giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục D. Dữ kiện: Việt Nam: trẻ em, học sinh và văn bản chính thức

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 32 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 41 dữ kiện của nhánh Việt Nam: trẻ em, học sinh và văn bản chính thức đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người hay trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b4-034) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương. Nhánh này chỉ thu thập nguồn Việt Nam và văn bản chính thức Việt Nam.

Dùng ở chương: Năm đầu đời: nhịp ngày–đêm, thức đêm và "ngủ xuyên đêm"#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-034Ở 198 trẻ dưới 2 tuổi đến tiêm chủng tại Bệnh viện Nhi Trung ương (1–5/2023), theo người chăm sóc trả lời Bảng hỏi ngắn về giấc ngủ nhũ nhi (Brief Infant Sleep Questionnaire, BISQ) mở rộng, tổng thời gian ngủ trung bình 13,34 giờ/24 giờ (giảm từ 15,44 giờ ở 0–2 tháng xuống 11,73 giờ ở 18–23 tháng), gồm 9,03 giờ ngủ đêm và 4,31 giờ ngủ ngày; giờ đi ngủ trung bình 21:09, giờ dậy 07:11.Tổng 13,34 ± 2,56 giờ; đêm 9,03 ± 1,54 giờ; ngày 4,31 ± 2,51 giờ; thức đêm tổng 0,51 ± 0,52 giờ; đi ngủ 21:09; dậy 7:11; 0–2 tháng 15,44 giờ; 18–23 tháng 11,73 giờNgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; BISQ mở rộng 33 mục, người chăm sóc (97% là mẹ) nhớ lại 2 tuần qua; chỉ thống kê mô tả. Cỡ mẫu: n = 198 trẻ dưới 24 tháng (tuổi trung bình 10,36 ± 7,25 tháng; 0–2 tháng 18,2%, 3–5: 18,2%, 6–11: 14,6%, 12–17: 27,8%, 18–23: 21,2%); một cơ sở: Trung tâm Tiêm chủng, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyễn Thị Ngọc Trâm và cs., 2023
b4-035Trong cùng mẫu 198 trẻ dưới 2 tuổi, 35,3% người chăm sóc đánh giá con có vấn đề giấc ngủ mức vừa và 4,5% mức nặng; 75,3% trẻ được ăn nhẹ hoặc bú trước khi ngủ, 42,9% được bế hoặc đưa nôi để vào giấc, 69,7% ngủ ở môi trường không yên tĩnh và 76,8% có giờ đi ngủ đều đặn.Vấn đề giấc ngủ vừa 35,3%, nặng 4,5%; ăn nhẹ/bú trước ngủ 75,3%; vào giấc: có người lớn bên cạnh 54,0%, được bế hoặc đưa nôi 42,9%, tự ngủ trong phòng riêng 3,0%; môi trường không yên tĩnh 69,7%; tắt hết đèn 54,5%, đèn ngủ 41,4%; giờ ngủ đều 76,8%; ngủ giường cha mẹ 89,4%; tư thế nằm sấp 13,6%, ngửa 49,0%, nghiêng 37,4%NgườiCắt ngang mô tả; BISQ mở rộng do người chăm sóc trả lời; không phân tích yếu tố liên quan. Cỡ mẫu: n = 198 trẻ dưới 24 tháng; một cơ sở: Trung tâm Tiêm chủng, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyễn Thị Ngọc Trâm và cs., 2023

Dùng ở chương: Ngủ trưa ở trẻ mẫu giáo và ở trường mầm non Việt Nam#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-003Chương trình giáo dục mầm non (Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BGDĐT ngày 13/04/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định trẻ mẫu giáo (3–6 tuổi) được tổ chức ngủ một giấc buổi trưa khoảng 150 phút; bảng chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo dành 140–150 phút cho "Ngủ", là khoảng thời gian dài nhất trong ngày ở trường.1 giấc trưa, khoảng 150 phút; bảng chế độ sinh hoạt: 140–150 phút (so với Học 30–40 phút, Chơi ngoài trời 30–40 phút, Ăn bữa chính 60–70 phút)Hướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản quy phạm (văn bản hợp nhất các thông tư về Chương trình giáo dục mầm non: Thông tư 17/2009, 28/2016, 51/2020); phần Chương trình giáo dục mẫu giáo, mục chế độ sinh hoạt và tổ chức ngủ. Cỡ mẫu: Áp dụng toàn quốc cho trẻ mẫu giáo 3–6 tuổi ở cơ sở giáo dục mầm non; chương trình thiết kế 35 tuần, mỗi tuần 5 ngàyBộ Giáo dục và Đào tạo, 2021
b4-004Trong Chương trình giáo dục mầm non phần mẫu giáo, giấc ngủ chủ yếu xuất hiện như một hoạt động sinh hoạt được tổ chức (một giấc trưa khoảng 150 phút; "Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân"; khu vực bố trí chỗ ngủ trong lớp) và trong vài mục kỹ năng, hành vi: trẻ 3–4 tuổi "Thể hiện bằng lời nói về nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh", trẻ 4–5 tuổi "giờ ngủ không làm ồn", trẻ 5–6 tuổi vệ sinh răng miệng "trước khi đi ngủ, sáng ngủ dậy". Chương trình không có mục giáo dục riêng về nhu cầu hay thói quen ngủ của trẻ.Ít nhất 5 chỗ nhắc tới ngủ trong phần mẫu giáo: tổ chức ngủ trưa; hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh; chỗ ngủ trong lớp; 3 mục nội dung/kết quả mong đợi (3–4, 4–5, 5–6 tuổi)Hướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản quy phạm (văn bản hợp nhất); đọc toàn bộ trang caselaw.vn, các phần nội dung, kết quả mong đợi, hoạt động giáo dục và tổ chức môi trường của chương trình mẫu giáo. Cỡ mẫu: Toàn quốc, trẻ 3–6 tuổiBộ Giáo dục và Đào tạo, 2021
b4-020Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3907:2011 "Trường mầm non – Yêu cầu thiết kế" quy định phòng ngủ có diện tích 1,20–1,50 m²/trẻ, không nhỏ hơn 18 m²/phòng với nhóm trẻ và 30 m²/phòng với lớp mẫu giáo; riêng lớp mẫu giáo được gộp phòng sinh hoạt chung với phòng ngủ nếu đạt tối thiểu 1,50 m²/trẻ. Phòng ngủ phải "yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông" nhưng tiêu chuẩn không nêu mức ồn (dB) hay nhiệt độ cụ thể.1,20–1,50 m²/trẻ; ≥ 18 m²/phòng (nhà trẻ), ≥ 30 m²/phòng (mẫu giáo); gộp phòng: ≥ 1,50 m²/trẻ, phòng ≥ 80% tổng diện tích hai phòng; phòng xếp đệm, chiếu 10–12 m²; cửa sổ/sàn phòng ngủ 1/6Hướng dẫn, tiêu chuẩnTiêu chuẩn quốc gia về thiết kế xây dựng; mục 5.2.3, 5.2.6, 6.2.4 (Bảng 3). Cỡ mẫu: Áp dụng cho thiết kế trường mầm non xây mới hoặc cải tạo, toàn quốcBộ Khoa học và Công nghệ, 2011
b4-021Dự thảo tiêu chuẩn thay thế TCVN 3907:2011 do Bộ Xây dựng đăng lấy ý kiến năm 2025 giữ mức tối thiểu 1,20 m²/trẻ cho phòng ngủ (bỏ cận trên 1,50 m²/trẻ), giữ quy định chỉ lớp mẫu giáo được gộp phòng ngủ với phòng sinh hoạt chung, đặt hệ số chiếu sáng tự nhiên tối thiểu 1,5% cho phòng ngủ và yêu cầu phòng học, phòng ngủ có giải pháp cách âm tốt, vẫn không nêu mức dB.Tối thiểu 1,20 m²/trẻ; ≥ 18 m²/phòng (nhóm trẻ), ≥ 30 m²/phòng (mẫu giáo); gộp phòng ≥ 1,50 m²/trẻ; hệ số chiếu sáng tự nhiên trung bình tối thiểu 1,5%Hướng dẫn, tiêu chuẩnDự thảo tiêu chuẩn quốc gia (số hiệu "TCVN ****: 202*"); mục 6.2.2.2, 9.3.6 (Bảng 3), 9.3.11. Cỡ mẫu: Toàn quốc, thiết kế trường mầm nonBộ Xây dựng, 2025
b4-032Ở trẻ 4 tuổi của 4 trường mầm non TP.HCM (2 nội thành, 2 ngoại thành; 2019), theo cha mẹ báo cáo 61% đi ngủ từ 22:00 trở đi và chỉ 7% đi ngủ trước 21:00; đo bằng gia tốc kế đeo hông ở 46 trẻ có dữ liệu hợp lệ, giờ vào giấc trung bình 22:06 và tổng thời gian ngủ đêm khoảng 505 phút (khoảng 8 giờ 25 phút), hiệu quả giấc ngủ 92,5%.Đi ngủ sau 22:00: 61% (22:00–22:59: 50%; ≥ 23:00: 11%); trước 21:00: 7%; gia tốc kế: vào giấc 22:06 (SD 44 phút), thời gian vào giấc trung vị 30,75 phút, ngủ đêm 505 ± 46 phút, hiệu quả 92,5 ± 6,0%, thức sau khi ngủ (WASO) trung vị 44,25 phútNgườiNghiên cứu thí điểm cắt ngang; ActiGraph GT3X đeo hông trái tối đa 4 đêm ngày thường, thuật toán Sadeh, epoch 15 giây; bảng hỏi cha mẹ về giờ ngủ, giờ dậy, ngủ ngày, thiết bị điện tử; không có nhật ký đeo máy. Cỡ mẫu: 103–105 trẻ đồng ý, 46 trẻ (43,8%) có ≥ 1 đêm hợp lệ (59% chỉ 1 đêm); 48–60 tháng tuổi; 4 trường mầm non TP.HCM (chọn thuận tiện qua Sở GD&ĐT)Nguyễn Thị Đan Thanh và cs., 2024
b4-033Trong cùng nghiên cứu, theo cha mẹ, 63% trẻ 4 tuổi ngủ ngày 2–3 giờ và 11% từ 3 giờ trở lên, trong khi chỉ 17% được báo cáo ngủ đêm trên 9 giờ và 28% ngủ đêm dưới 8 giờ; 87% dùng thiết bị điện tử trong vòng 2 giờ trước khi ngủ hoặc có thiết bị trong phòng ngủ.Ngủ ngày: < 1 giờ 2%; 1–< 2 giờ 24%; 2–< 3 giờ 63%; ≥ 3 giờ 11%; ngủ đêm theo cha mẹ: < 7,5 giờ 13%, 7,5–8 giờ 15%, 8–8,5 giờ 17%, 8,5–9 giờ 37%, > 9 giờ 17%; thiết bị điện tử 87% (40/46)NgườiThí điểm cắt ngang; bảng hỏi cha mẹ. Cỡ mẫu: n = 46 trẻ 4 tuổi có số liệu phân tích; 4 trường mầm non TP.HCMNguyễn Thị Đan Thanh và cs., 2024

Dùng ở chương: Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-017Ở 768 học sinh lớp 10–12 của 3 trường THPT tại thị xã Đông Hoà (Phú Yên, 4/2021), 33,5% có chất lượng giấc ngủ kém theo chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI > 5) và 21,0% nghiện internet theo thang s-IAT; nghiện internet đi kèm tỉ số chênh ngủ kém 2,98 sau hiệu chỉnh áp lực học tập và dùng internet sau 21 giờ.PSQI > 5: 33,5% (KTC 95% 30,0–37,0); nghiện internet 21,0% (18,0–24,0); OR thô 3,69 (2,58–5,30); OR hiệu chỉnh 2,98 (2,05–4,34)NgườiCắt ngang; PSQI tự báo cáo (> 5 là ngủ kém); thang nghiện internet rút gọn s-IAT 12 mục (≥ 36); hồi quy logistic hiệu chỉnh áp lực học tập và dùng internet sau 21 giờ. Cỡ mẫu: n = 768 (820 chọn mẫu); 3 trường THPT (Lê Trung Kiên, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Công Trứ), thị xã Đông Hoà, Phú Yên; lớp 10–12Tran và cs., 2023
b4-023Ở 747 học sinh lớp 10–12 trường THPT Hai Bà Trưng (Huế, 3–4/2026), 57,4% có PSQI > 5; học sinh dùng mạng xã hội sau 22 giờ trung bình 77,4 phút mỗi tối, và điểm nghiện mạng xã hội (BSMAS) tương quan thuận yếu với điểm PSQI (r = 0,312).PSQI > 5: 57,4%; PSQI trung bình 6,51 ± 3,04; mạng xã hội sau 22:00: 77,4 ± 65,1 phút (trung vị 60); r(BSMAS, PSQI) = 0,312; r(PSQI, lòng tự trọng) = −0,284 (p < 0,001)NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu cụm hai giai đoạn; PSQI tự điền (> 5); thang nghiện mạng xã hội Bergen (BSMAS); thang lòng tự trọng Rosenberg; tương quan Spearman và mô hình trung gian nối tiếp (bootstrap 5.000 lần) hiệu chỉnh giới, khối lớp, kinh tế gia đình. Cỡ mẫu: n = 747 (58,9% nữ; lớp 10: 42,6%, lớp 11: 43,8%, lớp 12: 13,7%); một trường: THPT Hai Bà Trưng, TP. HuếNguyễn Hữu Minh An và cs., 2026
b4-031Ở 678 học sinh một trường THPT miền Bắc Việt Nam (tuổi trung bình 16,1; 7–9/2019), 58,8% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI và 30,7% dùng internet hơn 4 giờ/ngày; sau hiệu chỉnh các yếu tố nhân khẩu và sức khoẻ, dùng internet quá mức đi kèm tỉ số chênh ngủ kém 1,58, trong khi không liên quan có ý nghĩa với trầm cảm hay lo âu.PSQI kém 58,8%; internet > 4 giờ/ngày 30,7%; OR hiệu chỉnh 1,58 (KTC 95% 1,06–2,35); triệu chứng trầm cảm 19,6%, lo âu 14,5%NgườiCắt ngang; PSQI, thang trầm cảm CES-D, thang lo âu Việt Nam (VAS), bảng hỏi thời gian dùng internet; hồi quy logistic đa biến hiệu chỉnh nhân khẩu và sức khoẻ tự đánh giá. Cỡ mẫu: n = 678 học sinh, tuổi trung bình 16,1 ± 0,9; một trường THPT ở miền Bắc (tên trường không nêu trong tóm tắt)Nguyen và cs., 2022 (tóm tắt)

Dùng ở chương: Ngáy, ngưng thở khi ngủ và cắt amiđan ở trẻ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-009Ở 524 trẻ 6–12 tuổi được chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder, ADHD) tại Bệnh viện Nhi Trung ương (10/2022–9/2023), 23,3% có ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea, OSA) theo đa ký hô hấp tại nhà (chỉ số ngưng thở–giảm thở, AHI ≥ 1/giờ), phần lớn ở mức trung bình–nặng.23,3% (122/524); 184/524 có điểm PSQ > 7 được đo đa ký hô hấp; > 50% ca OSA ở mức trung bình–nặng (AHI ≥ 5)NgườiCắt ngang mô tả; sàng lọc bằng Bảng hỏi giấc ngủ nhi khoa (Pediatric Sleep Questionnaire, PSQ) > 7 rồi đa ký hô hấp tại nhà (ApneaLink Air, ≥ 4 giờ ghi), OSA khi AHI ≥ 1/giờ theo ICSD-3; không phải đa ký giấc ngủ (PSG); so sánh nội bộ ADHD có/không OSA, không có nhóm trẻ khoẻ mạnh. Cỡ mẫu: n = 524 trẻ ADHD 6–12 tuổi (tuổi trung bình 7,8 ± 1,5; 87,4% nam); một cơ sở: Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội)Nguyen-Thi-Phuong và cs., 2025
b4-010Trong thuần tập tiến cứu một nhóm (không có nhóm chứng) ở 141 trẻ ADHD có OSA tại Bệnh viện Nhi Trung ương (11/2022–10/2024), sau 6 tháng quản lý đa chuyên khoa cá thể hoá (methylphenidate cho tất cả; phẫu thuật cho 68 trẻ: 38 nạo VA kèm cắt amiđan, 17 chỉ cắt amiđan, 13 chỉ nạo VA; xử trí trào ngược, hen, viêm mũi dị ứng; tư vấn cân nặng), chỉ số biến cố hô hấp (REI) giảm từ 11,8 xuống 4,4/giờ và điểm ADHD do cha mẹ đánh giá giảm ở mọi lĩnh vực.REI 11,8 ± 6,5 → 4,4 ± 2,8/giờ; SpO₂ thấp nhất 78,9% → 83,4%; 33,3% (47/141; KTC 95% 26,1–41,5) hết tiêu chuẩn OSA; VADRS giảm chú ý 18,7 → 14,4, tăng động–xung động 17,3 → 13,3; thời gian vào giấc 34,7 → 15,7 phútNgườiThuần tập tiến cứu trước–sau một nhóm, theo dõi 6 tháng; OSA theo PSQ ≥ 8 câu "có" rồi đa ký hô hấp tại nhà (ApneaLink Plus, REI ≥ 1/giờ), không PSG; ADHD theo DSM-5; kết cục: thang Vanderbilt cha mẹ đánh giá (VADRS), đa ký hô hấp và nhật ký ngủ. Cỡ mẫu: Sàng lọc 629 trẻ ADHD, 293 đo đa ký hô hấp, 147 có OSA, 141 hoàn tất theo dõi; tuổi trung bình 7,8 (6–12 tuổi), 85,8% nam; một cơ sở: Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyen-Thi-Phuong và cs., 2026
b4-014Bảng hỏi thói quen ngủ của trẻ (Children's Sleep Habits Questionnaire, CSHQ) bản tiếng Việt (CSHQ-V, 33 câu, cha mẹ trả lời) được thích ứng và kiểm định ở 115 trẻ ADHD 4–12 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương (10–12/2022): độ tin cậy nội tại Cronbach's alpha 0,78 và ICC lặp lại được báo cáo 0,89; bài nêu điểm cắt 41 với độ nhạy 99% và độ đặc hiệu 80% nhưng không nêu tiêu chuẩn tham chiếu dùng để tính các chỉ số này.Cronbach's alpha 0,78 (tiểu mục 0,68–0,85); ICC 0,89; 5 yếu tố giải thích 64% phương sai; điểm cắt 41, AUC 0,90 (KTC 95% 0,87–0,93), độ nhạy 99%, độ đặc hiệu 80%NgườiNghiên cứu thích ứng văn hoá và kiểm định tâm trắc (psychometric); phân tích nhân tố khám phá; đường cong ROC (bài không nêu rõ tiêu chuẩn tham chiếu); chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu: n = 115 trẻ ADHD (DSM-5) 4–12 tuổi, tuổi trung bình 7,8 ± 1,5, 80% nam; một cơ sở: Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyễn Thị Phương Mai và cs., 2025a
b4-015Trong nghiên cứu can thiệp trước–sau không nhóm chứng ở 63 trẻ 2–12 tuổi có amiđan quá phát và OSA nhẹ–vừa tại Bệnh viện Nhi Trung ương (2016–2019), sau 3 tháng dùng thuốc kháng thụ thể leukotriene, AHI trên đa ký hô hấp tại nhà giảm từ 3,9 xuống 0,9/giờ và 47,6% trẻ đạt AHI < 1.AHI 3,9 ± 2,9 → 0,9 ± 1,0/giờ (p = 0,001); OSA mức vừa 25,4% → 1,6%; SpO₂ thấp nhất 78,8% → 83,7% (p = 0,016); 47,6% đạt AHI < 1; số lần ngáy/đêm 276,6 → 154,8 (p = 0,120, không có ý nghĩa thống kê)NgườiCan thiệp tiến cứu trước–sau, không ngẫu nhiên, không nhóm chứng, không làm mù; OSA chẩn đoán bằng đa ký hô hấp tại nhà (AHI ≥ 1; loại trừ AHI > 10); kết cục đo lại sau 3 tháng bằng đa ký hô hấp và bảng hỏi triệu chứng giấc ngủ nhi khoa. Cỡ mẫu: n = 63 trẻ 2–12 tuổi (tuổi trung bình 5,9 ± 2,1), amiđan quá phát độ ≥ II; một cơ sở: Bệnh viện Nhi Trung ươngPhí Thị Quỳnh Anh và cs., 2023
b4-024Bảng hỏi giấc ngủ nhi khoa bản tiếng Việt (V-PSQ, 22 mục) có độ tin cậy nội tại và lặp lại tốt ở trẻ 3–14 tuổi khám hô hấp tại TP.HCM, nhưng điểm V-PSQ không tương quan với chỉ số ngưng thở–giảm thở (AHI) đo bằng đa ký hô hấp loại III ở 20 trẻ.Cronbach's alpha 0,866 (toàn bộ); tương quan lặp lại Spearman 0,823; tương quan với AHI rho = −0,012 (p = 0,96; n = 20)NgườiNghiên cứu dịch thuật, thích ứng và kiểm định 3 giai đoạn; tiêu chuẩn tham chiếu: đa ký hô hấp loại III (Alice NightOne), OSA khi AHI ≥ 1/giờ (AASM v2.5). Cỡ mẫu: Giai đoạn 3: n = 20 trẻ (3–14 tuổi, tuổi trung bình 7,55 ± 3,1); 2 cơ sở: phòng khám hô hấp Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM và Phòng khám CHAC 1 (TP.HCM)Le Thi Minh Thu và cs., 2023
b4-025Một bản dịch khác của thang rối loạn hô hấp liên quan giấc ngủ trong PSQ (SRBD-PSQ) được thích ứng ở 60 trẻ 6–14 tuổi khám dị ứng–miễn dịch tại Bệnh viện Nhi Trung ương (2021–2022), cho Cronbach's alpha toàn thang 0,763 và hệ số Kappa lặp lại 0,498–0,832; bài không so với đa ký giấc ngủ.Cronbach's alpha 0,763 (toàn thang); Kappa lặp lại 0,498–0,832NgườiDịch thuật, thích ứng văn hoá, kiểm định độ tin cậy (nhất quán nội tại, lặp lại); cha mẹ trả lời (86,7% là mẹ); không có tiêu chuẩn tham chiếu khách quan. Cỡ mẫu: n = 60 trẻ 6–14 tuổi (tuổi trung bình 9,28 ± 2,1; 76,7% nam); một cơ sở: phòng khám Dị ứng–Miễn dịch–Khớp, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyen Ngoc Quynh Le và cs., 2023
b4-036Ở 114 trẻ 2,5–12 tuổi có VA–amiđan quá phát và hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ tại Bệnh viện Nhi Trung ương (6/2017–8/2019), AHI trung bình trên đa ký hô hấp tại nhà là 12,6/giờ và SpO₂ thấp nhất trung bình 75,7%; 38,6% ở mức nặng; 26,3% thừa cân hoặc béo phì trong khi 27,2% suy dinh dưỡng.AHI 12,6 ± 11,2/giờ (nhóm phẫu thuật 23,4 ± 13,1; nhóm không phẫu thuật 3,9 ± 2,7); nặng 38,6% (44/114; 32 trẻ AHI > 20); SpO₂ thấp nhất 75,7 ± 13,7%; ngáy 97,6%; thừa cân 15,8%, béo phì 10,5%, suy dinh dưỡng 27,2%NgườiCắt ngang mô tả; đa ký hô hấp qua đêm tại nhà (ResMed, ≥ 120 phút tín hiệu dùng được), OSA khi AHI ≥ 1/giờ, ngưỡng mức độ 1, 5, 10. Cỡ mẫu: n = 114 trẻ (tuổi trung bình 5,5 ± 2,1; 51 phẫu thuật, 63 không phẫu thuật); một cơ sở: Bệnh viện Nhi Trung ươngPhí Thị Quỳnh Anh và cs., 2022
b4-037Trong nghiên cứu can thiệp mô tả tiến cứu không nhóm chứng ở 49 trẻ ≤ 15 tuổi ngủ ngáy có VA và/hoặc amiđan quá phát tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (3/2017–6/2018), 3 tháng sau nạo VA và/hoặc cắt amiđan, 93,9% không còn ngáy theo đánh giá lâm sàng và gia đình; bài không đo đa ký giấc ngủ hay AHI.Không còn ngáy: 75,5% lúc ra viện, 93,9% sau 3 tháng; còn ngáy 6,1% (3 trẻ); phù lưỡi gà 10,2%, chảy máu sớm hoặc muộn 8,2%NgườiCan thiệp lâm sàng mô tả tiến cứu, không nhóm chứng, không làm mù; ngáy đánh giá bằng hỏi bệnh, ghi âm hoặc gia đình kể, thang điểm "ESS" không định nghĩa rõ; không PSG; theo dõi 3 tháng (loại trẻ không tái khám). Cỡ mẫu: n = 49 trẻ ≤ 15 tuổi (31 nam, 18 nữ; đa số > 6–11 tuổi); một cơ sở: Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược HuếLê Thanh Thái và cs., 2018
b4-041Trong thuần tập Bệnh viện Nhi Trung ương 2022–2024, 629 trẻ ADHD được sàng lọc bằng PSQ, 293 trẻ có từ 8 câu trả lời "có" trở lên được đo đa ký hô hấp tại nhà và 147 trẻ có đặc điểm lâm sàng phù hợp kèm REI ≥ 1/giờ. SL Tương ứng khoảng 50% số trẻ được đo và khoảng 23% số trẻ được sàng lọc, gần với tỉ lệ 23,3–23,4% của các bài cùng nhóm; bài không tự báo cáo các tỉ lệ này.629 sàng lọc → 293 đo đa ký hô hấp → 147 OSA (nhận xét của nhóm biên tập: 147/293 ≈ 50,2%; 147/629 ≈ 23,4%)NgườiSàng lọc PSQ (≥ 8 câu "có") rồi đa ký hô hấp tại nhà (ApneaLink Plus), OSA khi REI ≥ 1/giờ kèm đặc điểm lâm sàng. Cỡ mẫu: 629 trẻ ADHD 6–12 tuổi sàng lọc, 293 đo đa ký hô hấp; một cơ sở: Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyen-Thi-Phuong và cs., 2026

Dùng ở chương: Mất ngủ, hoảng sợ ban đêm, ADHD, tự kỷ và melatonin ở trẻ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-011Theo nhật ký ngủ lúc ban đầu trong thuần tập Bệnh viện Nhi Trung ương, trẻ 6–12 tuổi có ADHD và OSA ngủ đêm trung bình 8,4 giờ, ngủ ngày 1,7 giờ (tổng 10,1 giờ/24 giờ), đi ngủ khoảng 22,3 giờ (khoảng 22:18) và mất 34,7 phút để vào giấc; sau 6 tháng ngủ ngày giảm còn 0,9 giờ và tổng thời gian ngủ còn 9,6 giờ.Ban đầu: ngủ đêm 8,4 giờ; ngủ ngày 1,7 giờ; tổng 10,1 giờ; giờ đi ngủ 22,3 (giờ thập phân, khoảng 22:18); vào giấc 34,7 phút. 6 tháng: 8,7; 0,9; 9,6 giờ; 22,0; 15,7 phútNgườiThuần tập tiến cứu trước–sau; nhật ký ngủ do cha mẹ ghi. Cỡ mẫu: n = 141 trẻ 6–12 tuổi có ADHD và OSA; một cơ sở: Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyen-Thi-Phuong và cs., 2026
b4-012Ở 277 trẻ ADHD 6–12 tuổi khám tại Khoa Tâm thần Bệnh viện Nhi Trung ương (10/2022–9/2023), theo cha mẹ báo cáo và nhật ký ngủ 2 tuần, 48,0% tiếp xúc màn hình hơn 2 giờ ngay trước giờ ngủ và 44,4% cần cha mẹ có mặt khi vào giấc; trẻ có bệnh đồng mắc có tỉ lệ chống đối giờ đi ngủ, khó vào giấc và khó duy trì giấc ngủ cao hơn trẻ không đồng mắc.Màn hình > 2 giờ trước ngủ: 48,0% (không đồng mắc 18,2% so với có đồng mắc 64,6%); cần cha mẹ khi vào giấc 44,4%; chống đối giờ ngủ 25,3% so với 71,3%; khó vào giấc 41,4% so với 69,7%; khó duy trì 22,2% so với 66,3%; hoảng sợ ban đêm 6,1% so với 19,7%; mộng du 5,1% so với 14,6% (p < 0,05)NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; phỏng vấn cha mẹ và nhật ký ngủ 2 tuần do nhóm tác giả xây dựng (không dùng thang chuẩn hoá như CSHQ); kiểm định khi bình phương, không hiệu chỉnh, không nhóm chứng. Cỡ mẫu: n = 277 trẻ ADHD (DSM-5) 6–12 tuổi, tuổi trung bình 8,4 ± 1,7, 85,9% nam; một cơ sở: Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyen Thi Phuong Mai và cs., 2024
b4-013Ở 98 trẻ động kinh 4–12 tuổi khám ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (7/2024–6/2025), 60,2% có rối loạn giấc ngủ theo Bảng hỏi thói quen ngủ của trẻ (Children's Sleep Habits Questionnaire, CSHQ ≥ 41) do cha mẹ trả lời; hay gặp nhất là chống đối giờ đi ngủ và chậm vào giấc. Sau hiệu chỉnh, động kinh kháng thuốc đi kèm OR 10,1 và bất thường điện não điển hình đi kèm OR 2,24.CSHQ ≥ 41: 60,2% (59/98); chống đối giờ ngủ 56,1%; chậm vào giấc 55,1%; buồn ngủ ban ngày 28,5%; rối loạn thở khi ngủ 18,4%; aOR kháng thuốc 10,1 (KTC 95% 3,31–31,1); aOR bất thường điện não 2,24 (1,06–4,72); cần cha mẹ có mặt khi vào giấc OR thô 3,23 (1,39–7,51)NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; CSHQ 33 mục bản tiếng Việt do cha mẹ/người chăm sóc trả lời; hồi quy logistic đa biến gồm các biến có p < 0,05 ở phân tích đơn biến: khởi phát động kinh ≤ 3 tuổi, chậm phát triển, bất thường điện não điển hình, rối loạn phát triển thần kinh, động kinh kháng thuốc; không nhóm chứng. Cỡ mẫu: n = 98 trẻ 4–12 tuổi động kinh (ILAE 2014), theo dõi ≥ 6 tháng; một cơ sở: Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội)Phạm Hồng Nhung và cs., 2025
b4-026Trong thuần tập 629 trẻ ADHD 6–12 tuổi tại Khoa Tâm thần Bệnh viện Nhi Trung ương (10/2022–9/2024), lúc ban đầu 70,0% có ít nhất một rối loạn giấc ngủ (sàng lọc CSHQ ≥ 41, phân loại theo ICSD-3): mất ngủ 40,2%, cận giấc ngủ (parasomnia) 27,8%, ngưng thở tắc nghẽn 23,4%, hội chứng chân không yên 10,5%, rối loạn chậm pha thức–ngủ 4,8%.Bất kỳ rối loạn: 70,0% (440/629); mất ngủ 40,2%; parasomnia 27,8% (thức giấc lú lẫn 19,9%, hoảng sợ ban đêm 10,3%, ác mộng 8,3%, mộng du 6,2%); OSA 23,4%; chân không yên 10,5%; chậm pha 4,8%NgườiThuần tập tiến cứu, không nhóm chứng; sàng lọc CSHQ (cha mẹ trả lời, ngưỡng 41), chẩn đoán phân loại theo ICSD-3 (bài không nêu ai chẩn đoán); OSA xác định bằng đa ký hô hấp theo các bài cùng nhóm. Cỡ mẫu: n = 629 trẻ ADHD 6–12 tuổi (tuổi trung bình 7,8 ± 1,5; nam:nữ khoảng 6,7:1); một cơ sở: Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyễn Thị Phương Mai và cs., 2025b
b4-027Cùng thuần tập (trước–sau, không nhóm chứng), sau 2 tháng xử trí đồng thời ADHD và rối loạn giấc ngủ theo khuyến nghị của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) (thuốc ADHD, tư vấn vệ sinh giấc ngủ và can thiệp hành vi cho mọi trẻ có rối loạn giấc ngủ, cộng xử trí riêng theo từng rối loạn), tỉ lệ có rối loạn giấc ngủ giảm từ 70,0% xuống 27,7%; mất ngủ giảm từ 40,2% xuống 9,0%, trong khi OSA chỉ giảm từ 23,4% xuống 16,0%.Bất kỳ: 70,0% → 47,7% (1 tháng) → 27,7% (2 tháng), p < 0,001; mất ngủ 40,2% → 25,4% → 9,0%; OSA 23,4% → 17,0% → 16,0%; chân không yên 10,5% → 2,4% → 0,5%; parasomnia 27,8% → 11,1% → 6,6%NgườiThuần tập tiến cứu trước–sau, không nhóm chứng, không làm mù; đánh giá lúc ban đầu, 1 tháng, 2 tháng (n = 620 ở 2 tháng); can thiệp gồm thuốc ADHD (methylphenidate, clonidine, risperidone), melatonin cho rối loạn giai đoạn ngủ muộn, bổ sung sắt cho chân không yên, cắt VA–amiđan cho OSA có quá phát, tư vấn vệ sinh giấc ngủ và can thiệp hành vi cho mọi trẻ có rối loạn giấc ngủ. Cỡ mẫu: n = 629 (620 ở 2 tháng); một cơ sở: Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyễn Thị Phương Mai và cs., 2025b
b4-029Ở 117 trẻ rối loạn phổ tự kỷ 24–60 tháng tuổi khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương (10/2016–5/2017), 81,2% có rối loạn giấc ngủ theo CSHQ (ngưỡng 41, người chăm sóc chính trả lời); rối loạn giấc ngủ gặp nhiều hơn ở trẻ tự kỷ nặng, trẻ có kèm ADHD, táo bón chức năng, uống sữa trước khi ngủ, đi ngủ sau 21 giờ, để đèn khi ngủ và xem điện thoại/máy tính bảng/tivi trước khi ngủ.81,2% (95/117); tự kỷ nặng (CARS ≥ 37) 87,5% so với 62,1% (p = 0,002); đi ngủ sau 21:00 p = 0,005; màn hình trước ngủ p = 0,02; để đèn p = 0,02; tương quan CSHQ–CARS r = 0,349NgườiCắt ngang mô tả; CSHQ do người chăm sóc chính trả lời (ngưỡng 41); kiểm định khi bình phương, không OR, không hiệu chỉnh, không nhóm chứng. Cỡ mẫu: n = 117 trẻ tự kỷ 24–60 tháng (tuổi trung bình 33,85 ± 9,18 tháng; nam:nữ khoảng 5,9:1); một cơ sở: Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyễn Thị Thanh Mai và cs., 2022
b4-040Trong cùng mẫu 277 trẻ ADHD tại Bệnh viện Nhi Trung ương, mệt mỏi khi thức dậy gặp nhiều nhất ở thể giảm chú ý (64,9%) so với thể tăng động–xung động (25,9%) và thể kết hợp (51,2%); tiếp xúc màn hình hơn 2 giờ trước ngủ cao nhất ở thể kết hợp (53,6%).Mệt khi thức dậy: giảm chú ý 64,9%, tăng động–xung động 25,9%, kết hợp 51,2% (p < 0,05); màn hình > 2 giờ trước ngủ ở thể kết hợp 53,6%NgườiCắt ngang mô tả; phỏng vấn cha mẹ và nhật ký ngủ 2 tuần; so sánh giữa các thể ADHD bằng kiểm định khi bình phương, không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 277 trẻ ADHD 6–12 tuổi; một cơ sở: Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ươngNguyen Thi Phuong Mai và cs., 2024

Dùng ở chương: Ngủ ít với cân nặng, học tập và hành vi: hiệu ứng lớn đến đâu#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-016Ở 541 học sinh lớp 10–11 của 4 trường THPT (2 ở Hà Nội, 2 ở Hưng Yên), chất lượng giấc ngủ kém hơn theo PSQI đi kèm điểm trung bình học tập tự báo cáo thấp hơn, nhưng mức liên quan yếu (tương quan chính tắc 0,20) và mất ý nghĩa thống kê khi đưa động lực học tập và mức mệt mỏi vào mô hình (tương quan giảm khoảng 25%).Tương quan chính tắc thứ nhất RC1 = 0,20 (p hoán vị = 0,0108; Wilks' lambda 0,948); giảm khoảng 25% và không còn ý nghĩa khi hiệu chỉnh động lực học tập và mệt mỏi; điểm thành phần thời lượng ngủ PSQI trung bình 0,82 (SD 0,99) trên thang 0–3; 50% có ít nhất một mức điểm ở thành phần thời lượng ngủNgườiCắt ngang; PSQI bản tiếng Việt tự báo cáo (tháng qua); điểm trung bình học tập tự báo cáo (không lấy từ sổ điểm); phân tích tương quan chính tắc; biến kiểm soát: thang động lực học tập (AMS), thang mệt mỏi Chalder. Cỡ mẫu: n = 541 phân tích (750 mời, 639 đồng ý); 4 trường THPT, mỗi trường 2 lớp 10 và 2 lớp 11; Hà Nội (thành thị) và Hưng Yên (nông thôn); không nêu tuổiLe và cs., 2026
b4-018Trong khảo sát cắt ngang 43.505 trẻ 6–17 tuổi ở 7 vùng kinh tế–xã hội Việt Nam (1/2024–6/2025), 53,2% được cha mẹ báo cáo là "đi ngủ sớm"; đi ngủ sớm đi kèm tỉ số chênh thừa cân/béo phì thấp hơn (OR 0,91) nhưng tỉ số chênh thấp còi cao hơn (OR 1,22).Đi ngủ sớm 53,2%; với thừa cân/béo phì OR 0,91 (KTC 95% 0,87–0,95); với thấp còi OR 1,22 (1,10–1,35); thừa cân 20,7%, béo phì 11,4%, thấp còi 3,9%NgườiCắt ngang, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn (vùng, thành thị/nông thôn, xã, hộ); giờ ngủ là biến nhị phân "đi ngủ sớm" do cha mẹ trả lời, bài không nêu mốc giờ hay câu hỏi; không đo thời lượng ngủ; hồi quy logistic với giới, nhóm tuổi, vùng, thể thao, dùng vitamin K2, dậy thì. Cỡ mẫu: n = 43.505 trẻ 6–17 tuổi; 7 vùng; không nêu số tỉnhNguyen và cs., 2025
b4-019Trong nghiên cứu bệnh–chứng ghép cặp 1:1 ở 1.440 học sinh lớp 6–9 tại Tiền Giang (Mỹ Tho, Cai Lậy, Chợ Gạo; 2023–2025), ngủ dưới 8 giờ/đêm theo lời học sinh đi kèm tỉ số chênh béo phì 2,17 sau hiệu chỉnh trong mô hình gồm bữa sáng, ăn ngoài và ăn nhanh.Ngủ < 8 giờ: 243/720 ca béo phì so với 91/720 chứng (nhận xét của nhóm biên tập: tương ứng 33,8% so với 12,6%); OR thô 3,52 (KTC 95% 2,67–4,66); OR hiệu chỉnh 2,17 (1,62–2,93)NgườiBệnh–chứng ghép cặp theo giới, tuổi (± 6 tháng), trường; ca: BMI theo tuổi > +2 SD (WHO 2007); chứng: −2 đến +1 SD; thời lượng ngủ hỏi qua phỏng vấn học sinh bằng bảng hỏi bán cấu trúc (không nêu câu hỏi, không kiểm định); hồi quy logistic đa biến (bữa sáng < 5 lần/tuần, ăn ngoài ≥ 3 lần/tuần, ăn nhanh, ngủ < 8 giờ). Cỡ mẫu: n = 1.440 (720 ca, 720 chứng) chọn từ 6.009 học sinh của khảo sát cắt ngang trước đó; trường THCS ở 3 địa bàn Tiền Giang (TP. Mỹ Tho, huyện Cai Lậy, huyện Chợ Gạo); số trường không nêuNguyễn Thành Nam và cs., 2025
b4-028Ở 168 trẻ 2–10 tuổi ở Nghệ An được phỏng vấn người chăm sóc 2–4 tuần sau khi dương tính COVID-19, 51,8% có rối loạn giấc ngủ theo CSHQ (6–10 tuổi, ngưỡng ≥ 41) hoặc CSHQ rút gọn (2–5 tuổi, ngưỡng ≥ 30); trẻ nằm viện có tỉ lệ cao hơn trẻ được chăm sóc tại nhà (61,9% so với 45,7%).Chung 51,8% (87/168); 2–5 tuổi 55,7% so với 6–10 tuổi 47,5% (p = 0,289, không có ý nghĩa thống kê); bệnh viện 61,9% so với tại nhà 45,7% (p = 0,04); điểm chống đối giờ ngủ 11,1 (2–5 tuổi) so với 9,94 (6–10 tuổi)NgườiCắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện; người chăm sóc trả lời (97% là mẹ); CSHQ (6–10 tuổi) và SF-CSHQ (2–5 tuổi); không có số liệu trước COVID-19 của cùng trẻ, không nhóm chứng đồng thời. Cỡ mẫu: n = 168 (88 trẻ 2–5 tuổi, 80 trẻ 6–10 tuổi); 2 cơ sở: Bệnh viện Dã chiến số 8 (Nghệ An) và Trạm Y tế xã Nghi Phú (TP. Vinh)Trần Văn Phú và Nguyễn Thị Thanh Mai, 2023
b4-038Ở 821 học sinh lớp 6 (11–12 tuổi) của 4 trường THCS công lập thuộc 2 quận nội thành Hà Nội (1/2014), so với ngủ dưới 8 giờ/ngày, ngủ 8–11 giờ đi kèm tỉ số chênh thừa cân/béo phì 0,57 và ngủ trên 11 giờ đi kèm 0,44 sau hiệu chỉnh giới.8–11 giờ: OR thô 0,64 (KTC 95% 0,46–0,90), aOR 0,57 (0,40–0,81); > 11 giờ: OR thô 0,47 (0,24–0,90), aOR 0,44 (0,22–0,87); tham chiếu ≤ 8 giờ (theo tóm tắt; nhãn nhóm trong phần chữ không thống nhất)NgườiCắt ngang (1/2014); chọn mẫu phân tầng: 2/4 quận trung tâm, 4 trường THCS công lập, 5 lớp 6 mỗi trường; bảng hỏi tự điền (bài không nêu rõ câu hỏi giấc ngủ); hồi quy logistic, hiệu chỉnh giới (các biến khác không nêu rõ cho kết quả này). Cỡ mẫu: n = 821/936 học sinh mời; 11–12 tuổi; 4 trường THCS, 2 quận nội thành Hà NộiPham và cs., 2019
b4-039Trong nghiên cứu bệnh–chứng lồng trong khảo sát dựa dân số ở 31 trường tiểu học thuộc 8 quận, huyện Hà Nội (2015–2017), ngủ đêm dưới 8 giờ theo cha mẹ báo cáo gặp ở 23,6% trẻ béo phì so với 10,6% trẻ cân nặng bình thường, đi kèm tỉ số chênh béo phì 2,7 sau hiệu chỉnh tuổi và giới.Ngủ đêm < 8 giờ: 23,6% (65) ở ca so với 10,6% (29) ở chứng; OR thô 2,6; OR hiệu chỉnh tuổi, giới 2,7 (p < 0,001; bài không nêu KTC 95%; tỉ lệ in trong bài không khớp đúng cỡ nhóm, và tóm tắt với Bảng 1 ghi đảo số ca/chứng 278/281)NgườiBệnh–chứng lồng trong khảo sát cắt ngang dựa dân số (chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn); béo phì theo ngưỡng IOTF 2000; thời lượng ngủ đêm do cha mẹ báo cáo qua bảng hỏi cấu trúc, ngưỡng < 8 giờ; hồi quy logistic hiệu chỉnh tuổi, giới. Cỡ mẫu: n = 559 (278 béo phì, 281 bình thường) trong 687 tuyển; 6–11 tuổi; 31 trường tiểu học ở 5 quận nội thành và 3 huyện ngoại thành Hà NộiLe Thi Tuyet và cs., 2024

Dùng ở chương: Vị thành niên: đồng hồ sinh học lùi muộn, thiếu ngủ và ngủ bù#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-001Ở 438 học sinh lớp 10–12 trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên, An Giang; 2–4/2023), 70,1% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI (> 5) và 60,0% có căng thẳng học tập từ mức trung bình trở lên (25,8% mức nặng).PSQI > 5: 70,1%; căng thẳng học tập ≥ trung bình 60,0%, nặng 25,8% (thang ESSA)NgườiCắt ngang mô tả; chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo lớp từ 1.308 học sinh; học sinh tự điền PSQI (> 5 là ngủ kém) và thang căng thẳng học tập ESSA 16 mục; hồi quy Poisson đa biến (PR hiệu chỉnh). Cỡ mẫu: n = 438 (447 tiếp cận, 98,0% hợp lệ); một trường: THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu, TP. Long Xuyên, An Giang; tuổi trung bình 17,0 ± 0,8Nguyễn Huỳnh Thùy Trang và cs., 2024
b4-002Trong cùng nghiên cứu An Giang, sau hiệu chỉnh, căng thẳng học tập mức nặng đi kèm tỉ số hiện mắc (prevalence ratio, PR) ngủ kém 1,53 so với mức nhẹ; gia đình ít hoặc không quan tâm đi kèm PR 1,30 so với gia đình rất quan tâm; học sinh sống với người khác (không sống với cha hay mẹ) đi kèm PR 1,17 so với sống cùng cả cha và mẹ, còn sống với một trong hai người thì không khác có ý nghĩa thống kê (PR 0,91).Căng thẳng vừa PR 1,24 (KTC 95% 1,15–1,33), nặng PR 1,53 (1,32–1,78); gia đình "quan tâm" PR 1,14 (1,05–1,23), ít/không quan tâm PR 1,30 (1,11–1,52); sống với một cha/mẹ PR 0,91 (0,74–1,12), sống với người khác PR 1,17 (1,02–1,35); giữ chức vụ lớp PR 1,14 (1,01–1,28); quan hệ bạn bè bình thường PR 1,14 (1,01–1,28)NgườiCắt ngang; hồi quy Poisson đa biến; mô hình giấc ngủ hiệu chỉnh chức vụ lớp, hoàn cảnh sống, mức quan tâm của gia đình, quan hệ bạn bè, mức căng thẳng học tập (giới bị loại khỏi mô hình cuối). Cỡ mẫu: n = 438; một trường: THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, An GiangNguyễn Huỳnh Thùy Trang và cs., 2024

Dùng ở chương: Giờ vào học sớm, học thêm và buồn ngủ khi lái xe#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-005Công văn 4567/BGDĐT-GDPT (05/08/2025) hướng dẫn dạy học 2 buổi/ngày năm học 2025–2026: tiểu học mỗi ngày không quá 7 tiết, mỗi tiết 35 phút, tối thiểu 9 buổi/tuần; trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) tối thiểu 5 ngày/tuần, tối đa 11 buổi/tuần, mỗi ngày không quá 7 tiết, mỗi tiết 45 phút.Tiểu học ≤ 7 tiết × 35 phút/ngày, ≥ 9 buổi/tuần; THCS, THPT ≤ 7 tiết × 45 phút/ngày, tối đa 11 buổi/tuầnHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hướng dẫn chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (công văn); mục II.1.a, II.2.a, II.3.a. Cỡ mẫu: Toàn quốc, học sinh tiểu học, THCS, THPT, năm học 2025–2026Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025
b4-006Công văn 4567/BGDĐT-GDPT không quy định giờ vào học buổi sáng hay giờ sớm nhất được dạy học; văn bản cho phép không cố định buổi 1 là buổi sáng, yêu cầu bố trí tiết học linh hoạt "không gây áp lực cho học sinh" và yêu cầu nhà trường xây dựng phương án ăn trưa, nghỉ trưa phù hợp điều kiện thực tế, không nhắc tới ngủ trưa.Không có giờ vào học tối thiểu; nghỉ trưa giao nhà trường tự xây dựng phương ánHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hướng dẫn chuyên môn; mục I.2 và IV.3. Cỡ mẫu: Toàn quốc, học sinh phổ thông, năm học 2025–2026Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025
b4-007Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT về dạy thêm, học thêm (ban hành 30/12/2024, hiệu lực 14/02/2025) quy định không tổ chức dạy thêm đối với học sinh tiểu học (trừ bồi dưỡng nghệ thuật, thể dục thể thao, rèn luyện kỹ năng sống) và dạy thêm trong nhà trường mỗi môn không quá 2 tiết/tuần. Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT (31/03/2026, hiệu lực 15/05/2026) giữ mức 2 tiết/tuần nhưng cho phép Giám đốc Sở GD&ĐT quyết định điều chỉnh thời lượng theo đề nghị của hiệu trưởng khi học sinh có nhu cầu. Văn bản chỉ yêu cầu chung thời lượng, thời điểm dạy thêm phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi và bảo đảm sức khoẻ học sinh; không quy định giờ kết thúc muộn nhất, thời gian nghỉ ngơi hay giấc ngủ.Tiểu học: không dạy thêm (trừ ngoại lệ); trong trường: ≤ 2 tiết/tuần/môn, Giám đốc Sở được cho phép điều chỉnh (từ 15/05/2026); không quy định giờ kết thúcHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản quy phạm (thông tư); đọc bản tóm lược trên cổng hcc.nghean.gov.vn và pbgdpl.cantho.gov.vn, bản PDF Thông tư 19/2026 và Văn bản hợp nhất 04/VBHN-BGDĐT (luatvietnam.vn). Cỡ mẫu: Toàn quốc, học sinh phổ thôngBộ Giáo dục và Đào tạo, 2024 (tóm tắt)
b4-008Từ 01/02/2012, trong đợt điều chỉnh giờ học, giờ làm nhằm giảm ùn tắc giao thông, Hà Nội đổi giờ học ở 10 quận nội thành và Thanh Trì, Từ Liêm: mầm non, tiểu học, THCS vào học buổi sáng từ 08:00 và kết thúc buổi chiều lúc 17:00; học sinh, sinh viên THPT, trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng bắt đầu học từ trước 7 giờ và kết thúc buổi chiều sau 19 giờ. Từ 13/02/2012, thành phố rút giờ tan học buổi chiều của học sinh THPT từ 19 giờ xuống 18 giờ vì việc tan học sau 19 giờ "chưa phù hợp".Mầm non–THCS: vào học 8:00, tan 17:00; THPT, trung cấp, cao đẳng: vào học trước 7:00, tan sau 19:00; THPT tan 18:00 từ 13/02/2012Báo chí, thông cáoBáo chí thuật lại thông báo của Sở GD&ĐT Hà Nội và quyết định của Chủ tịch UBND TP Hà Nội ký 08/02/2012; không có số hiệu văn bản. Cỡ mẫu: Học sinh các cấp ở 10 quận nội thành, Thanh Trì, Từ Liêm (Hà Nội)Báo Pháp luật Việt Nam, 2012
b4-030Công văn 2258/SGDĐT-VP của Sở GD&ĐT TP.HCM (12/09/2025) quy định khung giờ cho năm học 2025–2026: mầm non đón trẻ từ 07:00, không trễ hơn 08:00; phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) vào tiết đầu buổi sáng từ 7:00 trở đi và không trễ hơn 8:00, buổi chiều kết thúc không trước 16:00 và không sau 17:00. Lý do nêu trong văn bản là giao thông, không phải giấc ngủ.Mầm non: mở cổng 6:30, đón trẻ 7:00–8:00, trả trẻ từ 16:00; phổ thông: tiết đầu 7:00–8:00; kết thúc buổi sáng không trước 10:30; buổi chiều vào 13:00–13:30, tan 16:00–17:00; trường gần nhau lệch giờ tan tối thiểu 15 phútHướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hành chính của Sở GD&ĐT (công văn); đọc qua bản tóm lược của luatvietnam.vn trích nguyên văn các khung giờ. Cỡ mẫu: Cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông TP.HCM, năm học 2025–2026Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh, 2025 (tóm tắt)

Dùng ở chương: Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b4-022Ở 737 học sinh 15–17 tuổi trường THPT Hoà Vang (Đà Nẵng, 4–10/2024), thời lượng ngủ tự báo cáo trung bình 6,40 giờ/ngày, 31,2% đi ngủ sau nửa đêm (nam 31,3%, nữ 31,2%), và điểm PSQI tương quan thuận mức vừa với điểm lo âu GAD-7 (r = 0,543).Ngủ 6,40 ± 1,10 giờ/ngày (nam 6,48; nữ 6,35; p = 0,106); sau nửa đêm 31,2% (230/737; nam 31,3%, nữ 31,2%); PSQI 5,9 ± 3,4 (nam 5,2; nữ 6,3; p < 0,001); GAD-7 7,4 ± 4,6 (nam 5,8; nữ 8,3); r(PSQI, GAD-7) = 0,543 (p < 0,001)NgườiCắt ngang mô tả, chọn ngẫu nhiên đơn từ danh sách học sinh; PSQI và thang lo âu lan toả GAD-7 tự điền; tương quan Pearson, không có mô hình hồi quy hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 737 (62,7% nữ), tuổi trung bình 15,7 ± 0,87; một trường: THPT Hoà Vang, Đà NẵngTran Danh Tien Thinh và cs., 2025

Viết tắt trong trang

AAP
Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
AHI
chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
aOR
tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
AUC
diện tích dưới đường cong (area under the curve)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
DSM-5
Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, ấn bản 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th edition)
ESS
thang buồn ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale)
ICC
hệ số tương quan nội lớp (intraclass correlation coefficient)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
OSA
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
SD
độ lệch chuẩn (standard deviation)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục D. Dữ kiện: Việt Nam: trẻ em, học sinh và văn bản chính thức. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/phu-luc-d-du-kien-b4/