E bản Trung do người chăm sóc báo cáo về 2 tuần qua. Cỡ mẫu: n = 827 (361 nhũ nhi, 466 chập chững), Hạ MônLin và cs., 2022
b1-071Trong thuần tập GUSTO (Singapore), tổng thời lượng ngủ theo BISQ trung bình 12,08 giờ lúc 3 tháng, 11,75 giờ lúc 6 tháng, 11,66 giờ lúc 12 tháng và 11,14 giờ lúc 24 tháng; lúc 3 tháng trẻ Mã Lai ngủ 10,96 giờ so với 12,49 giờ (Hoa) và 12,43 giờ (Ấn).3 tháng 12,08 (SD 3,91); 6 tháng 11,75; 12 tháng 11,66; 24 tháng 11,14 giờNgườiThuần tập sinh; BISQ do cha mẹ báo cáo (ngày + đêm) ở 3, 6, 9, 12, 18, 24 tháng. Cỡ mẫu: n = 899 trẻ (399–719 mỗi thời điểm), Hoa, Mã Lai, ẤnZhou và cs., 2015
b1-072Trong GUSTO, ở trẻ ngủ ngắn (≤ 12 giờ/ngày lúc 3 tháng), thời lượng ngủ ngắn hơn đi kèm BMI cao hơn (β = −0,036; KTC 95% −0,065 đến −0,008) và chiều dài thấp hơn; trên toàn mẫu, liên quan với BMI không có ý nghĩa (β = −0,014; −0,030 đến 0,001). Tỉ lệ trẻ ngủ ≤ 12 giờ lúc 3 tháng: 67,7% (Mã Lai), 46,1% (Hoa), 45,7% (Ấn).BMI β −0,036 (nhóm ngủ ngắn); toàn mẫu không ý nghĩaNgườiThuần tập; mô hình hỗn hợp hiệu chỉnh dân tộc, học vấn mẹ, thu nhập, chiều cao và BMI mẹ, giới, tuổi thai, cân nặng/chiều dài sinh, hút thuốc khi mang thai, đái tháo đường thai kỳ, thời gian bú mẹ, màn hình và hoạt động ngoài trời. Cỡ mẫu: n = 899 tham gia; mô hình BMI n = 799Zhou và cs., 2015
b1-074Trong thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) Pelotas, thời lượng ngủ đêm đo bằng actigraphy ở trẻ Brazil khoảng 8,0 giờ lúc 12 tháng và 8,2–8,3 giờ lúc 24 tháng, với trung vị khoảng 2–3 lần thức đêm. (Nhận xét của nhóm biên tập: thấp hơn số liệu cha mẹ báo cáo ở các thuần tập khác, nhưng khác công cụ đo nên không so trực tiếp được.)12 tháng: 7,99–8,02 giờ; 24 tháng: 8,17–8,32 giờ; thức đêm trung vị 2–3 lầnNgườiActigraphy trong RCT (cả hai nhánh); so với nhật ký và phỏng vấn trong cùng nghiên cứu. Cỡ mẫu: n = 586 ngẫu nhiênSantos và cs., 2019
b1-075Ở 465 cặp người chăm sóc–trẻ tại Osaka và Mie (Nhật, 2003–2009), nhật ký giấc ngủ lúc 18 tháng cho giờ vào giấc trung bình 21,56 giờ thập phân (khoảng 21:34), ngủ đêm 9,64 giờ và tổng 11,56 giờ; chỉ 7,1% trẻ ngủ đêm hơn 11 giờ.Vào giấc 21,56 ± 0,89 giờ (khoảng 21:34); ngủ đêm 9,64 ± 0,85 giờ; tổng 11,56 ± 1,02 giờ; 7,1% ngủ đêm > 11 giờNgườiThuần tập dọc; nhật ký giấc ngủ trong Bảng hỏi giấc ngủ Japan Children's Study (JCSSQ) do người chăm sóc ghi lúc 18 tháng. Cỡ mẫu: n = 465 cặp (207 phân tích quỹ đạo), trẻ 18 thángTomisaki và cs., 2018
b1-086Tổng quan hệ thống làm nền cho hướng dẫn 24 giờ cho trẻ nhỏ (Chaput 2017) gồm 69 bài (148.524 trẻ, 23 nước; 1 tháng đến 4,99 tuổi), chủ yếu cắt ngang (42) và dọc (16), chỉ 3 RCT; 48 nghiên cứu dùng báo cáo của cha mẹ. Ngủ ngắn đi kèm mỡ cơ thể cao hơn ở 20/31 nghiên cứu (bằng chứng thấp); với nhận thức, chỉ 6/16 nghiên cứu thấy liên quan, 8 không liên quan, 2 theo chiều ngược.69 bài, n = 148.524; mỡ cơ thể 20/31; nhận thức 6/16Tổng quanTổng quan hệ thống không giới hạn năm và thiết kế; GRADE; ngủ đo bằng báo cáo cha mẹ (48) hoặc khách quan (21). Cỡ mẫu: 69 bài, 62 mẫu độc lập, n = 148.524, 23 nướcChaput và cs., 2017
b1-087Chính các tác giả tổng quan nền cho khuyến nghị thời lượng ngủ trẻ 0–4 tuổi thừa nhận khó xác định lượng ngủ tối ưu từ bằng chứng hiện có, vì phần lớn nghiên cứu là tương quan hoặc so nhóm với các ngưỡng cắt khác nhau; họ kêu gọi nghiên cứu có dữ liệu liều–đáp ứng.Không xác định được thời lượng tối ưuTổng quanTổng quan hệ thống, phần bàn luận. Cỡ mẫu: 69 bàiChaput và cs., 2017

Dùng ở chương: Năm đầu đời: nhịp ngày–đêm, thức đêm và "ngủ xuyên đêm"#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-013Galland 2012 tổng hợp số lần thức đêm theo 4 nhóm tuổi đến 2 tuổi: từ 0 đến 3,4 lần mỗi đêm ở trẻ 0–2 tháng, còn 0–2,5 lần mỗi đêm ở trẻ 1–2 tuổi.0–2 tháng: 0–3,4 lần/đêm; 1–2 tuổi: 0–2,5 lần/đêmTổng quanTổng quan hệ thống nghiên cứu quan sát; thức đêm do cha mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: 34 nghiên cứu (dữ liệu thức đêm ở một phần)Galland và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-017Ở thuần tập CHILD-SLEEP, cha mẹ lo lắng về giấc ngủ của khoảng một trong bốn trẻ, cao nhất lúc 8 tháng tuổi (39,4%).39,4% lúc 8 tháng; khoảng 25% nói chungNgườiThuần tập sinh; cha mẹ tự báo cáo lo ngại về giấc ngủ của con. Cỡ mẫu: n = 1.301 lúc 8 thángPaavonen và cs., 2020 (tóm tắt)
b1-028Nghiên cứu một trẻ trai khoẻ mạnh theo dõi liên tục 6 tháng tại nhà (ánh sáng tự nhiên, ăn ngủ theo nhu cầu): nhịp nhiệt độ cơ thể xuất hiện đầu tiên và có ý nghĩa trong tuần đầu; nhịp thức đạt ý nghĩa ở ngày 45, cùng lúc melatonin buổi tối bắt đầu tăng; nhịp ngủ xuất hiện cuối cùng, sau ngày 56.Nhiệt độ: tuần 1; thức: ngày 45; ngủ: sau ngày 56NgườiNghiên cứu đơn ca dọc; nhiệt độ đo mỗi giờ; melatonin nước bọt 24 giờ mỗi tuần từ tuần 3; ngủ–thức–bú do cha mẹ ghi liên tục. Cỡ mẫu: n = 1 trẻ traiMcGraw và cs., 1999 (tóm tắt)
b1-029Đo chất chuyển hoá melatonin trong nước tiểu (6-sulfatoxymelatonin) cho thấy hầu như không có nhịp bài tiết trước 9–12 tuần tuổi ở trẻ đủ tháng; lúc 24 tuần, tổng lượng bài tiết mới bằng 25% mức người lớn.Nhịp xuất hiện 9–12 tuần; 24 tuần = 25% mức người lớnNgườiNghiên cứu dọc; 6-sulfatoxymelatonin niệu thu theo thời điểm; so sánh đủ tháng và sinh non. Cỡ mẫu: Số trẻ không nêu trong tóm tắtKennaway và cs., 1992 (tóm tắt)
b1-030Trong cùng nghiên cứu của Kennaway, trẻ sinh non (sớm trung bình 51 ± 4 ngày) xuất hiện nhịp melatonin niệu chậm khoảng 9 tuần; sau khi hiệu chỉnh theo tuổi thai, vẫn chậm 2–3 tuần.Chậm ≈ 9 tuần (tuổi thực); 2–3 tuần sau hiệu chỉnhNgườiNghiên cứu dọc so sánh trẻ sinh non với đủ tháng; 6-sulfatoxymelatonin niệu. Cỡ mẫu: Không nêu trong tóm tắtKennaway và cs., 1992 (tóm tắt)
b1-033Ở thuần tập Canada MAVAN, theo định nghĩa ngủ liền 6 hoặc 8 giờ, 27,9% đến 57,0% trẻ 6 và 12 tháng không ngủ xuyên đêm theo báo cáo của mẹ; ngủ xuyên đêm không liên quan với phát triển trí tuệ, vận động (Bayley II ở 6, 12, 36 tháng) hay khí sắc của mẹ (p > 0,05).27,9–57,0% không ngủ xuyên đêm; không liên quan phát triển hay khí sắc mẹNgườiThuần tập tiến cứu; mẹ báo cáo giai đoạn ngủ liền dài nhất; Bayley Scales of Infant Development II; hồi quy tuyến tính. Cỡ mẫu: n = 388; báo cáo của mẹ lúc 6 và 12 thángPennestri và cs., 2018 (tóm tắt)
b1-034Cùng thuần tập MAVAN, ngủ xuyên đêm đi kèm tỉ lệ bú mẹ thấp hơn (p < 0,0001).p < 0,0001NgườiThuần tập tiến cứu; mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 388Pennestri và cs., 2018 (tóm tắt)
b1-035Thuần tập New Zealand theo dõi 52 trẻ bằng nhật ký cha mẹ 6 ngày đêm mỗi lần ở 1, 3, 6, 9, 12 tháng (kiểm tra bằng quay video hồng ngoại ở 54% gia đình): theo Thang Giấc ngủ Tổng hợp (Composite Sleep Scale), 56% trẻ tự điều hoà giấc ngủ lúc 6 tháng và 72% lúc 12 tháng; 21% chuyển từ chưa tự điều hoà sang tự điều hoà giữa 6 và 12 tháng.6 tháng: 56%; 12 tháng: 72%; 21% chuyển nhómNgườiThuần tập tiến cứu đo lặp; nhật ký giấc ngủ cha mẹ ghi, kiểm chứng bằng video hồng ngoại 2 đêm; phân tích phân biệt (discriminant analysis). Cỡ mẫu: n = 52 trẻ, New ZealandHenderson và cs., 2020
b1-036Trong nghiên cứu New Zealand, sự có mặt của cha mẹ lúc trẻ vào giấc và số lần thức đêm ở 1 tháng tuổi phân loại đúng 94,2% trẻ tự điều hoà hay không lúc 6 tháng và 84,6% lúc 12 tháng; lúc 1 tháng, nhóm chưa tự điều hoà (ở 6 tháng) có cha mẹ hiện diện lúc vào giấc 4,86 so với 1,96 đêm trên 6 đêm (d = 1,61).Độ chính xác phân loại 94,2% (6 tháng), 84,6% (12 tháng); d = 1,61NgườiThuần tập; nhật ký cha mẹ; phân tích phân biệt. Cỡ mẫu: n = 52Henderson và cs., 2020
b1-037Tổng quan hệ thống 21 nghiên cứu (6.225 trẻ dưới 12 tháng) về kiểu bú và giấc ngủ: trẻ bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng thức đêm nhiều lần hơn (theo tóm tắt; phần kết quả: 3 nghiên cứu thấy vậy, còn 5/7 nghiên cứu về trẻ bú mẹ nói chung không thấy khác biệt), nhưng 67% nghiên cứu không thấy khác biệt thời lượng ngủ đêm hay 24 giờ so với trẻ bú sữa công thức; sau 6 tháng, hơn 65% nghiên cứu báo cáo trẻ bú mẹ ngủ ít hơn ban đêm và trong 24 giờ.21 nghiên cứu, 6.225 trẻ; 67% không thấy khác biệt có ý nghĩa về thời lượng (≤ 6 tháng); >65% thấy ngủ ít hơn ở trẻ bú mẹ (> 6 tháng)Tổng quanTổng quan hệ thống (không gộp định lượng) thuần tập, cắt ngang, thử nghiệm; 15 nghiên cứu dùng nhật ký/bảng hỏi (BISQ), 6 nghiên cứu dùng actigraphy hoặc EEG; nhóm bú được định nghĩa sau khi chọn bài (lệch đề cương PROSPERO). Cỡ mẫu: n = 6.225 trẻ; 20–1.676 mỗi nghiên cứu; chủ yếu Mỹ, Anh, có Trung Quốc, Nhật, HànFu và cs., 2021
b1-038Trong tổng quan Fu 2021, một ước lượng trích từ nghiên cứu gốc cho thấy trẻ bắt đầu ăn dặm trước 4 tháng ngủ ít hơn 24 phút lúc 12 tháng so với trẻ ăn dặm từ 4 tháng trở đi (−0,39 giờ; KTC 95% −0,67 đến −0,11); đây là liên quan quan sát.−24 phút (−0,39 giờ; KTC 95% −0,67 đến −0,11)Tổng quanTổng quan hệ thống, trích ước lượng từ nghiên cứu gốc. Cỡ mẫu: Không nêu cho riêng ước lượng nàyFu và cs., 2021
b1-039Khảo sát 756 bà mẹ ở Anh có con 6–12 tháng: 78,1% trẻ thường thức ít nhất một lần mỗi đêm (20:00–06:00) và 59,9% được bú sữa ít nhất một cữ đêm; số lần thức trung bình 1,77 (SD 1,54).Thức đêm 78,1%; bú đêm 59,9%; trung bình 1,77 lần thứcNgườiCắt ngang; bảng hỏi mẹ tự báo cáo (ước số lần thức và bú đêm). Cỡ mẫu: n = 756 bà mẹ, trẻ 6–12 tháng, AnhBrown và Harries, 2015
b1-040Trong mẫu Anh 6–12 tháng, không có khác biệt có ý nghĩa về số lần thức đêm (p = 0,238) hay số cữ bú đêm (p = 0,828) giữa trẻ đang bú mẹ (31,2%) và không bú mẹ; số bữa ăn dặm trong ngày không liên quan với thức đêm (r = −0,038) nhưng liên quan nghịch yếu với số cữ bú đêm (r = −0,153).Thức đêm p = 0,238; bú đêm p = 0,828; r = −0,038 và −0,153NgườiCắt ngang; mẹ tự báo cáo; kiểm định t và tương quan, không hiệu chỉnh nhiễu. Cỡ mẫu: n = 756Brown và Harries, 2015
b1-041Ở 98 bà mẹ khoẻ mạnh tại Trung Quốc (0–30 ngày sau sinh), melatonin trong sữa mẹ có nhịp ngày–đêm rõ: trung bình 23,49 pg/ml lúc 03:00 so với 3,27 pg/ml lúc 09:00 và 2,40 pg/ml lúc 15:00; đỉnh khoảng 03:00 và giảm dần từ sữa non đến sữa trưởng thành.03:00: 23,49 ± 4,25; 09:00: 3,27 ± 1,23; 15:00: 2,40 ± 1,04; 21:00: 6,81 ± 2,35 pg/mLNgườiCắt ngang; 392 mẫu sữa lấy ở 03:00, 09:00, 15:00, 21:00; định lượng miễn dịch gắn enzym (ELISA, bộ IBL); không đo giấc ngủ của trẻ. Cỡ mẫu: n = 98 bà mẹ (32 sinh non, 66 đủ tháng), 392 mẫuQin và cs., 2019
b1-042Trong nghiên cứu sữa mẹ Trung Quốc, đỉnh melatonin lúc 03:00 trong sữa non của mẹ sinh non cao hơn mẹ sinh đủ tháng (28,67 so với 25,31 pg/mL; p = 0,022); ở sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành, khác biệt không có ý nghĩa.Sữa non 28,67 so với 25,31 pg/mL (p = 0,022)NgườiCắt ngang; ELISA. Cỡ mẫu: 32 mẹ sinh non (28–36 tuần), 66 mẹ đủ thángQin và cs., 2019
b1-043Thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên ở 42 trẻ sinh non (< 36 tuần) tại Bệnh viện Đại học Hokkaido (Nhật): dùng đèn LED đỏ (725 nm, khoảng 21 lux) thay đèn LED trắng (khoảng 3.480 lux) khi chăm sóc ban đêm không tạo khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ số hoạt động ngày–đêm, khóc đêm hay tăng cân từ 35 đến 40 tuần tuổi thai.Tỉ số hoạt động ngày–đêm 35 tuần: 1,06 ± 0,13 (trắng) so với 1,24 ± 0,47 (đỏ); hiệu ứng loại đèn p > 0,05NgườiPhân nhóm ngẫu nhiên (bảng số ngẫu nhiên), 2 nhánh 21/21; nền chiếu sáng 15 giờ sáng: 9 giờ tối; actigraphy ở cổ chân (Actiwatch-L), khóc đêm theo hồ sơ điều dưỡng; không đo PSG. Cỡ mẫu: n = 42 trẻ sinh non, 35–40 tuần tuổi thaiKaneshi và cs., 2016
b1-044Ở 44 cặp mẹ–con khoẻ mạnh đo actigraphy liên tục 3 ngày lúc 4, 8 và 12 tuần, trẻ nhận ánh sáng ít hơn mẹ (biên độ 1,55 so với 3,24 Ln lux lúc 4 tuần); tương quan pha giữa ánh sáng và hoạt động của trẻ tăng từ r = 0,385 (4 tuần) lên 0,686 (12 tuần), và chỉ rõ ở 12 tuần sau khi kiểm soát hoạt động của mẹ (r = 0,491).r = 0,385 → 0,686 (thô); 0,177 → 0,491 (kiểm soát hoạt động mẹ)NgườiNghiên cứu dọc quan sát; actigraphy có cảm biến ánh sáng ở cổ chân trẻ và cổ tay mẹ; đo hoạt động, không đo giấc ngủ trực tiếp. Cỡ mẫu: n = 44 cặp (43 ở 8 và 12 tuần)Thomas và cs., 2016
b1-045Phân tích ba thuần tập dựa dân số (Generation R – Hà Lan, GUSTO – Singapore, MAVAN – Canada) với thời lượng ngủ do cha mẹ báo cáo ở 3, 6, 24, 36 tháng: gộp hiệu ứng cố định, mỗi độ lệch chuẩn tuổi thai lớn hơn đi kèm tổng thời gian ngủ ít hơn 0,11 giờ (KTC 95% −0,15 đến −0,06). Nói cách khác, trẻ sinh sớm hơn ngủ nhiều hơn một chút, kể cả trong nhóm sinh đủ tháng.B = −0,11 giờ/SD tuổi thai (−0,15 đến −0,06); ngủ đêm −0,05; ngủ ngày −0,04NgườiBa thuần tập tiến cứu; BISQ do cha mẹ báo cáo (đêm + ngủ ngày, giờ/24 giờ); phương trình ước lượng tổng quát (GEE), gộp hiệu ứng cố định. Cỡ mẫu: Generation R n = 6.471 (bảng kết quả 5.637), GUSTO n = 862, MAVAN n = 581Luijk và cs., 2019
b1-046Trong thuần tập Generation R, trẻ sinh non (< 37 tuần) ngủ nhiều hơn trẻ đủ tháng 0,26 giờ/24 giờ (KTC 95% 0,09–0,42), còn trẻ sinh già tháng ngủ ít hơn 0,15 giờ; tương tác tuổi thai × thời gian chủ yếu do trẻ sinh non lúc 3 và 6 tháng, gợi ý trẻ sinh non "ngủ bù" trong năm đầu.Sinh non +0,26 giờ (0,09–0,42); già tháng −0,15 giờ (−0,28 đến −0,03)NgườiThuần tập tiến cứu; BISQ cha mẹ báo cáo; GEE. Cỡ mẫu: n = 5.637–6.471, Hà LanLuijk và cs., 2019
b1-047Tổng quan Cochrane (Morag và Ohlsson, 2016) gồm 9 thử nghiệm ngẫu nhiên hoặc bán ngẫu nhiên với 544 trẻ sinh non: so với gần như tối hoàn toàn, chiếu sáng theo chu kỳ (cycled light) đi kèm rút ngắn thời gian nằm viện 13 ngày (KTC 95% −23 đến −2; 2 nghiên cứu, n = 77); so với sáng liên tục, rút ngắn 16,5 ngày (−26,2 đến −6,8); độ chắc chắn bằng chứng THẤP.Nằm viện −13 ngày (so với gần tối hoàn toàn) và −16,5 ngày (so với sáng liên tục); GRADE thấpTổng quanTổng quan hệ thống Cochrane có phân tích gộp; RCT và bán ngẫu nhiên; không làm mù được người chăm sóc. Cỡ mẫu: 9 thử nghiệm, n = 544Morag và Ohlsson, 2016 (tóm tắt)
b1-048Trong tổng quan Cochrane về chiếu sáng theo chu kỳ, một thử nghiệm (n = 41) ghi nhận trẻ nhóm chiếu sáng chu kỳ thức ít giờ hơn trong 24 giờ lúc 3 tháng so với nhóm sáng liên tục; một thử nghiệm khác (n = 37) ghi nhận khóc ít hơn 0,57 giờ/24 giờ lúc 11 tuần tuổi hiệu chỉnh so với nhóm gần tối hoàn toàn.Khóc −0,57 giờ/24 giờ (KTC 95% −1,09 đến −0,05); thức ít hơn (p < 0,005, không có KTC)Tổng quanTổng quan Cochrane; kết cục từ từng thử nghiệm đơn lẻ. Cỡ mẫu: n = 41 và n = 37Morag và Ohlsson, 2016 (tóm tắt)
b1-049Một phân tích gộp 2024 về can thiệp không dùng thuốc cho giấc ngủ trẻ sinh non chỉ gộp được 5 RCT (võng, tư thế, âm nhạc, xoa bóp và tiếng ồn trắng, kể cả chế độ đạm cao) với hiệu ứng chuẩn hoá −1,56 (KTC 95% −3,11 đến 0,00; p = 0,05), tức ranh giới ý nghĩa; bài có mâu thuẫn nội bộ về cỡ mẫu (277 so với 238) và về nhóm cân nặng hưởng lợi.SMD −1,56 (−3,11 đến 0,00); 5 RCTTổng quanPhân tích gộp 5 RCT (PRISMA, PROSPERO); RoB-2; không báo cáo I² và GRADE; công cụ đo giấc ngủ không nêu rõ. Cỡ mẫu: 5 RCT, 238 hoặc 277 trẻ (bài ghi không thống nhất)Bilgiç và cs., 2024
b1-058Khảo sát 493 trẻ 12–35 tháng ở 5 thành phố tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc, 2021) bằng BISQ bản Trung: 67,1% trẻ vào giấc với cha mẹ bên cạnh, chỉ 13,6% tự ngủ, 12,0% ngủ khi bú mẹ hoặc bú bình; trẻ ngủ khi đang bú có trung bình 2,39 lần thức đêm, và khoảng 65% trẻ thức hơn một lần mỗi đêm.Tự ngủ 13,6%; bú để ngủ 12,0%; thức đêm 2,39 ± 2,79 lần ở nhóm bú để ngủ; 64,6% (1–2 tuổi) và 67,2% (2–3 tuổi) thức > 1 lần/đêmNgườiCắt ngang, chọn mẫu thuận tiện ở bệnh viện cộng đồng 5 thành phố (Long Nham, Nam Bình, Tuyền Châu, Tam Minh, Phúc Châu), 04–11/2021; phỏng vấn trực tiếp người chăm sóc bằng BISQ bản Trung; hồi quy tuyến tính đa biến gồm kiểu vào giấc, vấn đề giấc ngủ, nơi ở, diện tích nhà bình quân đầu người, thu nhập hộ, thời gian màn hình. Cỡ mẫu: n = 493 trẻ 12–35 thángLin và cs., 2024
b1-068Thuần tập sinh Cincinnati (Mỹ) 359 cặp mẹ–con: tỉ lệ cha mẹ báo cáo con có vấn đề giấc ngủ là 10% ở mọi thời điểm 6, 12, 24, 36 tháng; 21% trẻ có vấn đề giấc ngủ ở tuổi nhũ nhi còn vấn đề giấc ngủ ở năm thứ ba, so với 6% trẻ không có vấn đề lúc nhũ nhi.10% ở mỗi thời điểm; tồn tại 21% so với 6%NgườiThuần tập sinh tiến cứu; bảng hỏi giấc ngủ do mẹ trả lời ở 6, 12, 24, 36 tháng; 8 lĩnh vực kết cục giấc ngủ. Cỡ mẫu: n = 359 cặp mẹ–conByars và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-069Thuần tập GUSTO (Singapore, 654 trẻ đủ tháng): so với trẻ bú mẹ hoàn toàn/chủ yếu lúc 3 tháng, trẻ bú sữa công thức thức đêm ít hơn lúc 6, 9, 12 tháng (ví dụ −0,75 lần lúc 9 tháng; KTC 95% −1,03 đến −0,46) nhưng lại ngủ đêm ngắn hơn (−0,80 giờ lúc 6 tháng; −0,77 giờ lúc 9 tháng; −0,51 giờ lúc 24 tháng).Thức đêm −0,48 đến −0,75 lần; ngủ đêm −0,51 đến −0,80 giờ ở trẻ bú sữa công thứcNgườiThuần tập sinh tiến cứu; kiểu bú lúc 3 tháng theo định nghĩa WHO; BISQ do người chăm sóc báo cáo ở 3–24 tháng (không actigraphy); hiệu chỉnh cân nặng sinh, học vấn mẹ, thu nhập, tuổi mẹ, dân tộc, EPDS lúc 3 tháng. Cỡ mẫu: n = 654 trẻ đủ tháng, đơn thai, SingaporeAbdul Jafar và cs., 2021
b1-070Cũng trong GUSTO, bú sữa công thức lúc 3 tháng đi kèm khả năng thấp hơn thuộc quỹ đạo ngủ đêm dài và ổn định đến 54 tháng (OR 0,18; KTC 95% 0,07–0,50) so với quỹ đạo ngủ ngắn, thay đổi; khác biệt giữa trẻ bú mẹ một phần và trẻ bú mẹ hoàn toàn không có ý nghĩa thống kê.OR 0,18 (0,07–0,50) cho quỹ đạo ngủ đêm dài ổn định; OR 0,28 (0,11–0,70) cho quỹ đạo vừaNgườiThuần tập; mô hình quỹ đạo, hồi quy đa thức; BISQ và CSHQ (54 tháng). Cỡ mẫu: n = 654 trong mẫu chung; phân tích quỹ đạo khoảng 241–248 trẻ có đủ dữ liệuAbdul Jafar và cs., 2021
b1-077Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 44 bài về ngủ ngày ở trẻ 0–12 tuổi (22 nghiên cứu ở châu Á): trước 2 tuổi, bỏ hẳn ngủ ngày rất hiếm (< 2,5%); thời lượng ngủ ngày trung bình 3,1 giờ ở trẻ dưới 12 tháng và 2,3 giờ ở trẻ 1–2 tuổi; ngủ nhiều giấc (2 giấc/ngày) giảm mạnh ở 12–18 tháng.Bỏ ngủ ngày < 2,5% trước 2 tuổi; 3,1 giờ (< 12 tháng); 2,3 giờ (1–2 tuổi)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp (tìm đến 18/12/2018); ngủ ngày đo bằng nhiều cách khác nhau (bảng hỏi, nhật ký, actigraphy); chỉ 3 nghiên cứu nguy cơ sai lệch thấp. Cỡ mẫu: 44 bài; châu Âu 13, Bắc Mỹ 15, châu Á 22, châu Úc 10 (một số đếm chồng)Staton và cs., 2020
b1-078Staton 2020 dẫn một nghiên cứu duy nhất (nhật ký qua ứng dụng do cha mẹ ghi): ở trẻ 8–12 tháng, giấc ngủ ngày tập trung quanh 09:30 và 14:00, và từ 13 đến 34 tháng dời về giữa trưa (điểm giữa khoảng 14:00); tổng quan cũng ghi kiểu ngủ ngày trước 18 tháng có tính di truyền cao.Giấc ngày quanh 09:30 và 14:00 (8–12 tháng)Tổng quanTổng quan hệ thống, tổng hợp tường thuật phần thời điểm ngủ ngày. Cỡ mẫu: 44 bàiStaton và cs., 2020
b1-082Phân tích gộp dữ liệu cá thể 15 thuần tập (1.904 trẻ khoẻ mạnh 0–1 tuổi, 17.079 mẫu cortisol nước bọt): tỉ số cortisol sáng/tối tăng từ 1,7 (KTC 95% 1,3–2,1) lúc mới sinh lên 3,7 (3,0–4,5) lúc 6–9 tháng rồi ổn định (3,6 lúc 10–13 tháng); đỉnh cortisol buổi sáng hình thành dần từ khi sinh.Tỉ số sáng/tối 1,7 → 3,7 (6–9 tháng)Tổng quanTổng quan hệ thống + phân tích gộp dữ liệu cá thể (IPD); mô hình hỗn hợp tuyến tính, cosinor; cortisol không do stress (06:00–12:00 so với 18:00–00:00). Cỡ mẫu: 15 thuần tập, n = 1.904 trẻ, 17.079 mẫuKervezee và cs., 2024
b1-083Ở 51 trẻ sinh non (23+2 đến 31+6 tuần) tại Thuỵ Điển so với 130 trẻ đủ tháng, nhịp cortisol nước bọt ngày–đêm hình thành vào khoảng 1 tháng tuổi hiệu chỉnh và duy trì suốt năm đầu; sự hình thành phụ thuộc vào tuổi thai chứ không phải tuổi sau sinh, và không tương quan với mức đều đặn hành vi.Nhịp có từ 1 tháng tuổi hiệu chỉnh; chỉ số tối/sáng 0,722 (< 28 tuần), 0,642 (28–32 tuần), 0,563 (đủ tháng)NgườiNghiên cứu dọc; cortisol nước bọt hằng tháng (07:30, 10:00, 19:30) từ 28 tuần tuổi thai đến 12 tháng tuổi hiệu chỉnh, cha mẹ lấy mẫu ở đơn vị hồi sức sơ sinh (NICU) rồi tại nhà; định lượng miễn dịch phóng xạ (RIA); Baby Behavior Questionnaire. Cỡ mẫu: 51 trẻ sinh non (mẫu thuận tiện), 130 trẻ đủ tháng đối chứngIvars và cs., 2017
b1-085Ở 90 trẻ Mỹ gốc Phi 3 tháng tuổi, so với quay video giấc ngủ (videosomnography), cả actigraphy lẫn nhật ký của cha mẹ đều ước lượng thời gian ngủ dài hơn và số lần thức đêm ít hơn thực tế; phân tích từng đoạn cho thấy actigraphy có độ nhạy thấp khi phát hiện trạng thái thức.Actigraphy và nhật ký: đánh giá quá cao thời gian ngủ, đánh giá thấp số lần thứcNgườiNghiên cứu đối chiếu phương pháp; videosomnography làm chuẩn, so với actigraphy và nhật ký giấc ngủ; 7 biến lịch ngủ và phân mảnh giấc ngủ; phân tích từng đoạn (epoch-by-epoch). Cỡ mẫu: n = 90 trẻ 3 thángCamerota và cs., 2018 (tóm tắt)

Dùng ở chương: Luyện ngủ cho trẻ nhỏ: thử nghiệm nói gì#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-018RCT ở Melbourne (Úc) trên 156 bà mẹ có con 6–12 tháng bị cha mẹ đánh giá là khó ngủ nặng: nhóm can thiệp được tư vấn "khóc có kiểm soát" (controlled crying, cha mẹ đáp lại tiếng khóc sau các khoảng tăng dần) hoặc "cắm trại" (camping out, rút dần sự hiện diện trong 3 tuần) qua 3 buổi hai tuần một lần; nhóm chứng nhận một tờ thông tin về giấc ngủ bình thường. Sau 2 tháng, vấn đề giấc ngủ được giải quyết ở 53/76 trẻ nhóm can thiệp so với 36/76 nhóm chứng (p = 0,005).53/76 (70%) so với 36/76 (47%) sau 2 tháng; p = 0,005NgườiRCT song song, phân tầng theo trầm cảm mẹ; không làm mù; kết cục do mẹ báo cáo qua bảng hỏi gửi thư ở 2 và 4 tháng; theo dõi > 90%. Cỡ mẫu: n = 156 bà mẹ (văn bản ghi 155), trẻ 6–12 thángHiscock và Wake, 2002
b1-019Trong RCT Hiscock và Wake 2002, đến 4 tháng sau phân nhóm, khác biệt về tỉ lệ giải quyết vấn đề giấc ngủ giữa hai nhóm không còn ý nghĩa thống kê; điểm trầm cảm mẹ (EPDS) ở nhóm mẹ trầm cảm (≥ 10 điểm) giảm 6,5 điểm ở nhóm can thiệp so với 4,2 điểm ở nhóm chứng (p = 0,04).EPDS 4 tháng: −6,5 (KTC 95% −7,9 đến −5,1) so với −4,2 (−5,9 đến −2,5)NgườiRCT song song; kết cục mẹ đo bằng Thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (EPDS); trẻ do mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 156 bà mẹ; phân nhóm mẹ trầm cảmHiscock và Wake, 2002
b1-020Thử nghiệm ngẫu nhiên theo cụm ở 49 trung tâm Sức khoẻ Mẹ và Trẻ tại Melbourne (328 bà mẹ có con được báo cáo khó ngủ lúc 7 tháng): nhóm được tư vấn chiến lược hành vi có tỉ lệ vấn đề giấc ngủ thấp hơn lúc 10 tháng (56% so với 68%; OR hiệu chỉnh 0,58, KTC 95% 0,36–0,94) và 12 tháng (39% so với 55%; OR 0,50, 0,31–0,80).10 tháng: 56% so với 68%, aOR 0,58; 12 tháng: 39% so với 55%, aOR 0,50NgườiRCT cụm; nhóm chứng chăm sóc thường quy; kết cục do mẹ báo cáo (vấn đề giấc ngủ của trẻ, EPDS, SF-12); theo dõi đến 12 tháng tuổi. Cỡ mẫu: n = 328 bà mẹ, 49 trung tâmHiscock và cs., 2007 (tóm tắt)
b1-021Cùng thử nghiệm cụm Melbourne: điểm EPDS của mẹ thấp hơn ở nhóm can thiệp (chênh hiệu chỉnh −1,4 lúc 10 tháng và −1,7 lúc 12 tháng); chi phí trung bình mỗi gia đình 96,93 bảng Anh ở nhóm can thiệp so với 116,79 bảng ở nhóm chứng.EPDS −1,4 (KTC 95% −2,3 đến −0,4) và −1,7 (−2,6 đến −0,7); chi phí £96,93 so với £116,79NgườiRCT cụm; EPDS tự báo cáo; phân tích chi phí. Cỡ mẫu: n = 328 bà mẹHiscock và cs., 2007 (tóm tắt)
b1-022Theo dõi 5 năm thử nghiệm cụm Melbourne (Price 2012): trong 326 trẻ có vấn đề giấc ngủ lúc 7 tháng (173 nhóm can thiệp), 225 gia đình (69%) tham gia lúc trẻ khoảng 6 tuổi; không có khác biệt giữa hai nhóm ở bất kỳ kết cục nào, kể cả vấn đề giấc ngủ (9% so với 7%, p = 0,2) và stress mạn tính đo bằng cortisol (29% so với 22%, p = 0,4).Vấn đề giấc ngủ 9% so với 7%; stress mạn tính 29% so với 22%; tham gia 69%NgườiTheo dõi dài hạn RCT cụm; can thiệp 1–3 buổi y tá lúc 8–10 tháng; kết cục ở tuổi 6: cảm xúc–hành vi, giấc ngủ, cortisol nước bọt, quan hệ cha mẹ–con, trầm cảm mẹ, phong cách nuôi dạy. Cỡ mẫu: n = 326 ngẫu nhiên, 225 theo dõi (69%)Price và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-023Price 2012 cũng không thấy khác biệt về sự gần gũi (p = 0,1) và xung đột (p = 0,4) giữa trẻ và cha mẹ, hay tỉ lệ nuôi dạy kiểu "có thẩm quyền" (63% so với 59%); tác giả kết luận các kỹ thuật hành vi không có tác động lâu dài rõ rệt, dù tích cực hay tiêu cực.Nuôi dạy có thẩm quyền 63% so với 59% (p = 0,5)NgườiTheo dõi 5 năm RCT cụm; thang quan hệ cha mẹ–con do cha mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 225Price và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-024RCT ở Adelaide (Úc) trên 43 trẻ 6–16 tháng: so với nhóm chứng giáo dục giấc ngủ (n = 14), cả dập tắt từng bước (graduated extinction, n = 14) và lùi giờ đi ngủ (bedtime fading, n = 15) đi kèm giảm lớn thời gian vào giấc; tương tác nhóm × thời gian có ý nghĩa với số lần thức (p < 0,0001).n = 43; số lần thức p < 0,0001; thời gian vào giấc p < 0,05NgườiRCT song song 3 nhánh; nhóm chứng giáo dục giấc ngủ; kết cục: thời gian vào giấc, số lần thức, cortisol nước bọt trẻ, stress mẹ; gắn bó và cảm xúc–hành vi ở theo dõi 12 tháng (giấc ngủ đo bằng nhật ký cha mẹ và actigraphy theo tóm tắt; tóm tắt không tách kết quả theo công cụ). Cỡ mẫu: n = 43 (63% bé gái), 6–16 thángGradisar và cs., 2016 (tóm tắt)
b1-025Trong RCT Gradisar 2016, cortisol nước bọt của trẻ giảm nhẹ đến vừa ở hai nhóm can thiệp; sau 12 tháng không có khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm về vấn đề cảm xúc–hành vi hay kiểu gắn bó an toàn–không an toàn.Không khác biệt gắn bó và cảm xúc–hành vi ở 12 thángNgườiRCT 3 nhánh; cortisol nước bọt; đánh giá gắn bó; theo dõi 12 tháng. Cỡ mẫu: n = 43Gradisar và cs., 2016 (tóm tắt)
b1-026Tổng quan của AASM năm 2006 dựa trên 52 nghiên cứu can thiệp cho thấy 94% số nghiên cứu báo cáo can thiệp hành vi có hiệu quả với khó ngủ giờ đi ngủ và thức đêm ở nhũ nhi và trẻ nhỏ; hơn 80% trẻ được can thiệp có cải thiện có ý nghĩa lâm sàng duy trì 3–6 tháng.52 nghiên cứu; 94% nghiên cứu báo cáo hiệu quả; >80% trẻ cải thiện duy trì 3–6 thángTổng quanTổng quan hệ thống (không phân tích gộp định lượng) của AASM; gồm RCT, nghiên cứu nhóm và đơn ca; kết cục chủ yếu do cha mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: 52 nghiên cứu (tổng số trẻ không nêu trong tóm tắt)Mindell và cs., 2006 (tóm tắt)
b1-027Tổng quan AASM 2006 xếp bằng chứng mạnh cho dập tắt không điều chỉnh (unmodified extinction) và giáo dục cha mẹ dự phòng; bằng chứng ủng hộ (mức thấp hơn) cho dập tắt từng bước, lùi giờ đi ngủ/nếp sinh hoạt tích cực và đánh thức theo lịch (scheduled awakenings).Phân loại mức hỗ trợ: mạnh so với có hỗ trợTổng quanTổng quan hệ thống AASM, xếp mức bằng chứng theo tiêu chí của Hội Tâm lý học Mỹ. Cỡ mẫu: 52 nghiên cứuMindell và cs., 2006 (tóm tắt)
b1-031Nghiên cứu can thiệp ở Fukuoka (Nhật) cho bà mẹ có con 4 tháng: 10 phút hướng dẫn nhóm và sách 20 trang về nhịp sinh học và chiến lược dựa trên dập tắt; sau 3 tháng, tỉ lệ trẻ thức đêm ở nhóm chứng tăng từ 53,0% lên 66,7% (p = 0,022) còn nhóm can thiệp không đổi, nhưng không có khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm về mô hình giấc ngủ.Nhóm chứng thức đêm 53,0% → 66,7%; số lần thức trung bình chung 0,97 → 1,24NgườiThuần tập tiến cứu có nhóm chứng lấy mẫu cụm, không ngẫu nhiên; bảng hỏi gửi thư do mẹ báo cáo, không nhật ký hay đo khách quan; theo dõi 3 tháng. Cỡ mẫu: Ban đầu 99 can thiệp + 95 chứng; theo dõi 70 + 66 (n = 136); trẻ 4 thángAdachi và cs., 2009
b1-032Trong nghiên cứu Fukuoka, tỉ lệ mẹ "cho bú hoặc kiểm tra tã ngay" khi trẻ thức đêm giảm từ 66,7% xuống 36,4% ở nhóm can thiệp (p = 0,001), nhưng cũng giảm từ 80,0% xuống 53,8% ở nhóm chứng (p = 0,001), (nhận xét của nhóm biên tập: hành vi của cha mẹ có thể thay đổi theo tuổi trẻ ngay cả khi không can thiệp).Can thiệp 66,7% → 36,4%; chứng 80,0% → 53,8%NgườiThuần tập có nhóm chứng không ngẫu nhiên; bảng hỏi mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 136 theo dõiAdachi và cs., 2009
b1-052Thử nghiệm POI (New Zealand, RCT 4 nhánh, 802 gia đình): nhánh giấc ngủ gồm một buổi giáo dục nhóm trước sinh và một lần thăm nhà lúc 3 tuần, kèm hỗ trợ thêm khi có vấn đề. Lúc 1 tuổi, đo actigraphy 7 ngày cho thấy thời gian thức sau khi ngủ giảm 8,0 phút (KTC 95% −15,0 đến −1,0), hiệu quả giấc ngủ tăng 1,2% và số lần thức giảm 0,14 lần so với nhóm không nhận can thiệp giấc ngủ.WASO −8,0 phút; hiệu quả giấc ngủ +1,2% (0,4–2,1); thức đêm −0,14 (−0,28 đến −0,01)NgườiRCT 4 nhánh (chăm sóc thường quy, Giấc ngủ, Ăn uống–vận động–bú mẹ (FAB), Kết hợp); giấc ngủ đo bằng gia tốc kế Actical đeo ở thắt lưng 24 giờ × 7 ngày lúc 1 và 2 tuổi; thang vấn đề giấc ngủ 8 điểm do cha mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 802; giữ lại 86% lúc 2 tuổiFangupo và cs., 2022
b1-053Theo phần nền của đề cương theo dõi POI (dẫn lại bài kết quả của cùng nhóm), phân tích chính lúc 2 tuổi không thấy khác biệt BMI z có ý nghĩa giữa các nhánh can thiệp và chăm sóc thường quy; trong phân tích thăm dò so sánh trẻ có và không nhận can thiệp giấc ngủ, BMI z thấp hơn 0,15 (KTC 95% −0,28 đến −0,01) và khả năng béo phì thấp hơn (OR 0,52; 0,34–0,80). Lúc 5 tuổi, chênh BMI z là −0,23 (−0,38 đến −0,07) và nguy cơ tương đối béo phì 0,49 (0,28–0,84), với tỉ lệ giữ lại 69%.2 tuổi: OR béo phì 0,52; 5 tuổi: RR 0,49, BMI z −0,23NgườiĐề cương nghiên cứu theo dõi POI ở 11 tuổi (không phải bài báo kết quả); số liệu RCT 4 nhánh lúc 2 và 5 tuổi dẫn lại từ bài của cùng nhóm; kết cục cân đo bởi nhà nghiên cứu; theo dõi 2, 3,5, 5 tuổi. Cỡ mẫu: n = 802; giữ lại 86% (2 tuổi), 77% (3,5 tuổi), 69% (5 tuổi)Adebowale và cs., 2020
b1-059RCT song song ở Vancouver (Canada) trên 235 gia đình có trẻ 6–8 tháng thức ≥ 2 lần/đêm ít nhất 5 đêm/tuần: nhóm can thiệp nhận một buổi học nhóm 2 giờ (giấc ngủ bình thường, liên tưởng giấc ngủ, nếp sinh hoạt, "dỗ có kiểm soát") và 4 cuộc gọi hỗ trợ; nhóm chứng học 2 giờ về an toàn trẻ. Sau 6 tuần, theo nhật ký, tỉ lệ trẻ thức trung bình ≥ 2 lần/đêm là 31,1% so với 60,4% (p < 0,001).Nhật ký: 31,1% so với 60,4% thức ≥ 2 lần/đêm; số lần thức −0,45 (KTC 95% −0,7 đến −0,19)NgườiRCT song song, ngẫu nhiên theo khối tại 4 điểm y tế công cộng; nhóm chứng tích cực (giáo dục an toàn); actigraphy và nhật ký giấc ngủ 6 ngày lúc ban đầu và 6 tuần; kết cục cha mẹ: mệt mỏi (MAF), triệu chứng trầm cảm (CES-D), chất lượng giấc ngủ (PSQI). Cỡ mẫu: n = 235 gia đình (117 can thiệp, 118 chứng), trẻ 6–8 thángHall và cs., 2015
b1-060Trong cùng RCT Vancouver, khi đo bằng actigraphy, khác biệt số đợt thức đêm của trẻ giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (chênh −0,2; KTC 95% −1,32 đến 0,91; p = 0,72), chỉ đoạn ngủ dài nhất tăng khoảng 20 phút (p = 0,05); trong khi đó nhật ký của cha mẹ và mức độ thức đêm nặng do cha mẹ đánh giá (4% so với 14%) cải thiện rõ.Actigraphy: thức đêm −0,2 (p = 0,72); đoạn ngủ dài nhất +20 phút (KTC 0,48–39,56)NgườiRCT; so sánh kết cục khách quan (actigraphy) với kết cục cha mẹ báo cáo (nhật ký). Cỡ mẫu: n = 235Hall và cs., 2015
b1-061Cùng RCT Vancouver: so với nhóm chứng, cha mẹ nhóm can thiệp giảm mệt mỏi (MAF −3,7; KTC 95% −5,74 đến −1,68), giảm điểm trầm cảm CES-D 2 điểm (−3,7 đến −0,4) và cải thiện PSQI 0,88 điểm sau 6 tuần.MAF −3,7; CES-D −2; PSQI −0,88NgườiRCT; thang tự báo cáo của cha mẹ (không làm mù được). Cỡ mẫu: n = 235Hall và cs., 2015
b1-062Nghiên cứu dọc ở Anh (178 trẻ, gồm 73 trẻ rất non tháng/rất nhẹ cân): tỉ lệ mẹ từng "để trẻ khóc" (cry it out) vài lần hoặc thường xuyên tăng từ khoảng 37% lúc đủ tháng lên khoảng 68% lúc 18 tháng; việc này trong 6 tháng đầu không liên quan với gắn bó không an toàn lúc 18 tháng (ví dụ OR 0,83; KTC 95% 0,39–1,78 với "vài lần" lúc đủ tháng) hay vấn đề hành vi.Chưa bao giờ để khóc: 63,4% (đủ tháng) → 31,8% (18 tháng); OR gắn bó không an toàn 0,83–0,87, không có ý nghĩaNgườiThuần tập tiến cứu quan sát; "để khóc" và thời lượng khóc do mẹ báo cáo; gắn bó đánh giá bằng tình huống xa lạ (Strange Situation) lúc 18 tháng; hiệu chỉnh sinh non. Cỡ mẫu: n = 178 (73 rất non tháng hoặc rất nhẹ cân, 105 đủ tháng), 3 bệnh viện miền Đông nước AnhBilgin và Wolke, 2020
b1-063Cũng trong nghiên cứu Anh, mẹ để trẻ khóc "vài lần" lúc đủ tháng đi kèm thời lượng khóc/quấy ngắn hơn lúc 18 tháng (β = −0,22; p = 0,004) — kết quả duy nhất còn ý nghĩa sau hiệu chỉnh Bonferroni.β = −0,22 (p = 0,004)NgườiThuần tập; hồi quy; mẹ báo cáo thời lượng khóc. Cỡ mẫu: n = 178Bilgin và Wolke, 2020
b1-064Nghiên cứu không có nhóm chứng ở một chương trình luyện ngủ nội trú 5 ngày (25 trẻ 4–10 tháng): ngày 3, trẻ không còn biểu hiện khóc khi chuyển vào giấc nhưng cortisol nước bọt vẫn cao, trong khi cortisol của mẹ giảm, khiến cortisol mẹ–con mất đồng bộ.n = 25; mất đồng bộ cortisol ngày 3NgườiNghiên cứu một nhóm, đo lặp; cortisol nước bọt mẹ và trẻ lúc bắt đầu ngủ đêm và sau khi trẻ ngủ, ở 2 ngày; can thiệp dập tắt (extinction) trong chương trình nội trú. Cỡ mẫu: n = 25 trẻ (11 trai), 4–10 thángMiddlemiss và cs., 2012 (tóm tắt)
b1-065Khảo sát trực tuyến 10.085 bà mẹ có con 0–5 tuổi ở 13 nước/vùng: ở trẻ 0–2 tuổi, so nhóm có nếp sinh hoạt trước ngủ mỗi tối với nhóm không bao giờ có, giờ đi ngủ sớm hơn (20:53 so với 22:18), thời gian vào giấc ngắn hơn (18,21 so với 23,51 phút), thức đêm ít hơn (2,20 so với 3,17 lần) và ngủ đêm dài hơn (9,87 so với 8,23 giờ), theo quan hệ liều–đáp ứng.Giờ ngủ 20:53 so với 22:18; thời gian vào giấc 18,21 so với 23,51 phút; thức đêm 2,20 so với 3,17; ngủ đêm 9,87 so với 8,23 giờNgườiCắt ngang, khảo sát trực tuyến qua trang web nuôi dạy con (Nhật, Hàn qua email); BISQ/BCSQ do mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 10.085 trẻ 0–5 tuổi, 13 nước/vùng (gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật, Hàn, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan)Mindell và cs., 2015
b1-066Trong cùng khảo sát 13 nước, nghi thức trước giờ ngủ ≥ 3 tối/tuần phổ biến hơn ở các nước chủ yếu người da trắng (82,6%) so với các nước chủ yếu châu Á (64,4%); ở trẻ 0–2 tuổi, tỉ lệ cha mẹ cho rằng con có vấn đề giấc ngủ là 23,3% ở nhóm có nếp mỗi tối so với 47,2% ở nhóm không bao giờ (theo văn bản bài; người thu thập đọc bảng 4 là 42,7%, chưa đối chiếu).82,6% so với 64,4%; vấn đề giấc ngủ 23,3% so với 47,2% (văn bản; bảng 4 đọc là 42,7%, chưa đối chiếu)NgườiCắt ngang trực tuyến; BISQ do mẹ báo cáo. Cỡ mẫu: n = 10.085Mindell và cs., 2015
b1-067Tổng quan hệ thống của Douglas và Hill (2013) về can thiệp hành vi cho giấc ngủ trẻ dưới 6 tháng (tài liệu 1993–2013) kết luận các can thiệp này chưa được chứng minh làm giảm khóc, ngăn vấn đề giấc ngủ và hành vi về sau hay bảo vệ khỏi trầm cảm sau sinh. Tác giả cảnh báo nếu áp dụng đại trà có thể gây hại ngoài ý muốn như khóc nhiều hơn, ngừng bú mẹ sớm hơn, mẹ lo âu hơn.Không có lợi ích được chứng minh ở trẻ < 6 thángTổng quanTổng quan hệ thống (PubMed, CINAHL, Cochrane, 01/1993–03/2013); không gộp định lượng. Cỡ mẫu: Số nghiên cứu không nêu trong phần đọc đượcDouglas và Hill, 2013 (tóm tắt)
b1-073RCT song song mù đơn trong thuần tập sinh Pelotas 2015 (Brazil), 586 trẻ khoẻ mạnh khoảng 3 tháng ngủ trung bình dưới 15 giờ/24 giờ: nhóm can thiệp được tư vấn tại nhà về đặc điểm giấc ngủ, môi trường, nếp sinh hoạt đêm và chờ 1–2 phút trước khi đáp lại khi trẻ thức, nhắc lại ở 6 và 12 tháng; nhóm chứng được tư vấn về bú mẹ. Không có khác biệt có ý nghĩa ở bất kỳ chỉ số giấc ngủ nào ở 6, 12 hay 24 tháng.Ngủ đêm 6 tháng (nhật ký): 9,80 so với 9,49 giờ (p = 0,10); 12 tháng (actigraphy): 7,99 so với 8,02 giờ (p = 0,85); 24 tháng (actigraphy): 8,17 so với 8,32 giờ (p = 0,33)NgườiRCT song song, mù đơn, phân tích theo nhóm được phân bổ (intention-to-treat); nhóm chứng tích cực (tư vấn bú mẹ); kết cục: thời lượng ngủ đêm và tự điều hoà, đo bằng BISQ, nhật ký 24 giờ và actigraphy; theo dõi 6, 12, 24 tháng. Cỡ mẫu: n = 586 (298 can thiệp, 288 chứng), 2,5–3,5 thángSantos và cs., 2019
b1-084Theo dõi 2 năm thử nghiệm cụm Melbourne (328 bà mẹ báo cáo con khó ngủ lúc 7 tháng; 174 nhận chương trình điều chỉnh hành vi ngắn do y tá thực hiện lúc 8–10 tháng, 154 chăm sóc thường quy): lúc trẻ 2 tuổi, mẹ nhóm can thiệp ít có triệu chứng trầm cảm hơn (15,4% so với 26,4% theo ngưỡng cộng đồng EPDS; 4,2% so với 13,2% theo ngưỡng lâm sàng). Tỉ lệ trẻ có vấn đề giấc ngủ là 27,3% so với 32,6%.Trầm cảm mẹ 15,4% so với 26,4% và 4,2% so với 13,2%; vấn đề giấc ngủ trẻ 27,3% so với 32,6%NgườiRCT cụm tại các trung tâm Sức khoẻ Mẹ và Trẻ ở 6 khu vực Melbourne, rút từ mẫu dân số 739 người tuyển lúc 4 tháng; EPDS và vấn đề giấc ngủ do mẹ báo cáo; kết cục lúc 2 tuổi. Cỡ mẫu: n = 328 (174 can thiệp, 154 chứng)Hiscock và cs., 2008 (tóm tắt)

Dùng ở chương: Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-050Khảo sát trực tuyến 715 phụ huynh ở Anh có con 6–36 tháng: mỗi giờ dùng màn hình cảm ứng mỗi ngày đi kèm tổng thời gian ngủ ít hơn 15,6 phút, gồm ngủ đêm ít hơn khoảng 26,4 phút và ngủ ngày nhiều hơn khoảng 10,8 phút, cùng thời gian vào giấc dài hơn; không liên quan với số lần thức đêm.−15,6 phút tổng/giờ dùng; đêm −26,4 phút; ngày +10,8 phút; thức đêm β = 0,068 (p = 0,122)NgườiCắt ngang, khảo sát trực tuyến; BISQ do cha mẹ báo cáo; mô hình đường dẫn hiệu chỉnh tuổi, giới, học vấn mẹ, TV nền. Cỡ mẫu: 715 phụ huynh trả lời khảo sát; biến giấc ngủ có khoảng 549–556 câu trả lời; trẻ 6–36 tháng, AnhCheung và cs., 2017
b1-051Trong cùng mẫu Anh, tỉ lệ trẻ dùng màn hình cảm ứng hằng ngày tăng từ 51% ở 6–11 tháng lên 92,05% ở 25–36 tháng; khoảng 75% trẻ chập chững dùng mỗi ngày.51% (6–11 tháng) → 92,05% (25–36 tháng)NgườiCắt ngang; phụ huynh báo cáo. Cỡ mẫu: n = 715Cheung và cs., 2017
b1-057Trong mẫu Hạ Môn, 26,9% nhũ nhi và 61,4% trẻ chập chững không đạt khuyến nghị màn hình của WHO; sau hiệu chỉnh, thời gian xem TV đi kèm tổng giấc ngủ ít hơn ở nhũ nhi (β chuẩn hoá −0,15; p < 0,001), và thời gian dùng điện thoại thông minh đi kèm tổng giấc ngủ ít hơn ở trẻ chập chững (β −0,12).Không đạt khuyến nghị: 26,9% nhũ nhi, 61,4% chập chững; β TV–ngủ nhũ nhi = −0,15NgườiCắt ngang; BISQ-E; bảng hỏi màn hình tự xây dựng; hồi quy tuyến tính hiệu chỉnh giới, tuổi, vận động ngoài trời, người chăm sóc chính, BMI, thu nhập. Cỡ mẫu: n = 827Lin và cs., 2022

Dùng ở chương: Ngủ ít với cân nặng, học tập và hành vi: hiệu ứng lớn đến đâu#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-076Trong nghiên cứu Nhật, vào giấc sớm hơn kèm ngủ đêm dài hơn lúc 18 tháng đi kèm khả năng thuộc nhóm quỹ đạo năng lực xã hội cao (18–42 tháng, quan sát qua video) cao hơn (hệ số 2,15; p = 0,03); tương quan giữa ngủ đêm lúc 18 tháng và năng lực xã hội tổng lúc 42 tháng là r = 0,18.Hệ số 2,15 (p = 0,03); r = 0,18–0,23NgườiThuần tập; năng lực xã hội chấm bởi người quan sát được huấn luyện (Interaction Rating Scale, quay video trong phòng thí nghiệm) ở 18, 30, 42 tháng; mô hình quỹ đạo nhóm; biến đưa vào mô hình: giới, có anh chị em, đồng nuôi dạy, người chăm sóc có tát trẻ hay không. Cỡ mẫu: n = 207 cặpTomisaki và cs., 2018
b1-079Tổng quan hệ thống 22 nghiên cứu (trẻ đủ tháng khoẻ mạnh 0–18 tháng) về giấc ngủ và phát triển nhận thức, vận động: trong 101 liên quan được trích, 53,5% không có ý nghĩa, 39,6% hỗn hợp và chỉ 5,9% có ý nghĩa nhất quán; 8/10 nghiên cứu về thời lượng ngủ đêm và 7/8 về tổng thời lượng ngủ không thấy liên quan với phát triển.101 liên quan: 53,5% không ý nghĩa, 39,6% hỗn hợp, 5,9% có ý nghĩa; 8/10 và 7/8 nghiên cứu không liên quanTổng quanTổng quan hệ thống (PROSPERO CRD42019123272, PRISMA; MEDLINE, PsycINFO, SCOPUS đến 03/2024); 6 nghiên cứu đo khách quan, 11 chủ quan, 5 cả hai; đánh giá chất lượng bằng công cụ NIH. Cỡ mẫu: 22 nghiên cứu (từ 7.136 tóm tắt)Butler và cs., 2024
b1-080Trong tổng quan Butler 2024, 95% nghiên cứu không biện minh cỡ mẫu; công suất thống kê hậu kiểm ước 0,063–0,876 ở 19/22 nghiên cứu, chỉ một nghiên cứu đạt 0,80 để phát hiện hiệu ứng nhỏ.Công suất 0,063–0,876; 1/19 đạt 0,80Tổng quanTổng quan hệ thống; ước tính công suất hậu kiểm. Cỡ mẫu: 22 nghiên cứuButler và cs., 2024
b1-081Thuần tập Project Viva (Mỹ, 915 trẻ): ngủ dưới 12 giờ/ngày ở tuổi nhũ nhi (mẹ báo cáo lúc 6 tháng, 1 và 2 tuổi) đi kèm chỉ số BMI z cao hơn lúc 3 tuổi (β 0,16; KTC 95% 0,02–0,29), tổng nếp gấp da dày hơn 0,79 mm (0,18–1,40) và tỉ số chênh thừa cân cao hơn (OR 2,04; 1,07–3,91).OR thừa cân 2,04 (1,07–3,91); BMI z +0,16 (0,02–0,29); nếp gấp da +0,79 mm (0,18–1,40)NgườiThuần tập tiến cứu; thời lượng ngủ do mẹ báo cáo; hiệu chỉnh học vấn mẹ, thu nhập, BMI mẹ trước mang thai, tình trạng hôn nhân, hút thuốc, bú mẹ, cân nặng sinh, cân nặng/chiều dài lúc 6 tháng, xem TV, vận động. Cỡ mẫu: n = 915; ngủ trung bình 12,3 (SD 1,1) giờ/ngày; 9% thừa cân lúc 3 tuổiTaveras và cs., 2008 (tóm tắt)

Khuyến nghị thời lượng ngủ chính thức#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b1-088Đồng thuận AASM 2016 khuyến nghị theo nhóm tuổi: 4–12 tháng 12–16 giờ, 1–2 tuổi 11–14 giờ, 3–5 tuổi 10–13 giờ mỗi 24 giờ (kể cả ngủ ngày); 6–12 tuổi 9–12 giờ và 13–18 tuổi 8–10 giờ mỗi 24 giờ (văn bản không ghi kể cả ngủ ngày cho hai nhóm này).4–12 tháng: 12–16 giờ; 1–2 tuổi: 11–14 giờ; 3–5 tuổi: 10–13 giờ; 6–12 tuổi: 9–12 giờ; 13–18 tuổi: 8–10 giờ (mỗi 24 giờ)Hướng dẫn, tiêu chuẩnĐồng thuận chuyên gia theo phương pháp RAND/UCLA điều chỉnh; hội đồng 13 chuyên gia y học giấc ngủ; 864 bài; nhiều vòng xem xét và bỏ phiếu trong 10 tháng. Cỡ mẫu: Không áp dụng (đồng thuận chuyên gia)Paruthi và cs., 2016b
b1-089Khuyến nghị NSF 2015 cho người khoẻ không có rối loạn giấc ngủ: sơ sinh 14–17 giờ, nhũ nhi 12–15 giờ, trẻ chập chững 11–14 giờ, mẫu giáo 10–13 giờ, tuổi đi học 9–11 giờ, vị thành niên 8–10 giờ; ngủ ngoài các khoảng này có thể vẫn phù hợp nhưng chênh lớn là không thường gặp.Sơ sinh 14–17; nhũ nhi 12–15; chập chững 11–14; mẫu giáo 10–13; tuổi đi học 9–11; vị thành niên 8–10 (giờ)Hướng dẫn, tiêu chuẩnHội đồng chuyên gia 18 thành viên từ 12 tổ chức; phương pháp RAND/UCLA. Cỡ mẫu: Không áp dụng (đồng thuận chuyên gia)Hirshkowitz và cs., 2015 (tóm tắt)
b1-090Thông cáo chính thức của WHO về hướng dẫn 2019 ghi trẻ 3–4 tuổi cần 10–13 giờ ngủ chất lượng tốt, có thể gồm một giấc ngủ ngày, với giờ ngủ và giờ dậy đều đặn.3–4 tuổi: 10–13 giờ (có thể gồm ngủ ngày)Hướng dẫn, tiêu chuẩnThông cáo của WHO về hướng dẫn vận động, ngồi tĩnh tại và giấc ngủ cho trẻ dưới 5 tuổi (2019). Cỡ mẫu: Không áp dụngWHO, 2019a

Viết tắt trong trang

AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
aOR
tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
EPDS
thang trầm cảm sau sinh Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
IPD
phân tích gộp dữ liệu từng cá nhân (individual participant data)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NICU
đơn vị hồi sức sơ sinh (neonatal intensive care unit)
NIH
Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PRISMA
chuẩn báo cáo tổng quan hệ thống và phân tích gộp (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RR
tỉ số nguy cơ, còn gọi là nguy cơ tương đối (risk ratio, relative risk)
SD
độ lệch chuẩn (standard deviation)
SMD
hiệu số trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục A. Dữ kiện: sơ sinh và nhũ nhi (0–24 tháng). Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/phu-luc-a-du-kien-b1/