Phụ lục này liệt kê toàn bộ 76 dữ kiện của nhánh Vị thành niên (10–19 tuổi) đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người hay trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b3-004) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương. Một số dữ kiện dưới đây nói về ý nghĩ và hành vi tự sát ở mức dịch tễ. Người đang có ý nghĩ tự hại, hoặc cha mẹ lo con có ý nghĩ đó, cần tìm hỗ trợ ngay từ nhân viên y tế hoặc người lớn tin cậy.
Dùng ở chương: Trẻ cần ngủ bao nhiêu: khuyến nghị và nền bằng chứng#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-004 | Tuyên bố đồng thuận của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) khuyến nghị vị thành niên 13–18 tuổi ngủ đều đặn 8–10 giờ mỗi 24 giờ. | 8–10 giờ/24 giờ (13–18 tuổi) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Đồng thuận theo phương pháp RAND Appropriateness cải biên; hội đồng 13 chuyên gia; rà soát 864 bài báo; nhiều vòng bỏ phiếu trong 10 tháng (kết thúc 2/2016). Cỡ mẫu: 864 bài báo khoa học được rà soát | Paruthi và cs., 2016b |
| b3-012 | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm ở 34 vị thành niên 15–17 tuổi ước tính nhu cầu ngủ khoảng 9 giờ; mô hình liều–đáp ứng cho thấy cần khoảng 9,35 giờ ngủ để giữ chú ý duy trì tối ưu. | ≈ 9 giờ; 9,35 giờ (theo số lần sót PVT) | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm 10 ngày 9 đêm; 2 đêm nền và 2 đêm hồi phục 10 giờ trên giường; 5 đêm phân nhóm 5 giờ, 7,5 giờ hoặc 10 giờ trên giường; kết cục: nhiệm vụ cảnh giác tâm vận (PVT 10 phút) và thang buồn ngủ Karolinska mỗi 3 giờ; pha sinh học bằng thời điểm khởi phát tiết melatonin dưới ánh sáng mờ (dim light melatonin onset, DLMO) trong nước bọt. Cỡ mẫu: n = 34, 15–17 tuổi, Úc | Short và cs., 2018 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-008 | Ở 9.846 vị thành niên Na Uy 16–19 tuổi, tổng thời gian màn hình sau giờ học trên 4 giờ/ngày đi kèm tỉ số chênh ngủ dưới 5 giờ là 3,64 (KTC 95% 3,06–4,33) so với nhóm dùng ít hơn. | OR 3,64 (KTC 95% 3,06–4,33) cho ngủ < 5 giờ | Người | Cắt ngang dựa trên dân số (youth@hordaland 2012); giấc ngủ và thời gian màn hình tự báo cáo; bài không nói tỉ số chênh có hiệu chỉnh hay không và không nêu biến hiệu chỉnh; kết quả gộp hai giới vì khác biệt theo giới không có ý nghĩa thống kê; tác giả nêu chưa đánh giá nhiễu như vấn đề cảm xúc, hành vi. Cỡ mẫu: n = 9.846 vị thành niên 16–19 tuổi, hạt Hordaland, Na Uy | Hysing và cs., 2015 |
| b3-009 | Trong cùng khảo sát Na Uy, thời gian màn hình sau giờ học trên 4 giờ đi kèm tỉ số chênh thời gian vào giấc (sleep onset latency, SOL) trên 60 phút là 1,49 (KTC 95% 1,36–1,64); hầu hết vị thành niên dùng thiết bị điện tử trong giờ trước khi ngủ. | OR 1,49 (KTC 95% 1,36–1,64) cho SOL > 60 phút | Người | Cắt ngang; SOL tự báo cáo, phân đôi tại 60 phút. Cỡ mẫu: n = 9.846, 16–19 tuổi, Na Uy | Hysing và cs., 2015 |
| b3-013 | Trong Nghiên cứu Thuần tập Thiên niên kỷ Anh (Millennium Cohort Study), vị thành niên 13–15 tuổi dùng mạng xã hội từ 5 giờ/ngày trở lên có tỉ số chênh đi ngủ sau 23:00 ngày đi học là 2,14 (KTC 95% 1,83–2,50) so với nhóm dùng trung bình (1 đến dưới 3 giờ), sau hiệu chỉnh nhiều yếu tố. | OR 2,14 (KTC 95% 1,83–2,50) cho giờ ngủ muộn ngày đi học; OR 1,97 (1,32–2,93) cho giờ dậy muộn; OR 1,36 (1,10–1,66) cho khó ngủ lại sau khi thức giữa đêm | Người | Phân tích cắt ngang trong thuần tập sinh đại diện quốc gia; giấc ngủ tự báo cáo (6 chỉ số); hồi quy logistic hiệu chỉnh tuổi, giới, dân tộc, thu nhập gia đình, số anh chị em, có cả cha mẹ, tuổi cha mẹ, điểm SDQ, điểm trầm cảm (Mood and Feelings), lòng tự trọng, sức khoẻ chung, hỗ trợ xã hội, vận động. Cỡ mẫu: n = 11.872 vị thành niên 13–15 tuổi, Vương quốc Anh | Scott và cs., 2019 |
| b3-014 | Trong cùng mẫu thuần tập Anh 13–15 tuổi, 20,8% dùng mạng xã hội từ 5 giờ/ngày trở lên; tỉ lệ này ở nữ (28,4%) gấp khoảng đôi nam (13,7%). | 20,8% chung; nữ 28,4%, nam 13,7% | Người | Cắt ngang, thời gian mạng xã hội tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 11.872, 13–15 tuổi, Anh | Scott và cs., 2019 |
| b3-015 | Phân tích gộp các nghiên cứu quan sát ở trẻ 6–18 tuổi: dùng thiết bị truyền thông (điện thoại, máy tính bảng…) lúc đi ngủ đi kèm tỉ số chênh ngủ không đủ là 2,17 (KTC 95% 1,42–3,32) so với không có thiết bị trong phòng; tác giả chấm GRADE mức thấp. | OR 2,17 (KTC 95% 1,42–3,32; I² = 90%) cho ngủ không đủ; OR 1,46 (1,14–1,88; I² = 76%) cho chất lượng ngủ kém; OR 2,72 (1,32–5,61; I² = 50%) cho buồn ngủ ban ngày quá mức | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp; 20 nghiên cứu được đánh giá chất lượng, 17 được gộp (bài ghi không thống nhất 20/17); chủ yếu cắt ngang, giấc ngủ chủ yếu tự báo cáo; chấm GRADE. Cỡ mẫu: n = 125.198 trẻ, tuổi trung bình 14,5 (SD 2,2), khoảng 6–18 tuổi, 50,1% nam | Carter và cs., 2016 |
| b3-016 | Trong cùng phân tích gộp, chỉ cần có thiết bị trong phòng ngủ mà không dùng lúc đi ngủ cũng đi kèm tỉ số chênh ngủ không đủ là 1,79 (KTC 95% 1,39–2,31) so với không có thiết bị. | OR 1,79 (KTC 95% 1,39–2,31; I² = 64%); buồn ngủ ban ngày OR 2,27 (1,54–3,35; I² = 24%) | Tổng quan | Phân tích gộp nghiên cứu quan sát (như trên). Cỡ mẫu: n = 125.198 trẻ 6–18 tuổi | Carter và cs., 2016 |
| b3-017 | Phân tích nhật ký sử dụng thời gian trong thuần tập Anh (13–15 tuổi) cho thấy mỗi giờ dùng công nghệ số thêm trong ngày đi kèm ngủ ít hơn khoảng 9 phút vào ngày thường và khoảng 3,5 phút vào cuối tuần; tác giả đánh giá các hiệu ứng là rất nhỏ. | −9 phút 17 giây/giờ dùng (ngày thường); −3 phút 26 giây (cuối tuần); dùng trong 30 phút trước khi ngủ: khoảng −1 phút | Người | Phân tích cắt ngang trong Millennium Cohort Study; thời gian màn hình bằng bảng hỏi tự báo cáo và nhật ký thời gian (time-use diary); giấc ngủ tự báo cáo (giờ đi ngủ, tổng thời gian ngủ ước từ giờ ngủ–dậy); phân tích đặc tả đa chiều (specification curve); không đăng ký trước. Cỡ mẫu: n = 11.884 vị thành niên (5.931 nữ, 5.953 nam), 13–15 tuổi; nhật ký: n = 4.642 | Orben và Przybylski, 2020 |
| b3-056 | Trong một can thiệp trước–sau không nhóm chứng ở Thuỵ Sĩ, 183 vị thành niên tuân thủ (trong 569 em tham gia) quy tắc ngừng màn hình sau 21:00 giảm 71,3% thời gian màn hình buổi tối, đi ngủ sớm hơn khoảng 21 phút và thời gian ngủ đo bằng actigraphy dài thêm 17 phút. | Màn hình sau 21:00 −71,3%; giờ lên giường 23:28 → 23:07; thời gian ngủ +17 phút (± 2); thời gian phản ứng chậm nhất (bách phân vị 75) 474,2 → 453,9 ms | Người | Can thiệp không ngẫu nhiên, thiết kế trong cùng đối tượng (within-subject), không nhóm chứng: 2 tuần nền rồi 2 tuần được yêu cầu ngừng dùng thiết bị màn hình sau 21:00 các tối Chủ nhật–thứ Năm, kèm buổi hội thảo giáo dục giấc ngủ 40 phút; actigraphy cổ tay (ActiGraph GT3X+); thời gian màn hình tự báo cáo hằng ngày; cảnh giác đo bằng thời gian phản ứng. Cỡ mẫu: 569 học sinh 12–19 tuổi tham gia giai đoạn 1; 183 em "tích cực" (tuân thủ ≥ 7 ngày) được phân tích; tuổi trung bình 15,35 (SD 2,1); Genève, Thuỵ Sĩ | Perrault và cs., 2019 |
| b3-057 | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: 1 giờ ánh sáng buổi tối (từ 23:00) ức chế melatonin nước bọt ở trẻ tiền dậy thì đến giữa dậy thì mạnh hơn ở vị thành niên cuối dậy thì đến sau dậy thì, kể cả ở mức sáng trong nhà thông thường (150 lux). | Ức chế melatonin, đầu–giữa dậy thì so với cuối dậy thì: ~15 lux 9,2% so với −5,3%; ~150 lux 26,0% so với 12,5%; ~500 lux 36,9% so với 23,9% (p < 0,05) | Người | Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm; 4 đêm liên tiếp, mỗi đêm 1 giờ ánh sáng ở ~0,1 (nền), 15, 150, 500 lux; melatonin nước bọt mỗi 30 phút, % ức chế so với đêm nền của chính người đó; nhóm buổi tối (23:00, n = 39) và nhóm buổi sáng (03:00, n = 28). Cỡ mẫu: n = 38 trẻ tiền dậy thì đến giữa dậy thì (9,1–14,7 tuổi) và 29 em cuối dậy thì đến sau dậy thì (11,5–15,9 tuổi), Hoa Kỳ | Crowley và cs., 2015 (tóm tắt) |
| b3-061 | Trong khảo sát toàn quốc Nhật Bản ở học sinh THCS và THPT, 8,3% gọi điện và 17,6% nhắn tin bằng điện thoại sau khi tắt đèn đi ngủ mỗi ngày; dùng điện thoại sau khi tắt đèn đi kèm ngủ ngắn, chất lượng ngủ kém, buồn ngủ ban ngày quá mức và triệu chứng mất ngủ, độc lập với các biến khác. | Dùng điện thoại hằng ngày 84,4%; gọi sau tắt đèn hằng ngày 8,3%; nhắn tin sau tắt đèn hằng ngày 17,6% | Người | Khảo sát cắt ngang toàn quốc, chọn mẫu cụm theo trường, bảng hỏi tự điền ẩn danh phát cho toàn bộ học sinh trường được chọn; hồi quy logistic đa biến. Cỡ mẫu: 94.777 phiếu phân tích (95.680 phản hồi, tỉ lệ 62,9%), học sinh THCS và THPT Nhật Bản | Munezawa và cs., 2011 (tóm tắt) |
| b3-069 | Phân tích gộp 33 nghiên cứu (chủ yếu cắt ngang, ước lượng không hiệu chỉnh): chơi game có vấn đề (problematic gaming) đi kèm thời lượng ngủ ngắn hơn (g = −0,238; khoảng 21 phút ở 6 nghiên cứu báo theo phút) và tỉ số chênh chất lượng ngủ kém 2,02; khác biệt thời lượng ngủ ở mẫu vị thành niên lớn hơn ở mẫu người lớn. | Thời lượng ngủ g = −0,238 (KTC 95% −0,364 đến −0,112; 12 nghiên cứu; I² = 83,3%); 6 nghiên cứu báo theo phút: −20,8 phút (−27,3 đến −14,3); vị thành niên g = −0,323 (−0,450 đến −0,195) so với người lớn/không phân loại g = −0,037 (−0,222 đến 0,148), p = 0,013; chất lượng ngủ kém OR 2,02 (1,47–2,78); vấn đề giấc ngủ OR 2,60 (1,94–3,47); buồn ngủ ban ngày OR 1,57 (1,00–2,46) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên; 34 nghiên cứu đủ điều kiện, 33 vào phân tích; 32 cắt ngang; ước lượng không hiệu chỉnh; giấc ngủ chủ yếu tự báo cáo. Cỡ mẫu: n ≈ 51.430–51.901 người, 26 nước, 10–74 tuổi (trung bình gia quyền 16,1); đa số mẫu vị thành niên | Kristensen và cs., 2021 |
| b3-075 | Theo dõi 3 năm từ 11 đến 13 tuổi (Úc): thời gian dùng công nghệ dự báo thời lượng ngủ ngắn hơn và buồn ngủ ban ngày nhiều hơn về sau, đồng thời ngủ ngắn và xu hướng "cú đêm" cũng dự báo dùng công nghệ nhiều hơn — quan hệ hai chiều. | Quan hệ hai chiều có ý nghĩa (hệ số cụ thể chưa đọc) | Người | Thuần tập tiến cứu 3 đợt hằng năm; bảng hỏi do vị thành niên và người chăm sóc chính (96% mẹ) điền về giấc ngủ, thời gian dùng công nghệ, kiểm soát của cha mẹ; mô hình trễ chéo (cross-lagged). Cỡ mẫu: Đợt 1 n = 528 (tuổi TB 11,18; 10–12 tuổi; 51% nam); đợt 3 n = 478 (tuổi TB 13,19); Sydney, Úc | Richardson và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b3-076 | Trong cùng thuần tập, việc cha mẹ kiểm soát dùng công nghệ không dự báo giấc ngủ tốt hơn về sau; ngược lại, việc dùng công nghệ và giấc ngủ của trẻ dự báo mức kiểm soát của cha mẹ. | Không thấy tác dụng bảo vệ của kiểm soát cha mẹ | Người | Thuần tập tiến cứu 3 đợt hằng năm; bảng hỏi do vị thành niên và người chăm sóc chính (96% mẹ) điền về giấc ngủ, thời gian dùng công nghệ, kiểm soát của cha mẹ; mô hình trễ chéo (cross-lagged). Cỡ mẫu: Đợt 1 n = 528 (tuổi TB 11,18; 10–12 tuổi; 51% nam); đợt 3 n = 478 (tuổi TB 13,19); Sydney, Úc | Richardson và cs., 2021 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Vị thành niên: đồng hồ sinh học lùi muộn, thiếu ngủ và ngủ bù#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-001 | Theo Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên Hoa Kỳ (Youth Risk Behavior Survey, YRBS) 2015, 72,7% học sinh trung học phổ thông (lớp 9–12) tự báo cáo ngủ dưới 8 giờ vào đêm trước ngày đi học. | 72,7% (KTC 95% 70,4–74,9); phạm vi theo bang 61,8% (South Dakota) – 82,5% (West Virginia) | Người | Khảo sát cắt ngang quốc gia, bảng hỏi ẩn danh tự điền; câu hỏi "On an average school night, how many hours of sleep do you get?"; ngủ ngắn = < 8 giờ với tuổi 13–18. Cỡ mẫu: n = 14.471 học sinh lớp 9–12 (mẫu phân tích quốc gia), Hoa Kỳ | Wheaton và cs., 2018 |
| b3-002 | Trong mẫu gộp học sinh trung học cơ sở (lớp 6–8) ở 9 bang Hoa Kỳ (YRBS 2015), 57,8% ngủ ít hơn mức khuyến nghị theo tuổi (dưới 9 giờ với trẻ 6–12 tuổi, dưới 8 giờ với 13–18 tuổi). | 57,8% (KTC 95% 56,7–58,9); theo bang 50,2% (New Mexico) – 64,7% (Kentucky) | Người | Khảo sát cắt ngang cấp bang, bảng hỏi tự điền; ngưỡng ngủ ngắn theo khuyến nghị AASM theo tuổi. Cỡ mẫu: n = 52.356 học sinh lớp 6–8, 9 bang (không đại diện quốc gia) | Wheaton và cs., 2018 |
| b3-003 | Ở cả trung học cơ sở và trung học phổ thông Hoa Kỳ (YRBS 2015), tỉ lệ ngủ ngắn ở nữ sinh cao hơn nam sinh. | THCS: nữ 59,6% so với nam 56,0%; THPT: nữ 75,6% so với nam 69,9% | Người | Khảo sát cắt ngang, tự báo cáo thời lượng ngủ đêm ngày đi học. Cỡ mẫu: THPT n = 14.471 (quốc gia); THCS n = 52.356 (9 bang) | Wheaton và cs., 2018 |
| b3-018 | Trong dữ liệu YRBS gộp 2007–2015, chỉ 30,4% học sinh trung học phổ thông Hoa Kỳ ngủ từ 8 giờ trở lên vào đêm trước ngày đi học; 17,6% ngủ dưới 6 giờ. | ≥ 8 giờ: 30,4%; 6 giờ: 22,0%; < 6 giờ: 17,6%; tỉ lệ < 8 giờ tăng từ 68,9% (2007) lên 71,9% (2015) | Người | Phân tích cắt ngang gộp YRBS 2007–2015 (Hoa Kỳ); thời lượng ngủ đêm ngày đi học tự báo cáo, 4 mức (≥ 8, 7, 6, < 6 giờ); hồi quy logistic có trọng số theo thiết kế khảo sát, hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc/dân tộc, năm khảo sát. Cỡ mẫu: n = 67.615 phiếu khảo sát học sinh THPT, Hoa Kỳ | Weaver và cs., 2018 |
| b3-024 | Theo dõi dọc 2,5 năm có đo melatonin dưới ánh sáng mờ cho thấy DLMO dịch muộn dần theo tuổi, không đều: dịch lớn nhất khoảng 1 giờ trong giai đoạn 11–13 tuổi ở nhóm nhỏ và 17–19 tuổi ở nhóm lớn. | DLMO trung bình 20:42 lúc 9 tuổi → 21:27 lúc 13 tuổi; giờ vào giấc ngày thường 21:28 → 22:30 | Người | Thuần tập dọc 2,5 năm, đánh giá mỗi ~6 tháng; thời điểm khởi phát tiết melatonin dưới ánh sáng mờ (dim light melatonin onset, DLMO) đo bằng nước bọt mỗi 30 phút trong phòng thí nghiệm dưới 40 lux; giấc ngủ đo bằng actigraphy cổ tay và nhật ký ≥ 1 tuần trước mỗi lần vào lab, kiểm bằng gọi điện 2 lần/ngày. Cỡ mẫu: n = 94 (nhóm nhỏ 38 em 9–10 tuổi lúc đầu; nhóm lớn 56 em 15–16 tuổi), đông bắc Hoa Kỳ | Crowley và cs., 2014 |
| b3-025 | Trong cùng thuần tập, giờ dậy cuối tuần của nhóm nhỏ muộn dần khoảng 40 phút theo tuổi, trong khi giờ dậy ngày đi học bị giữ cố định hoặc sớm hơn — khoảng cách giữa đồng hồ sinh học và lịch học nới rộng. | Giờ dậy cuối tuần muộn thêm ≈ 40 phút (nhóm 9–10 tuổi theo dõi 2,5 năm) | Người | Thuần tập dọc 2,5 năm, đánh giá mỗi ~6 tháng; thời điểm khởi phát tiết melatonin dưới ánh sáng mờ (dim light melatonin onset, DLMO) đo bằng nước bọt mỗi 30 phút trong phòng thí nghiệm dưới 40 lux; giấc ngủ đo bằng actigraphy cổ tay và nhật ký ≥ 1 tuần trước mỗi lần vào lab, kiểm bằng gọi điện 2 lần/ngày. Cỡ mẫu: n = 94 (nhóm nhỏ 38 em 9–10 tuổi lúc đầu; nhóm lớn 56 em 15–16 tuổi), đông bắc Hoa Kỳ | Crowley và cs., 2014 |
| b3-026 | Quỹ đạo phát triển của DLMO và giờ ngủ–dậy khác biệt theo giới không có ý nghĩa thống kê, trừ giờ vào giấc ngày thường; ở nhóm nhỏ, dậy thì Tanner từ giai đoạn 3 trở lên đi kèm giờ vào giấc ngày thường muộn hơn khoảng 12 phút. | Tanner ≥ 3: vào giấc muộn hơn ≈ 12 phút | Người | Thuần tập dọc 2,5 năm, đánh giá mỗi ~6 tháng; thời điểm khởi phát tiết melatonin dưới ánh sáng mờ (dim light melatonin onset, DLMO) đo bằng nước bọt mỗi 30 phút trong phòng thí nghiệm dưới 40 lux; giấc ngủ đo bằng actigraphy cổ tay và nhật ký ≥ 1 tuần trước mỗi lần vào lab, kiểm bằng gọi điện 2 lần/ngày. Cỡ mẫu: n = 94 (nhóm nhỏ 38 em 9–10 tuổi lúc đầu; nhóm lớn 56 em 15–16 tuổi), đông bắc Hoa Kỳ | Crowley và cs., 2014 |
| b3-034 | Tổng quan nhanh 46 nghiên cứu (chủ yếu Bắc Mỹ và châu Âu) dẫn một khảo sát của Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu (European Food Safety Authority, EFSA) ở 16 nước Liên minh châu Âu (EU), trong đó nhóm 10–18 tuổi có tỉ lệ uống nước tăng lực cao nhất (68%); đa số nghiên cứu định lượng là khảo sát cắt ngang. | 68% (10–18 tuổi, 16 nước EU, theo EFSA); 31/42 nghiên cứu định lượng là cắt ngang | Tổng quan | Tổng quan nhanh (rapid evidence assessment) có đăng ký PROSPERO CRD42014010192, tổng hợp tường thuật; 410 nghiên cứu tìm được, 46 đưa vào (42 định lượng, 4 định tính/hỗn hợp). Cỡ mẫu: 46 nghiên cứu (Bắc Mỹ 22, châu Âu 12, Trung Đông 5, Nam Mỹ 1; định tính từ Úc/New Zealand) | Visram và cs., 2016 |
| b3-035 | Ở 9.446 học sinh lớp 7 Phần Lan, 2,4% uống nước tăng lực nhiều lần mỗi ngày và 5,2% uống hằng ngày; tổng cộng 44,6% có uống. | Nhiều lần/ngày 2,4%; khoảng 1 lần/ngày 2,8% (tổng hằng ngày 5,2%); 3–4 lần/tuần 7,4%; ≤ 1 lần/tuần 32,0%; không uống 55,4% | Người | Khảo sát cắt ngang tại lớp năm 2011, toàn bộ học sinh lớp 7 Phần Lan được mời (tỉ lệ trả lời 73%); tần suất uống nước tăng lực và giờ đi ngủ ngày đi học tự báo cáo (giờ ngủ muộn = từ 23:00); hồi quy logistic hiệu chỉnh giới, học vấn cha mẹ, cấu trúc gia đình, kết quả học tập, bệnh mạn tính. Cỡ mẫu: n = 9.446 học sinh lớp 7 (13 tuổi), Phần Lan | Koivusilta và cs., 2016 |
| b3-036 | Trong cùng khảo sát Phần Lan, học sinh 13 tuổi uống nước tăng lực nhiều lần mỗi ngày có tỉ số chênh hiệu chỉnh 7,9 cho đi ngủ từ 23:00 trở đi và 3,6 cho vấn đề giấc ngủ so với học sinh không uống. | Giờ ngủ muộn aOR 7,9 (KTC 95% 5,7–10,9) [tóm tắt ghi 7,8]; vấn đề giấc ngủ aOR 3,6 (2,2–5,8); mệt mỏi aOR 3,7 (2,4–5,7) | Người | Khảo sát cắt ngang tại lớp năm 2011, toàn bộ học sinh lớp 7 Phần Lan được mời (tỉ lệ trả lời 73%); tần suất uống nước tăng lực và giờ đi ngủ ngày đi học tự báo cáo (giờ ngủ muộn = từ 23:00); hồi quy logistic hiệu chỉnh giới, học vấn cha mẹ, cấu trúc gia đình, kết quả học tập, bệnh mạn tính. Cỡ mẫu: n = 9.446 học sinh lớp 7 (13 tuổi), Phần Lan | Koivusilta và cs., 2016 |
| b3-042 | Khảo sát kiểu thời gian sinh học (chronotype) trên quy mô dân số cho thấy xu hướng ngủ muộn tăng suốt tuổi vị thành niên rồi đổi chiều đột ngột quanh tuổi 20; nhóm tác giả đề xuất đây là dấu ấn sinh học đầu tiên của sự kết thúc tuổi vị thành niên. | Điểm đổi chiều ≈ 20 tuổi (so với kết thúc dậy thì: nữ 16 tuổi, nam 17,5 tuổi) | Người | Khảo sát cắt ngang bằng bảng hỏi kiểu thời gian sinh học Munich (MCTQ), thời điểm giữa giấc ngủ ngày nghỉ; thư khoa học ngắn. Cỡ mẫu: Không có trong phần đã đọc (Đức–Thuỵ Sĩ, cộng đồng) | Roenneberg và cs., 2004 (tóm tắt) |
| b3-043 | Đo bằng actigraphy 7 ngày ở 504 học sinh THPT Ý, 33,9% có lệch giờ xã hội từ 120 phút trở lên và 38,3% từ 60–119 phút; chỉ 27,8% dưới 60 phút. | ≥ 120 phút: 33,9%; 60–119 phút: 38,3%; < 60 phút: 27,8% | Người | Cắt ngang; actigraphy cổ tay (Micro Motionlogger) 7 ngày liên tiếp, epoch 1 phút, cần ≥ 3 đêm đi học và ≥ 1 đêm cuối tuần hợp lệ; lệch giờ xã hội (social jetlag) = chênh điểm giữa giấc ngủ cuối tuần và ngày học; ngủ bù cuối tuần (weekend catch-up sleep) = chênh tổng thời gian ngủ; phân tích tương quan Pearson, ANOVA, không hiệu chỉnh nhiễu. Cỡ mẫu: n = 504 học sinh THPT (42,1% nam), tuổi trung bình 16,17 (14,35–18,87), Emilia-Romagna, Ý | Tonetti và cs., 2023 |
| b3-044 | Trong cùng mẫu Ý, ở học sinh ngủ dưới 7 giờ, ngủ bù cuối tuần từ 120 phút trở lên đi kèm điểm hạnh phúc chủ quan thấp hơn; ở học sinh ngủ từ 7 giờ trở lên không thấy liên quan, và lệch giờ xã hội không tương quan với hạnh phúc ở nhóm nào. | Nhóm < 7 giờ: ngủ bù ≥ 120 phút ở 34,1% (so với 13,1% ở nhóm ≥ 7 giờ); hạnh phúc chủ quan 3,91 (≥ 120 phút) so với 4,31 (0–59 phút), F(3,287) = 3,94; r = −0,194 giữa ngủ bù và hạnh phúc chủ quan | Người | Cắt ngang; actigraphy cổ tay (Micro Motionlogger) 7 ngày liên tiếp, epoch 1 phút, cần ≥ 3 đêm đi học và ≥ 1 đêm cuối tuần hợp lệ; lệch giờ xã hội (social jetlag) = chênh điểm giữa giấc ngủ cuối tuần và ngày học; ngủ bù cuối tuần (weekend catch-up sleep) = chênh tổng thời gian ngủ; phân tích tương quan Pearson, ANOVA, không hiệu chỉnh nhiễu. Cỡ mẫu: n = 504 học sinh THPT (42,1% nam), tuổi trung bình 16,17 (14,35–18,87), Emilia-Romagna, Ý | Tonetti và cs., 2023 |
| b3-045 | Phân tích gộp dữ liệu từ nhiều nước cho thấy thời gian ngủ ngày đi học giảm khoảng 14 phút cho mỗi năm tuổi trong độ tuổi 9–18, và khoảng 7 phút/năm vào ngày nghỉ — khoảng cách ngày học–ngày nghỉ nới rộng theo tuổi. | −14 phút/năm tuổi (ngày học); −7 phút/năm tuổi (ngày nghỉ) | Tổng quan | Phân tích gộp 30 nghiên cứu về thời gian trên giường (time in bed) ở trẻ khoẻ 9–18 tuổi trong 30 năm; mô phỏng Monte Carlo tạo dữ liệu giả từ thống kê tóm tắt (92.977 điểm dữ liệu); mô hình hỗn hợp phân cụm theo nước; giấc ngủ chủ yếu tự báo cáo. Cỡ mẫu: 30 nghiên cứu, 92.977 điểm dữ liệu (mô phỏng), 20 nước theo tóm tắt (tiêu đề ghi 23 nước), 9–18 tuổi | Olds và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b3-046 | Cùng phân tích gộp: vị thành niên ở các nước châu Á ngủ ít hơn khoảng 40–60 phút mỗi đêm so với vị thành niên Mỹ và 60–120 phút so với vị thành niên châu Âu. | Châu Á ít hơn Mỹ 40–60 phút/đêm; ít hơn châu Âu 60–120 phút/đêm | Tổng quan | Phân tích gộp 30 nghiên cứu về thời gian trên giường (time in bed) ở trẻ khoẻ 9–18 tuổi trong 30 năm; mô phỏng Monte Carlo tạo dữ liệu giả từ thống kê tóm tắt (92.977 điểm dữ liệu); mô hình hỗn hợp phân cụm theo nước; giấc ngủ chủ yếu tự báo cáo. Cỡ mẫu: 30 nghiên cứu, 92.977 điểm dữ liệu (mô phỏng), 20 nước theo tóm tắt (tiêu đề ghi 23 nước), 9–18 tuổi | Olds và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b3-047 | Cùng phân tích gộp: nữ ngủ nhiều hơn nam khoảng 11 phút/đêm ngày đi học và 29 phút vào ngày nghỉ. | +11 phút (ngày học, p = 0,003); +29 phút (ngày nghỉ, p = 0,003) | Tổng quan | Phân tích gộp 30 nghiên cứu về thời gian trên giường (time in bed) ở trẻ khoẻ 9–18 tuổi trong 30 năm; mô phỏng Monte Carlo tạo dữ liệu giả từ thống kê tóm tắt (92.977 điểm dữ liệu); mô hình hỗn hợp phân cụm theo nước; giấc ngủ chủ yếu tự báo cáo. Cỡ mẫu: 30 nghiên cứu, 92.977 điểm dữ liệu (mô phỏng), 20 nước theo tóm tắt (tiêu đề ghi 23 nước), 9–18 tuổi | Olds và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b3-048 | Ở 112 vận động viên học đường 12–18 tuổi (một trường liên cấp lớp 7–12 ở Hoa Kỳ), ngủ trung bình dưới 8 giờ/đêm đi kèm khả năng từng bị chấn thương thể thao cao hơn 1,7 lần (KTC 95% 1,0–3,0; p = 0,04) so với ngủ từ 8 giờ trở lên; mỗi lớp học cao hơn đi kèm 1,4 lần (1,2–1,6). | 1,7 (KTC 95% 1,0–3,0; p = 0,04); mỗi lớp 1,4 (1,2–1,6; p < 0,001) | Người | Nghiên cứu hồi cứu (bằng chứng mức III): khảo sát trực tuyến tự báo cáo giờ ngủ (tỉ lệ hoàn thành 70%), đối chiếu hồ sơ chấn thương hồi cứu của bộ phận thể thao trường; hồi quy tìm yếu tố dự báo độc lập. Cỡ mẫu: n = 112 vận động viên (54 nam, 58 nữ; tuổi trung bình 15, 12–18 tuổi) trong 160 em đồng ý (hoàn thành 70%), một trường liên cấp ở Hoa Kỳ | Milewski và cs., 2014 (tóm tắt) |
| b3-050 | Trong mẫu 339 học sinh có bằng lái ở Bologna (Ý), 18–21 tuổi (cùng mẫu với b3-049), tổng thời gian ngủ tự báo cáo là 7,3 giờ ngày thường so với 8,9 giờ cuối tuần — chênh khoảng 1,6 giờ. | 7,3 ± 0,9 giờ (ngày thường) so với 8,9 ± 1,8 giờ (cuối tuần) | Người | Cắt ngang, bảng hỏi tự điền 71 mục dựa trên School Sleep Habits Survey; tai nạn tự báo cáo; hồi quy logistic đa biến (giới, buồn ngủ khi lái, ngủ kém, hút thuốc). Cỡ mẫu: n = 339 học sinh có bằng lái, 18–21 tuổi (trung bình 18,4), 58% nam, 7 trường THPT ở Bologna, Ý | Pizza và cs., 2010 |
| b3-052 | Báo cáo kỹ thuật 2014 của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) tổng kết hai cơ chế sinh học: điểm giữa giấc ngủ cuối tuần dịch muộn tuyến tính 2 giờ (nữ) đến 3 giờ (nam) trong thập niên thứ hai của đời, và vị thành niên trưởng thành hơn tích luỹ áp lực ngủ (sleep pressure) chậm hơn. | Dịch muộn 2 giờ (nữ) – 3 giờ (nam) từ 10 đến 20 tuổi | Tổng quan | Báo cáo kỹ thuật (technical report) của AAP, tổng quan tường thuật tài liệu. Cỡ mẫu: Không áp dụng | Owens, 2014 |
| b3-053 | Báo cáo kỹ thuật AAP 2014 dẫn số liệu Hoa Kỳ: đến lớp 12, 75% học sinh tự báo cáo ngủ dưới 8 giờ mỗi đêm và chỉ 3% ngủ từ 9 giờ trở lên. | 75% < 8 giờ; 3% ≥ 9 giờ (lớp 12) | Tổng quan | Báo cáo kỹ thuật (technical report) của AAP, tổng quan tường thuật; số liệu dẫn lại từ thăm dò Sleep in America của National Sleep Foundation (tự báo cáo). Cỡ mẫu: Không có trong phần đã đọc | Owens, 2014 |
| b3-055 | Báo cáo kỹ thuật AAP 2014 dẫn nghiên cứu cho thấy học sinh THPT dùng caffeine mức vừa đến cao có khả năng khó ngủ và buồn ngủ buổi sáng cao gần gấp 2 lần, đồng thời cảnh báo xu hướng uống nước tăng lực pha rượu. | Gần gấp 2 lần | Tổng quan | Báo cáo kỹ thuật (technical report) của AAP, tổng quan tường thuật tài liệu; số liệu dẫn lại. Cỡ mẫu: Không có trong phần đã đọc | Owens, 2014 |
| b3-062 | Trong khảo sát Monitoring the Future (Hoa Kỳ) lặp lại hằng năm 1991–2012, tỉ lệ vị thành niên tự báo cáo thường ngủ ít nhất 7 giờ giảm dần trong 20 năm, giảm mạnh nhất giữa giai đoạn 1991–1995 và 1996–2000. | Xu hướng giảm (số phần trăm cụ thể chưa đọc được trong tóm tắt) | Người | Chuỗi khảo sát cắt ngang đại diện quốc gia lặp lại hằng năm; câu hỏi tự báo cáo tần suất ngủ ≥ 7 giờ và ngủ ít hơn mức nên ngủ; mô hình tuổi–thời kỳ–thế hệ (age-period-cohort). Cỡ mẫu: n = 272.077 vị thành niên Hoa Kỳ, thế hệ sinh 1973–2000 | Keyes và cs., 2015 (tóm tắt) |
| b3-063 | Trong mẫu dân số 9.338 vị thành niên Na Uy 16–19 tuổi, 3,3% thoả tiêu chí gần đúng của hội chứng ngủ muộn pha, nữ nhiều hơn nam; hơn một nửa số này đồng thời thoả tiêu chí mất ngủ. | 3,3% chung (n = 306); nữ 3,7%, nam 2,7%; trùng mất ngủ 53,8% (nam) và 57,1% (nữ); thiếu ngủ ngày thường 3 giờ 38 phút | Người | Cắt ngang dựa trên dân số (ung@hordaland, mùa xuân 2012); hội chứng ngủ muộn pha (delayed sleep phase syndrome, DSPS) xác định gần đúng theo tiêu chí ICSD-R từ câu hỏi tự báo cáo (giờ vào giấc và giờ dậy cuối tuần muộn ≥ 1 giờ so với ngày thường, khó vào giấc thường xuyên, ít thức giấc giữa đêm, hay ngủ quên); nghỉ học lấy từ sổ đăng ký của trường; hồi quy logistic riêng theo giới, hiệu chỉnh tuổi, học vấn cha mẹ, mất ngủ, trầm cảm. Cỡ mẫu: n = 9.338 vị thành niên 16–19 tuổi (trung bình 17,0), hạt Hordaland, Na Uy (tỉ lệ tham gia 53%) | Sivertsen và cs., 2013 |
| b3-064 | Trong cùng nghiên cứu, sau hiệu chỉnh tuổi, học vấn cha mẹ, mất ngủ và trầm cảm, hội chứng ngủ muộn pha đi kèm tỉ số chênh nghỉ học (số ngày, theo sổ trường) là 3,22 ở nam và 1,87 ở nữ. | Nam aOR 3,22 (KTC 95% 1,94–5,34); nữ aOR 1,87 (1,25–2,80); điểm trầm cảm SMFQ 8,8 so với 5,7 (p < 0,001) | Người | Cắt ngang dựa trên dân số (ung@hordaland, mùa xuân 2012); hội chứng ngủ muộn pha (delayed sleep phase syndrome, DSPS) xác định gần đúng theo tiêu chí ICSD-R từ câu hỏi tự báo cáo (giờ vào giấc và giờ dậy cuối tuần muộn ≥ 1 giờ so với ngày thường, khó vào giấc thường xuyên, ít thức giấc giữa đêm, hay ngủ quên); nghỉ học lấy từ sổ đăng ký của trường; hồi quy logistic riêng theo giới, hiệu chỉnh tuổi, học vấn cha mẹ, mất ngủ, trầm cảm. Cỡ mẫu: n = 9.338 vị thành niên 16–19 tuổi (trung bình 17,0), hạt Hordaland, Na Uy (tỉ lệ tham gia 53%) | Sivertsen và cs., 2013 |
| b3-065 | Trong thực nghiệm Need for Sleep ở Singapore, 7 đêm chỉ được 5 giờ trên giường làm chú ý duy trì, trí nhớ làm việc và chức năng điều hành của vị thành niên 15–19 tuổi giảm dần, buồn ngủ tăng và khí sắc tích cực giảm, trong khi nhóm 9 giờ giữ nguyên mức nền. | Suy giảm tích luỹ qua 7 đêm (con số cụ thể theo từng bài kiểm tra nằm trong hình/bảng, chưa trích) | Người | Thực nghiệm nhóm song song, phân nhóm ngẫu nhiên (không mù), tại trường nội trú: 3 đêm nền 9 giờ trên giường, 7 đêm 5 giờ (nhóm hạn chế ngủ) hoặc 9 giờ (nhóm chứng), rồi 3 đêm hồi phục 9 giờ; giấc ngủ đo bằng actigraphy và PSG; bộ bài kiểm tra nhận thức 3 lần/ngày. Cỡ mẫu: n = 56 vị thành niên khoẻ (25 nam), 15–19 tuổi, học sinh một trường hàng đầu ở Singapore, không phải người ngủ ngắn thường xuyên | Lo và cs., 2016 |
| b3-066 | Trong cùng thực nghiệm, sau 2 đêm hồi phục 9 giờ trên giường, buồn ngủ chủ quan và chú ý duy trì của nhóm từng bị hạn chế ngủ (7 đêm × 5 giờ) vẫn chưa trở về mức nền. SL Kết quả gợi ý hai đêm ngủ bù có thể chưa đủ bù một tuần thiếu ngủ nặng, nhưng điều kiện phòng thí nghiệm khác ngủ bù cuối tuần thực tế. | Chưa hồi phục sau 2 đêm 9 giờ | Người | Thực nghiệm nhóm song song, phân nhóm ngẫu nhiên (không mù), tại trường nội trú: 3 đêm nền 9 giờ trên giường, 7 đêm 5 giờ (nhóm hạn chế ngủ) hoặc 9 giờ (nhóm chứng), rồi 3 đêm hồi phục 9 giờ; giấc ngủ đo bằng actigraphy và PSG; bộ bài kiểm tra nhận thức 3 lần/ngày. Cỡ mẫu: n = 56 vị thành niên khoẻ (25 nam), 15–19 tuổi, học sinh một trường hàng đầu ở Singapore, không phải người ngủ ngắn thường xuyên | Lo và cs., 2016 |
| b3-067 | Thử nghiệm ngẫu nhiên bắt chéo ở 50 vị thành niên 14–17 tuổi: so với giai đoạn ngủ dài, 5 đêm chỉ 6,5 giờ trên giường đi kèm tự đánh giá căng thẳng/lo âu, giận dữ, bối rối, mệt mỏi cao hơn và cha mẹ ghi nhận cáu kỉnh, điều hoà cảm xúc kém hơn; nhưng khác biệt điểm trầm cảm không có ý nghĩa thống kê. | Chênh khoảng 2,5 giờ ngủ/đêm giữa hai giai đoạn; khác biệt khí sắc p = 0,001–0,01; trầm cảm p > 0,05 | Người | RCT bắt chéo, cân bằng thứ tự (counterbalanced), tại nhà, 3 tuần: 1 tuần nền, 5 đêm hạn chế ngủ (6,5 giờ trên giường) và giai đoạn kéo dài thời gian trên giường; giấc ngủ đo bằng actigraphy và tự báo cáo; kết cục bằng bảng hỏi trẻ và cha mẹ cuối mỗi giai đoạn; kiểm hiệu ứng kỳ vọng qua thang tăng động. Cỡ mẫu: n = 50 vị thành niên khoẻ 14–17 tuổi, Cincinnati, Hoa Kỳ | Baum và cs., 2014 (tóm tắt) |
| b3-068 | Theo Khảo sát Quốc gia về Sức khoẻ và Dinh dưỡng Hoa Kỳ (National Health and Nutrition Examination Survey, NHANES) 1999–2010, khoảng 73% trẻ em và vị thành niên Hoa Kỳ dùng caffeine trong một ngày bất kỳ; lượng trung bình không đổi đáng kể, nhưng nguồn caffeine dịch chuyển từ nước ngọt có ga sang cà phê và nước tăng lực. | ≈ 73% dùng caffeine mỗi ngày; nước ngọt có ga 62% → 38% lượng caffeine; cà phê 10% → gần 24%; nước tăng lực 0 → gần 6% (2009–2010) | Người | Phân tích xu hướng dữ liệu hồi tưởng khẩu phần 24 giờ của Khảo sát Quốc gia về Sức khoẻ và Dinh dưỡng Hoa Kỳ (NHANES) 1999–2010 (chuỗi cắt ngang đại diện quốc gia). Cỡ mẫu: Trẻ em và vị thành niên Hoa Kỳ trong NHANES 1999–2010 (cỡ mẫu và khoảng tuổi chính xác không có trong tóm tắt; có phân nhóm 2–11 tuổi) | Branum và cs., 2014 (tóm tắt) |
| b3-070 | Phân tích gộp 63 nghiên cứu ở vị thành niên Trung Quốc 13–19 tuổi ước tính khoảng một phần tư có rối loạn giấc ngủ (chủ yếu theo PSQI); học sinh THPT cao hơn THCS; khác biệt theo giới không có ý nghĩa thống kê. | 26% (KTC 95% 24–27%; I² = 99,14%); sau hiệu chỉnh thiên lệch xuất bản (trim-and-fill) 23,6%; THPT 28% (24–31%) so với THCS 20% (15–24%); khoảng giữa các nghiên cứu 8%–54,7% | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp tỉ lệ 63 nghiên cứu cắt ngang; 53 nghiên cứu dùng chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI), phần lớn ngưỡng ≥ 8; số còn lại dùng ISI, ICSD-2; I² = 99,14%; chất lượng theo AHRQ (trung vị 5/11). Cỡ mẫu: 63 nghiên cứu, n = 430.422 vị thành niên 13–19 tuổi, Trung Quốc (gồm Đài Loan) | Liang và cs., 2021 |
| b3-074 | Ở 340 vận động viên vị thành niên thuộc trường thể thao tinh hoa Thuỵ Điển, 19% không ngủ đủ lượng khuyến nghị vào ngày thường; ngủ hơn 8 giờ ngày thường đi kèm tỉ số chênh chấn thương mới thấp hơn 61%. | 19% ngủ không đủ; OR 0,39 (KTC 95% 0,16–0,99) cho ngủ > 8 giờ | Người | Thuần tập tiến cứu ngắn: bảng hỏi gửi qua email 2 lần trong một năm học; giấc ngủ và chấn thương tự báo cáo; hồi quy logistic. Cỡ mẫu: n = 340 vận động viên vị thành niên ưu tú, Thuỵ Điển | von Rosen và cs., 2017 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Giờ vào học sớm, học thêm và buồn ngủ khi lái xe#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-006 | Khi học khu Seattle (Hoa Kỳ) lùi giờ vào học trung học từ 07:50 sang 08:45, học sinh lớp 10 của hai trường có trung vị thời lượng ngủ ngày đi học dài thêm 34 phút, đo bằng actigraphy. | +34 phút/ngày đi học; trung vị từ 6 giờ 50 phút lên 7 giờ 24 phút | Người | Nghiên cứu trước–sau tự nhiên (natural experiment) với hai nhóm học sinh độc lập (2016 và 2017) cùng lớp sinh học; actigraphy cổ tay (Actiwatch Spectrum Plus) 2 tuần, epoch 15 giây; kèm nhật ký ngủ. Cỡ mẫu: n = 94 (2016) và n = 84 (2017) học sinh lớp 10 có dữ liệu ngày đi học, 2 trường công lập Seattle | Dunster và cs., 2018 |
| b3-007 | Trong cùng nghiên cứu Seattle, sau khi lùi giờ vào học, buồn ngủ ban ngày (Epworth) giảm nhẹ và trung vị điểm học tập môn sinh học cao hơn 4,5 điểm phần trăm; tác giả lưu ý khó quy kết nhân quả cho điểm số. | Epworth trung vị 7,0 → 6,0 (p = 0,037); trung vị điểm 77,5% → 82% (+4,5 điểm phần trăm) | Người | Trước–sau, hai nhóm độc lập; buồn ngủ đo bằng thang Epworth tự báo cáo; điểm môn học từ hồ sơ. Cỡ mẫu: n = 94 (2016), n = 84 (2017) | Dunster và cs., 2018 |
| b3-010 | Năm học 2011–12, trong khoảng 39.700 trường trung học công lập Hoa Kỳ, giờ vào học trung bình là 08:03 và chỉ 17,7% trường bắt đầu từ 08:30 trở đi — mốc mà AAP khuyến nghị. | Trung bình 8:03; 17,7% trường ≥ 8:30; theo bang 0% (Hawaii, Mississippi, Wyoming) – 78,5% (North Dakota) | Người | Phân tích dữ liệu Khảo sát Trường học và Nhân sự (Schools and Staffing Survey, SASS) 2011–12 của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ; giờ vào học do trường báo cáo. Cỡ mẫu: Ước tính 39.700 trường THCS, THPT và trường liên cấp công lập | Wheaton và cs., 2015 |
| b3-011 | Tuyên bố chính sách năm 2014 của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) khuyến nghị trường trung học cơ sở và trung học phổ thông đặt giờ vào học không sớm hơn 08:30. | Không sớm hơn 8:30 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố chính sách (policy statement) của AAP, được CDC thuật lại nguyên văn. Cỡ mẫu: Không áp dụng | Wheaton và cs., 2015 |
| b3-022 | Khi một trường tư nội trú Hoa Kỳ lùi giờ vào học 30 phút (08:00 → 08:30), thời lượng ngủ đêm ngày đi học tự báo cáo tăng trung bình 45 phút và tỉ lệ học sinh ngủ ít nhất 8 giờ tăng từ 16,4% lên 54,7%. | +45 phút (≈ 7 giờ 7 phút → 7 giờ 52 phút); ≥ 8 giờ: 16,4% → 54,7% | Người | Khảo sát trước–sau không nhóm chứng; Sleep Habits Survey trực tuyến hồi cứu, tự báo cáo (8 trang); lùi giờ vào học 8:00 → 8:30 trong 2 tháng (6/1–6/3/2009); câu trả lời không ghép cặp từng cá nhân. Cỡ mẫu: n = 201 học sinh lớp 9–12 (225 làm khảo sát lần 1), một trường tư nội trú/bán trú ở Hoa Kỳ (81,5% nội trú) | Owens và cs., 2010 |
| b3-023 | Trong cùng nghiên cứu trước–sau, tỉ lệ học sinh cảm thấy ít nhất "hơi buồn hoặc chán nản" giảm từ 65,8% xuống 45,1%, và tỉ lệ buồn ngủ ban ngày giảm từ 49,1% xuống 20,0%. | Tâm trạng chán nản 65,8% → 45,1%; buồn ngủ ban ngày 49,1% → 20,0%; ngủ gật trong tiết sáng 38,9% → 18,0%; khám y tế vì mệt 15,3% → 4,6%; đi muộn/vắng tiết đầu (giáo viên báo cáo) −45,0% | Người | Khảo sát trước–sau không nhóm chứng; Sleep Habits Survey trực tuyến hồi cứu, tự báo cáo (8 trang); lùi giờ vào học 8:00 → 8:30 trong 2 tháng (6/1–6/3/2009); câu trả lời không ghép cặp từng cá nhân. Cỡ mẫu: n = 201 học sinh lớp 9–12 (225 làm khảo sát lần 1), một trường tư nội trú/bán trú ở Hoa Kỳ (81,5% nội trú) | Owens và cs., 2010 |
| b3-027 | Sau khi một hạt ở Kentucky (Hoa Kỳ) lùi giờ vào học THPT 1 giờ (07:30 → 08:30), tỉ lệ va chạm xe của lái xe 17–18 tuổi trong hạt giảm 16,5%, trong khi phần còn lại của bang tăng 7,8% cùng kỳ. | −16,5% (hạt nghiên cứu) so với +7,8% (phần còn lại của bang); p < 0,01 | Người | Nghiên cứu trước–sau có vùng so sánh (phần còn lại của bang Kentucky); khảo sát học sinh tự báo cáo tháng 4/1998 và 4/1999 (không ghép cặp cá nhân); số vụ va chạm của lái xe 17–18 tuổi trên 1.000 người có bằng, 1996–1997 so với 1999–2000; không hiệu chỉnh số dặm lái. Cỡ mẫu: Khảo sát: 9.966 (năm 1) và 10.656 (năm 2) học sinh THCS–THPT; va chạm: toàn bộ lái xe 17–18 tuổi có bằng trong hạt và bang | Danner và Phillips, 2008 |
| b3-028 | Trong cùng nghiên cứu Kentucky, sau khi lùi giờ vào học 1 giờ, học sinh tự báo cáo ngủ thêm từ 12 phút (lớp 9) đến 30 phút (lớp 12) mỗi đêm, và ngủ bù cuối tuần giảm từ 1,9 giờ xuống 1,1 giờ. | +12 đến +30 phút/đêm; ngủ bù cuối tuần 1,9 → 1,1 giờ; tỉ lệ ngủ ≥ 8 giờ đêm ngày thường 50,0% ở năm 2 | Người | Nghiên cứu trước–sau có vùng so sánh (phần còn lại của bang Kentucky); khảo sát học sinh tự báo cáo tháng 4/1998 và 4/1999 (không ghép cặp cá nhân); số vụ va chạm của lái xe 17–18 tuổi trên 1.000 người có bằng, 1996–1997 so với 1999–2000; không hiệu chỉnh số dặm lái. Cỡ mẫu: 9.966 và 10.656 học sinh (66,9% và 72,8% số đăng ký) | Danner và Phillips, 2008 |
| b3-029 | Báo cáo của Cơ quan Quản lý An toàn Giao thông Đường cao tốc Quốc gia Hoa Kỳ (National Highway Traffic Safety Administration, NHTSA) 2015: khi hạt Forsyth (North Carolina) lùi giờ vào học THPT từ 07:30 sang 08:45 (từ 8/2003), tỉ lệ va chạm cả ngày của lái xe 16–17 tuổi vào ngày đi học giảm 14%, nhưng va chạm buổi chiều và tối lại nhiều hơn. | −14% va chạm cả ngày (Forsyth); không giảm có ý nghĩa ở các hạt so sánh | Người | Phân tích chuỗi thời gian can thiệp (intervention time-series) trên số liệu va chạm ngày đi học của lái xe 16–17 tuổi; 4 hạt tương đồng ở North Carolina (1 hạt đổi giờ) và phân tích lại Fayette (Kentucky) với Jefferson làm hạt so sánh. Cỡ mẫu: Toàn bộ va chạm ngày đi học của lái xe 16–17 tuổi ở 4 hạt North Carolina và 2 hạt Kentucky | NHTSA, 2015 |
| b3-030 | Cũng trong báo cáo NHTSA 2015, phân tích lại số liệu va chạm của hạt Fayette (Kentucky) — nơi Danner và Phillips (2008) báo giảm 16,5% — không thấy thay đổi tổng thể về tỉ lệ va chạm. | Không có thay đổi tổng thể (so với −16,5% trong phân tích gốc) | Người | Phân tích chuỗi thời gian can thiệp (intervention time-series) trên số liệu va chạm ngày đi học của lái xe 16–17 tuổi; 4 hạt tương đồng ở North Carolina (1 hạt đổi giờ) và phân tích lại Fayette (Kentucky) với Jefferson làm hạt so sánh; Jefferson County làm nhóm so sánh thay cho "phần còn lại của bang". Cỡ mẫu: Va chạm của lái xe vị thành niên ở Fayette và Jefferson, Kentucky | NHTSA, 2015 |
| b3-031 | Trong nghiên cứu 8 trường THPT công lập ở 3 bang Hoa Kỳ (Minnesota 5 trường, Colorado 2, Wyoming 1), tỉ lệ học sinh ngủ ít nhất 8 giờ đêm ngày đi học là 33,6% ở trường vào học 07:30 và 66,2% ở trường vào học 08:55 (so sánh giữa các trường). | 33,6% (giờ vào học sớm nhất, ~7:30); 57,0–60,0% (8:35); 66,2% (8:55) | Người | Nghiên cứu nhiều trường trong 3 năm (Minnesota, Colorado, Wyoming); khảo sát học sinh tự báo cáo giấc ngủ, trầm cảm, caffeine, dùng chất; dữ liệu điểm, chuyên cần, đi muộn từ trường; dữ liệu va chạm xe từ địa phương. Bản báo cáo kỹ thuật, không bình duyệt; bản gốc lưu tại kho Đại học Minnesota (hdl 11299/162769). Cỡ mẫu: Hơn 9.000 học sinh, 8 trường THPT công lập, 3 bang Hoa Kỳ | Wahlstrom và cs., 2014 |
| b3-032 | Ở Jackson Hole (hạt Teton, Wyoming), số vụ va chạm xe có lái xe 16–18 tuổi giảm 70% (từ 23 xuống 7 vụ) trong năm sau khi trường THPT lùi giờ vào học từ 07:35 sang 08:55. | 23 → 7 vụ (−70%) | Người | Nghiên cứu nhiều trường trong 3 năm (Minnesota, Colorado, Wyoming); khảo sát học sinh tự báo cáo giấc ngủ, trầm cảm, caffeine, dùng chất; dữ liệu điểm, chuyên cần, đi muộn từ trường; dữ liệu va chạm xe từ địa phương. Bản báo cáo kỹ thuật, không bình duyệt; bản gốc lưu tại kho Đại học Minnesota (hdl 11299/162769); so sánh số vụ trước–sau 1 năm, không nhóm chứng. Cỡ mẫu: Lái xe 16–18 tuổi tại hạt Teton (Wyoming) | Wahlstrom và cs., 2014 |
| b3-049 | Ở 339 học sinh cuối cấp có bằng lái tại Bologna (Ý), 24% từng gây/gặp ít nhất một vụ va chạm; buồn ngủ khi lái đi kèm tỉ số chênh va chạm khoảng 2,1 và ngủ kém khoảng 1,9 trong mô hình đa biến. | Từng va chạm 24%; buồn ngủ khi lái OR 2,1 (KTC 95% 1,2–3,6); ngủ kém OR 1,9 (1,0–3,6); nam OR 3,3 (1,8–6,1); hút thuốc OR 3,2 (1,8–5,5) | Người | Cắt ngang, bảng hỏi tự điền 71 mục dựa trên School Sleep Habits Survey; tai nạn tự báo cáo; hồi quy logistic đa biến (giới, buồn ngủ khi lái, ngủ kém, hút thuốc). Cỡ mẫu: n = 339 học sinh có bằng lái, 18–21 tuổi (trung bình 18,4), 58% nam, 7 trường THPT ở Bologna, Ý | Pizza và cs., 2010 |
| b3-051 | Trong mẫu va chạm có xe bị kéo được cảnh sát ghi nhận tại Hoa Kỳ 1999–2008, lái xe dưới 25 tuổi có khả năng đang buồn ngủ khi xảy ra va chạm cao hơn 78% so với lái xe từ 40 tuổi trở lên. | 5,2% (dưới 25 tuổi) so với 3,0% (≥ 40 tuổi), p = 0,005; tính chung 7,0% (KTC 95% 4,6–9,3%) va chạm và 16,5% (12,5–20,6%) va chạm chết người có lái xe buồn ngủ | Người | Phân tích dữ liệu NASS-CDS (NHTSA) 1999–2008 — mẫu xác suất va chạm có xe con bị kéo do cảnh sát ghi nhận; buồn ngủ xác định từ hồ sơ điều tra va chạm; kèm khảo sát điện thoại. Cỡ mẫu: 47.597 va chạm có xe con bị kéo trong mẫu NASS CDS, Hoa Kỳ 1999–2008 | Tefft, 2010 |
| b3-054 | Báo cáo kỹ thuật AAP 2014 dẫn một khảo sát học sinh THPT có bằng lái: 40% báo có buồn ngủ khi lái và 11% từng gặp va chạm mà buồn ngủ là nguyên nhân chính; trong phân tích va chạm do ngủ gật ở North Carolina 1990–1992 (Pack 1995), không liên quan rượu, 55% xảy ra ở người từ 25 tuổi trở xuống. | 40% buồn ngủ khi lái; 11% va chạm do buồn ngủ; 55% vụ ngủ gật ở người ≤ 25 tuổi | Tổng quan | Báo cáo kỹ thuật (technical report) của AAP, tổng quan tường thuật tài liệu; số liệu dẫn lại. Cỡ mẫu: Không có trong phần đã đọc | Owens, 2014 |
| b3-058 | Phân tích gộp 2024: giờ vào học muộn hơn đi kèm thời lượng ngủ ngày đi học dài hơn và lệch giờ xã hội thấp hơn, nhưng không thay đổi thời lượng ngủ ngày nghỉ; giờ dậy ngày học dịch nhiều hơn giờ đi ngủ. | Thời lượng ngủ ngày học SMD 0,963 (k = 37); ngày nghỉ SMD −0,039 (KTC 95% −0,101 đến 0,021; không có ý nghĩa thống kê); giờ đi ngủ SMD 0,405 (0,253–0,558); giờ dậy SMD 1,704 (1,372–2,035); lệch giờ xã hội SMD −0,603 (−0,782 đến −0,431) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp (bản thảo trước bình duyệt lưu ở kho Đại học Torcuato Di Tella): 35 nghiên cứu, 30 vào phân tích định lượng; 24 cắt ngang, còn lại dọc; chênh giờ vào học 15 phút – 11,5 giờ (gồm so sánh ca sáng với ca chiều); hiệu ứng chuẩn hoá Hedges g; chất lượng theo thang Kmet, không chấm GRADE. Cỡ mẫu: 35 nghiên cứu (tổng số người tham gia trong bảng phụ lục, chưa đọc) | Rodríguez Ferrante và cs., 2024 |
| b3-059 | Trong cùng phân tích gộp, chênh lệch về thời lượng ngủ ngày học lớn hơn nhiều khi so sánh học ca sáng với ca chiều (SMD 1,129) so với khi so hai giờ vào học đều buổi sáng (SMD 0,368). | Sáng–chiều SMD 1,129 (k = 12); sáng–sáng SMD 0,368 (k = 21) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp (bản thảo trước bình duyệt lưu ở kho Đại học Torcuato Di Tella): 35 nghiên cứu, 30 vào phân tích định lượng; 24 cắt ngang, còn lại dọc; chênh giờ vào học 15 phút – 11,5 giờ (gồm so sánh ca sáng với ca chiều); hiệu ứng chuẩn hoá Hedges g; chất lượng theo thang Kmet, không chấm GRADE. Cỡ mẫu: 35 nghiên cứu (tổng số người tham gia trong bảng phụ lục, chưa đọc) | Rodríguez Ferrante và cs., 2024 |
| b3-060 | Phân tích gộp 2024 thấy giờ vào học tính theo giờ mặt trời (so với bình minh, vị trí trong múi giờ) giải thích thêm một phần tác động lên thời lượng ngủ và giờ dậy, nhưng không dự báo kiểu thời gian sinh học hay lệch giờ xã hội. | Hệ số giờ vào học tính theo giờ mặt trời trung bình với thời lượng ngủ ngày học 0,189 (p = 0,003); với giờ dậy theo bình minh −0,374 (p = 0,0095) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp (bản thảo trước bình duyệt lưu ở kho Đại học Torcuato Di Tella): 35 nghiên cứu, 30 vào phân tích định lượng; 24 cắt ngang, còn lại dọc; chênh giờ vào học 15 phút – 11,5 giờ (gồm so sánh ca sáng với ca chiều); hiệu ứng chuẩn hoá Hedges g; chất lượng theo thang Kmet, không chấm GRADE; hồi quy meta. Cỡ mẫu: 35 nghiên cứu (tổng số người tham gia trong bảng phụ lục, chưa đọc) | Rodríguez Ferrante và cs., 2024 |
| b3-071 | Tuyên bố lập trường năm 2017 của AASM kêu gọi các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông áp dụng giờ vào học từ 08:30 trở đi — cùng mốc với khuyến nghị AAP 2014. | ≥ 8:30 | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tuyên bố lập trường (position statement) của hội chuyên môn. Cỡ mẫu: Không áp dụng | Watson và cs., 2017 |
| b3-072 | Trong khảo sát Add Health (Hoa Kỳ, 1994–96), vị thành niên lớp 7–12 có giờ đi ngủ do cha mẹ đặt từ nửa đêm trở đi có tỉ số chênh trầm cảm cao hơn 24% và ý nghĩ tự sát cao hơn 20% so với giờ đi ngủ từ 22:00 trở về trước; khi đưa thời lượng ngủ và cảm nhận ngủ đủ vào mô hình, các liên quan này yếu đi và mất ý nghĩa. | Trầm cảm OR 1,24 (KTC 95% 1,04–1,49); ý nghĩ tự sát OR 1,20 (1,01–1,41); sau thêm biến trung gian: 1,07 (0,88–1,30) và 1,09 (0,92–1,29) | Người | Phân tích cắt ngang đa biến dữ liệu Add Health (mẫu xác suất dựa trên trường học, đại diện quốc gia); giờ đi ngủ do cha mẹ đặt và thời lượng ngủ tự báo cáo; hồi quy logistic có hiệu chỉnh hiệp biến; phân tích trung gian. Cỡ mẫu: n = 15.659 vị thành niên lớp 7–12, Hoa Kỳ | Gangwisch và cs., 2010 (tóm tắt) |
| b3-073 | Phân tích gộp 7 RCT giáo dục giấc ngủ tại trường cho học sinh 10–19 tuổi: so với giờ học thường lệ, chương trình (phổ biến nhất là 4 buổi 50 phút/tuần) đi kèm tổng thời gian ngủ dài hơn ngay sau can thiệp, nhưng cải thiện không duy trì ở lần theo dõi sau. | 7 RCT; 1.876 học sinh can thiệp so với 2.483 học sinh nhóm chứng; hiệu quả mất đi ở lần theo dõi (độ lớn hiệu ứng chưa đọc được) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp RCT (tìm đến 5/2015); nhóm chứng: lớp học thường lệ; kết cục: tổng thời gian ngủ ngày thường và cuối tuần (chủ yếu tự báo cáo/nhật ký); nguy cơ thiên lệch theo Cochrane — chất lượng trung bình. Cỡ mẫu: 7 nghiên cứu, n = 4.359 học sinh 10–19 tuổi | Chung và cs., 2017 (tóm tắt) |
Dùng ở chương: Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b3-005 | Tuyên bố AASM 2016 ghi nhận ngủ không đủ ở vị thành niên đi kèm nguy cơ cao hơn về tự gây hại, ý nghĩ tự sát và cố gắng tự sát. | Khẳng định định tính (không kèm con số) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Kết luận đồng thuận chuyên gia dựa trên rà soát 864 bài báo (chủ yếu quan sát). Cỡ mẫu: 864 bài báo | Paruthi và cs., 2016b |
| b3-019 | Trong YRBS 2007–2015, học sinh THPT ngủ dưới 6 giờ có tỉ số chênh hiệu chỉnh khoảng 3,1–3,4 cho việc nghĩ nghiêm túc đến tự sát, lập kế hoạch và cố gắng tự sát so với học sinh ngủ từ 8 giờ trở lên (liên quan cắt ngang). | aOR nghĩ nghiêm túc đến tự sát 3,12 (KTC 95% 2,85–3,41); lập kế hoạch 3,17 (2,87–3,51); cố gắng tự sát 3,39 (3,00–3,82); cố gắng tự sát cần chăm sóc y tế 4,24 (3,53–5,10) | Người | Phân tích cắt ngang gộp YRBS 2007–2015 (Hoa Kỳ); thời lượng ngủ đêm ngày đi học tự báo cáo, 4 mức (≥ 8, 7, 6, < 6 giờ); hồi quy logistic có trọng số theo thiết kế khảo sát, hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc/dân tộc, năm khảo sát. Cỡ mẫu: n = 67.615 phiếu khảo sát học sinh THPT, Hoa Kỳ | Weaver và cs., 2018 |
| b3-020 | Trong cùng dữ liệu YRBS, học sinh ngủ dưới 6 giờ có tỉ số chênh hiệu chỉnh 2,98 cho việc hiếm khi/không bao giờ thắt dây an toàn và 1,98 cho lái xe sau khi uống rượu (ở người có lái xe) so với nhóm ngủ từ 8 giờ trở lên. | aOR không thắt dây an toàn 2,98 (KTC 95% 2,65–3,34); lái xe sau uống rượu 1,98 (1,62–2,42); nhắn tin khi lái 1,29 (1,12–1,50) | Người | Phân tích cắt ngang gộp YRBS 2007–2015 (Hoa Kỳ); thời lượng ngủ đêm ngày đi học tự báo cáo, 4 mức (≥ 8, 7, 6, < 6 giờ); hồi quy logistic có trọng số theo thiết kế khảo sát, hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc/dân tộc, năm khảo sát. Cỡ mẫu: n = 67.615 phiếu khảo sát học sinh THPT, Hoa Kỳ | Weaver và cs., 2018 |
| b3-021 | Học sinh THPT ngủ dưới 6 giờ có tỉ số chênh hiệu chỉnh khoảng 1,9–2,0 cho sử dụng rượu, cần sa và thuốc lá so với nhóm ngủ từ 8 giờ trở lên (YRBS 2007–2015). | aOR rượu 2,01 (1,84–2,19); cần sa 1,94 (1,78–2,11); thuốc lá 1,94 (1,80–2,10); chất khác 2,34 (2,16–2,52) | Người | Phân tích cắt ngang gộp YRBS 2007–2015 (Hoa Kỳ); thời lượng ngủ đêm ngày đi học tự báo cáo, 4 mức (≥ 8, 7, 6, < 6 giờ); hồi quy logistic có trọng số theo thiết kế khảo sát, hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc/dân tộc, năm khảo sát. Cỡ mẫu: n = 67.615 phiếu khảo sát học sinh THPT, Hoa Kỳ | Weaver và cs., 2018 |
| b3-033 | Trong khảo sát hơn 9.000 học sinh THPT Hoa Kỳ, học sinh ngủ dưới 8 giờ báo cáo triệu chứng trầm cảm cao hơn có ý nghĩa, dùng caffeine nhiều hơn và có nguy cơ dùng chất cao hơn so với học sinh ngủ đủ 8 giờ. | Khác biệt điểm trầm cảm: d = 0,44 (nhỏ–trung bình) | Người | Nghiên cứu nhiều trường trong 3 năm (Minnesota, Colorado, Wyoming); khảo sát học sinh tự báo cáo giấc ngủ, trầm cảm, caffeine, dùng chất; dữ liệu điểm, chuyên cần, đi muộn từ trường; dữ liệu va chạm xe từ địa phương. Bản báo cáo kỹ thuật, không bình duyệt; bản gốc lưu tại kho Đại học Minnesota (hdl 11299/162769); so sánh cắt ngang nhóm ngủ < 8 giờ với ≥ 8 giờ. Cỡ mẫu: Hơn 9.000 học sinh, 8 trường THPT công lập, 3 bang Hoa Kỳ | Wahlstrom và cs., 2014 |
| b3-037 | Phân tích gộp 9 nghiên cứu cắt ngang ở vị thành niên: có rối loạn giấc ngủ đi kèm tỉ số chênh gộp 2,35 cho ý nghĩ tự sát, 1,58 cho kế hoạch và 1,92 cho cố gắng tự sát. | OR gộp cắt ngang: ý nghĩ 2,35; kế hoạch 1,58; cố gắng 1,92 (tóm tắt không nêu KTC) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp: 9 nghiên cứu cắt ngang (n = 37.536), 4 thuần tập tiến cứu (n = 9.295), 1 báo cáo hồi cứu (n = 80); rối loạn giấc ngủ chủ yếu tự báo cáo. Cỡ mẫu: 9 nghiên cứu cắt ngang, n = 37.536 vị thành niên | Liu và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b3-038 | Trong 4 thuần tập tiến cứu, rối loạn giấc ngủ dự báo ý nghĩ tự sát về sau (OR 1,79) nhưng mối liên quan với cố gắng tự sát về sau không có ý nghĩa thống kê; trầm cảm không làm thay đổi các mối liên quan này. | Ý nghĩ tự sát OR 1,79 (KTC 95% 1,36–2,36); cố gắng tự sát OR 1,98 (0,62–6,29, không có ý nghĩa) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp: 9 nghiên cứu cắt ngang (n = 37.536), 4 thuần tập tiến cứu (n = 9.295), 1 báo cáo hồi cứu (n = 80); rối loạn giấc ngủ chủ yếu tự báo cáo. Cỡ mẫu: 4 thuần tập tiến cứu, n = 9.295 | Liu và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b3-039 | Phân tích gộp 73 nghiên cứu ở vị thành niên 10–19 tuổi: ngủ ngắn hơn đi kèm tỉ số chênh gộp 1,55 (KTC 95% 1,44–1,67) cho rối loạn khí sắc (giảm cảm xúc tích cực, tăng cảm xúc tiêu cực, khí sắc trầm, lo âu, giận dữ); dị biệt rất cao. | OR gộp 1,55 (KTC 95% 1,44–1,67; k = 73; I² = 97,9%); khí sắc trầm OR 1,62 (1,38–1,85; k = 43); cảm xúc tiêu cực OR 1,60 (1,49–1,71); giảm cảm xúc tích cực OR 2,02 (1,62–2,42) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 74 nghiên cứu (73 gộp): 42 cắt ngang, 19 dọc, 13 thực nghiệm; mẫu không lâm sàng 10–19 tuổi; thời lượng ngủ đo bằng bảng hỏi (~44–45 nghiên cứu), nhật ký (9), actigraphy (14–16), PSG (5); I² = 97,9%. Cỡ mẫu: 74 nghiên cứu, n = 361.505 vị thành niên 10–19 tuổi | Short và cs., 2020 |
| b3-040 | Trong cùng phân tích gộp, liên quan giữa ngủ ngắn và khí sắc xuất hiện với mọi cách đo giấc ngủ, kể cả đo khách quan: PSG (OR 1,70), actigraphy (1,45), bảng hỏi (1,55), nhật ký (1,30). | PSG OR 1,70 (KTC 95% 1,20–2,20); actigraphy 1,45; bảng hỏi 1,55; nhật ký 1,30; nghiên cứu dọc gộp OR 1,71 (1,31–2,10; k = 19) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 74 nghiên cứu (73 gộp): 42 cắt ngang, 19 dọc, 13 thực nghiệm; mẫu không lâm sàng 10–19 tuổi; thời lượng ngủ đo bằng bảng hỏi (~44–45 nghiên cứu), nhật ký (9), actigraphy (14–16), PSG (5); I² = 97,9%. Cỡ mẫu: 74 nghiên cứu, n = 361.505 vị thành niên 10–19 tuổi | Short và cs., 2020 |
| b3-041 | Các nghiên cứu dọc riêng lẻ trong tổng quan cho kết quả trái ngược: một nghiên cứu thấy thời lượng ngủ dự báo khí sắc trầm 1 năm sau khi đã kiểm soát khí sắc ban đầu, nghiên cứu khác (Lovato 2017) không thấy dự báo; thực nghiệm cũng không đồng nhất. | Nowakowski 2016: có dự báo; Lovato 2017, Doane 2015, Fan 2017: không dự báo có ý nghĩa; Baum 2014 (hạn chế ngủ): không đổi điểm trầm cảm | Tổng quan | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 74 nghiên cứu (73 gộp): 42 cắt ngang, 19 dọc, 13 thực nghiệm; mẫu không lâm sàng 10–19 tuổi; thời lượng ngủ đo bằng bảng hỏi (~44–45 nghiên cứu), nhật ký (9), actigraphy (14–16), PSG (5); I² = 97,9%. Cỡ mẫu: 74 nghiên cứu, n = 361.505 vị thành niên 10–19 tuổi | Short và cs., 2020 |
Viết tắt trong trang
- AAP
- Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
- AASM
- Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
- AHRQ
- Cơ quan Nghiên cứu và Chất lượng Y tế Mỹ (Agency for Healthcare Research and Quality)
- aOR
- tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
- CDC
- Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (Centers for Disease Control and Prevention)
- DLMO
- thời điểm bắt đầu tiết melatonin trong ánh sáng mờ (dim light melatonin onset)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- ISI
- chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- MCTQ
- bảng hỏi kiểu thời gian Munich (Munich ChronoType Questionnaire)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- PVT
- bài kiểm tra cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- SD
- độ lệch chuẩn (standard deviation)
- SMD
- hiệu số trung bình chuẩn hoá (standardized mean difference)
- SOL
- thời gian đi vào giấc ngủ (sleep onset latency)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục C. Dữ kiện: vị thành niên (10–19 tuổi). Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/phu-luc-c-du-kien-b3/