Chương này hỏi: trong phòng ngủ thật, không thí nghiệm, CO₂ ban đêm lên tới đâu, vì sao, và các tiêu chuẩn nói gì về mức đó? Đo đạc thực địa ở châu Âu, châu Á và châu Đại Dương cho thấy phòng ngủ đóng kín thường có CO₂ trung bình quanh hoặc trên 1.000 ppm, với đỉnh vài nghìn ppm. Phòng dùng điều hoà treo tường, loại không cấp gió tươi, có CO₂ cao hơn phòng dùng điều hoà cửa sổ hay thông gió tự nhiên; thông gió khi đóng cửa chủ yếu nhờ rò lọt qua khe hở. Ở Việt Nam, chúng tôi chỉ tìm được hai nghiên cứu rất nhỏ. Mốc "1.000 ppm" quen thuộc là mốc thông gió và vệ sinh, không phải ngưỡng độc tính. Hiệp hội Kỹ sư Sưởi, Lạnh và Điều hoà không khí Hoa Kỳ (ASHRAE) cũng không đặt giới hạn CO₂ nào trong tiêu chuẩn thông gió của mình.
Cách đọc số đo thực địa#
Các nghiên cứu trong chương này là đo đạc thực địa: cảm biến CO₂ đặt trong phòng ngủ người ta vẫn ngủ hằng đêm, không ai thay đổi gì. Phần lớn không đo giấc ngủ. Khi có đo, đó là thiết kế quan sát, nên mọi liên quan với giấc ngủ chỉ được đọc là "đi kèm".
Thông gió được biểu diễn bằng số lần trao đổi khí mỗi giờ (air changes per hour, ACH), hoặc lưu lượng gió tươi cho mỗi người (L/s hay m³/h). Nhiều nghiên cứu không đo ACH trực tiếp mà tính ngược từ đường tăng giảm của CO₂. Trang tốc độ trao đổi khí và máy tính trao đổi khí giải thích phép tính này.
Một phần số liệu chúng tôi chỉ có qua tổng quan của Sekhar và cộng sự, chưa mở được bài gốc (Sekhar và cs., 2020). Bảng dưới ghi rõ dòng nào là thứ cấp. Tác giả tổng quan cũng thuộc nhóm thực hiện nhiều nghiên cứu được tổng quan.
CO₂ phòng ngủ đo ngoài đời#
Châu Âu và châu Đại Dương#
Một nghiên cứu lớn về phòng ngủ trẻ em đo 500 phòng của trẻ 3–5 tuổi ở Đan Mạch (Bekö và cs., 2010). CO₂ được đo liên tục trung bình 2,5 ngày, trong một nghiên cứu bệnh–chứng về dị ứng. Chỉ 32% phòng có CO₂ trung bình đêm dưới 1.000 ppm. 23% phòng có ít nhất một khoảng 20 phút trên 2.000 ppm, và 6% có lúc trên 3.000 ppm.
ACH trung bình nhân tính từ CO₂ là 0,46 h⁻¹. Khoảng 57% trẻ ngủ dưới mức tối thiểu 0,5 h⁻¹ áp dụng cho nhà mới ở Đan Mạch. Nghiên cứu không đo giấc ngủ.
Ở 84 phòng ngủ vùng Copenhagen, ACH trung vị trong lúc ngủ theo thói quen là 0,40 h⁻¹, dao động 0,03–19,25 h⁻¹ (Fan và cs., 2022). Một nửa số phòng dưới mức tối thiểu 0,4 h⁻¹ của tiêu chuẩn châu Âu EN 16798-1. 79% phòng dưới 1,1 h⁻¹ và 26% dưới 0,2 h⁻¹, mức tác giả cho là có thể ảnh hưởng giấc ngủ và hiệu năng hôm sau.
Ở 38 phòng ngủ Đan Mạch mùa sưởi 2020, trung vị của CO₂ trung bình trong lúc ngủ là 981,8 ppm (Liao và cs., 2022). CO₂ cao hơn có ý nghĩa khi cả cửa sổ và cửa đi đều đóng. Bụi mịn PM2.5 ở cùng các phòng có trung vị 2,8 µg/m³.
Theo tổng quan Sekhar, phòng ngủ ở 567 nhà tại Pháp có ACH trung vị 0,44 h⁻¹, gồm 0,41 h⁻¹ ở nhà riêng và 0,49 h⁻¹ ở căn hộ. CO₂ trung bình phòng ngủ là 1.266 ppm trong mùa sưởi và 966 ppm ngoài mùa sưởi. Ở Lisbon, 10 phòng ngủ của các cặp vợ chồng trong mùa lạnh có CO₂ trung bình 1.911 ± 895 ppm. Chỉ 30% phòng dưới giá trị giới hạn 1.250 ppm theo luật Bồ Đào Nha.
Ở Wellington (New Zealand), Bennett và cộng sự đo 20 phòng ngủ trong mùa đông–xuân 2023, mỗi phòng 2 tuần (Bennett và cs., 2026). Máy đo dùng cảm biến hồng ngoại không tán sắc (non-dispersive infrared, NDIR), độ chính xác ±30 ppm ±3%. CO₂ ban đêm có trung vị 907 ppm, bách phân vị 75 là 1.319 ppm, và dao động 420–8.150 ppm.
Đỉnh CO₂ ban đêm vượt 2.000 ppm ở một nửa số phòng. 6 phòng có ít nhất 80% thời gian ban đêm trên 800 ppm. Bài không báo tỉ lệ vượt 1.000 ppm. Nghiên cứu do Hiệp hội Nghiên cứu Xây dựng New Zealand (BRANZ) tài trợ.
Châu Á#
Theo tổng quan Sekhar, ở 454 phòng ngủ trẻ em Thượng Hải đo suốt một năm, CO₂ trung bình là 1.123 ppm. 203 nhà có trung bình trên 1.000 ppm, và CO₂ mùa đông cao hơn mùa thu và mùa xuân.
Ở 23 phòng ngủ Seoul, CO₂ trung bình là 1.258 ppm mùa đông, 1.276 ppm mùa xuân và 428 ppm mùa hè. Mùa hè mở cửa đưa CO₂ về gần mức ngoài trời. Theo suy luận của chúng tôi SL, số đo này minh hoạ CO₂ phòng ngủ phụ thuộc mạnh vào mùa và hành vi đóng mở cửa.
Một nghiên cứu lớn ở Trung Quốc dùng phương pháp suy giảm CO₂ (CO₂ decay) để đo 294 nhà đô thị thuộc 5 vùng khí hậu (Hou và cs., 2019). Tốc độ rò lọt trung vị là 0,34 h⁻¹. Ở 46 phòng ngủ theo dõi ban đêm suốt một năm, 54% lần đo có cửa sổ đóng, tức thông gió chỉ nhờ rò lọt.
Người dân trong nghiên cứu này chủ yếu đóng cửa sổ khi nhiệt độ ngoài trời dưới 15 °C hoặc trên 26 °C. Nhà ở vùng nóng vì vậy đóng kín đúng vào lúc trời nóng. Tốc độ rò lọt trung vị theo mùa và vùng luôn dưới 0,45 h⁻¹.
| Nơi | Mẫu | Mùa, điều kiện | CO₂ hoặc ACH | Nguồn |
|---|---|---|---|---|
| Đan Mạch | 500 phòng trẻ 3–5 tuổi | Đo 2,5 ngày | 32% phòng có trung bình đêm dưới 1.000 ppm; ACH 0,46 h⁻¹ | Bài gốc, tóm tắt |
| Đan Mạch | 84 phòng ngủ | Thói quen thường ngày | ACH trung vị 0,40 h⁻¹; 50% dưới 0,4 h⁻¹ | Bài hội nghị |
| Đan Mạch | 38 phòng ngủ | Mùa sưởi 2020 | Trung vị 981,8 ppm | Bài hội nghị |
| Pháp | 567 nhà | Mùa sưởi / ngoài mùa sưởi | 1.266 / 966 ppm; ACH 0,44 h⁻¹ | Qua tổng quan |
| Lisbon | 10 phòng cặp đôi | Mùa lạnh | 1.911 ± 895 ppm | Qua tổng quan |
| Wellington | 20 phòng ngủ | Đông–xuân 2023 | Trung vị 907 ppm; bách phân vị 75 là 1.319 ppm | Bài gốc, toàn văn |
| Thượng Hải | 454 phòng trẻ em | Cả năm | 1.123 ppm; 203 nhà trên 1.000 ppm | Qua tổng quan |
| Seoul | 23 phòng ngủ | Đông / xuân / hè | 1.258 / 1.276 / 428 ppm | Qua tổng quan |
| Trung Quốc, 5 vùng | 294 nhà; 46 phòng ngủ | Cả năm | Rò lọt trung vị 0,34 h⁻¹ | Bài gốc, tóm tắt |
Một tổng quan 22 nghiên cứu thực địa cho bức tranh tương tự: CO₂ trung bình trong lúc ngủ khoảng 1.840 ± 700 mg/m³, xấp xỉ 1.000 ppm (Canha và cs., 2021). Trong 17 nghiên cứu đo CO₂, 4 nghiên cứu vượt 1.250 ppm, đều thông gió tự nhiên hoặc hỗn hợp; không trường hợp nào chỉ dùng thông gió cơ khí vượt mức này.
Việt Nam: hai nghiên cứu nhỏ#
Chúng tôi chỉ tìm được hai nghiên cứu đo CO₂ phòng ngủ ban đêm ở Việt Nam, và không nghiên cứu nào đo giấc ngủ. Các số đo phòng ngủ Việt Nam khác về nhiệt và ẩm có ở Tập 5.
Hà Nội: máy thông gió thu hồi nhiệt#
Nguyen và cộng sự đo 2 nhà ở Hà Nội có lắp máy thông gió thu hồi nhiệt (heat recovery ventilator), ghi 5 phút một lần (Nguyen và cs., 2025). Phòng ngủ đóng kín có CO₂ khoảng 3.000 ppm từ 23:00 đến 06:00 khi máy chạy mức 1. Mức 2 cho 1.500–2.000 ppm, mức 3 cho 1.100–1.300 ppm.
Bài liệt kê lưu lượng 80, 100 và 120 m³/h nhưng không gắn rõ với từng mức. Bài cũng không nói rõ phòng ngủ trong biểu đồ CO₂ thuộc nhà nào; bảng mô tả có một phòng ngủ 40,5 m³ ở căn hộ ngoại thành. Nghiên cứu không đo giấc ngủ.
Phần kết luận của bài viết nói máy làm điện năng điều hoà giảm từ 224,35 xuống 158,05 kWh mỗi tháng. Kết luận cũng viết CO₂ ban đêm giảm "từ trên 5.000 ppm về gần 1.000 ppm". Nhưng phần kết quả không có số đo nào khi tắt máy, và ở mức gió cao nhất CO₂ vẫn 1.100–1.300 ppm. Chúng tôi chỉ dùng các con số trong phần kết quả.
Xung đột lợi ích cần nêu rõ. Đây là hợp tác giữa Đại học Bách khoa Hà Nội và Daikin Corporation. Máy thông gió, bộ cảm biến chất lượng không khí và đồng hồ điện đều do Daikin cung cấp; bài không nêu loại cảm biến CO₂. Tác giả đều thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, và tài trợ chính là của trường.
Ba phòng ngủ kín#
Hà Thị Hiền và cộng sự đo CO₂ qua đêm trong 3 phòng ngủ kín (Hà Thị Hiền và cs., 2025). CO₂ cao nhất đạt 1.870 ppm lúc 05:00. Tác giả so con số này với mức 1.000 ppm của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13521:2022, dù bản dự thảo của tiêu chuẩn ghi mức đó là trị số trung bình 24 giờ với nhà ở. Có hay không bật điều hoà không làm khác biệt nồng độ CO₂ (p = 0,237).
Tóm tắt không nêu thiết bị đo, diện tích phòng, số người ngủ hay thành phố. Theo suy luận của chúng tôi SL, kết quả không khác theo điều hoà là điều có thể chờ đợi nếu đó là điều hoà treo tường thông thường, loại không cấp gió tươi. Tóm tắt không nêu loại máy. Tốc độ tăng nồng độ CO₂ trung bình là 15,74 ± 3,31% mỗi giờ.
Nghiên cứu ước tính thể tích CO₂ phát thải lớn nhất của một người trong 8 giờ nghỉ đêm là 66,59 L. Con số này nên đặt cạnh một phép đo trong buồng thí nghiệm ở Thượng Hải, với 32 người trẻ khoẻ ngủ trong phòng có lưu lượng gió tươi biết trước (Xiang và cs., 2026). Ở đó tốc độ phát thải CO₂ khi ngủ trung bình 10,1 ± 2,4 L mỗi giờ.
Giá trị Thượng Hải thấp hơn khoảng 20–50% so với giá trị khi thức trong các nghiên cứu trước, và khớp ước tính của ASHRAE Handbook. Hai con số không cùng loại: một bên là giá trị lớn nhất cộng trong 8 giờ, một bên là tốc độ trung bình trong thời gian ngủ. Theo phép quy đổi của chúng tôi SL, tính theo giờ con số Việt Nam thấp hơn. Theo suy luận của chúng tôi SL, lý do khả dĩ là phép ước tính bỏ qua rò lọt chưa biết, khác biệt thể trạng người ngủ, và cỡ mẫu rất nhỏ.
Điều hoà, rò lọt và đánh đổi khi mở cửa#
Điều hoà không cấp gió tươi#
Ở 12 phòng ngủ Hồng Kông mùa làm mát, theo tổng quan Sekhar, CO₂ khác rõ theo loại điều hoà. Phòng dùng điều hoà cửa sổ có CO₂ trung bình 456–1.048 ppm, trung bình 720 ppm, với gió ngoài 2,8–4,4 L/s khi mở van gió. Phòng dùng điều hoà treo tường có CO₂ 1.160–1.805 ppm, trung bình 1.500 ppm, với gió ngoài chỉ 1,4–2,2 L/s.
Trong một bài hội nghị năm 2002 đo ba căn hộ công cộng Singapore, phòng ngủ thông gió tự nhiên có CO₂ ban đêm khoảng 550–600 ppm (Wong và cs., 2002). Phòng ngủ chạy điều hoà có khoảng 778–1.164 ppm tuỳ loại máy. Theo bài, máy không có cửa lấy gió tươi có thể đẩy CO₂ lên khoảng 1.600 ppm.
Đổi lại, phòng thông gió tự nhiên ở Singapore có nhiệt độ 29–30 °C và độ ẩm 70–75%. Phòng điều hoà có 23–28 °C dù máy đặt 22 °C. Theo suy luận của chúng tôi SL, đây là minh hoạ cho đánh đổi nhiệt–thông gió ở vùng nóng ẩm: muốn mát thì đóng cửa, đóng cửa thì CO₂ tăng.
Cùng nghiên cứu khảo sát 105 cư dân bằng bảng hỏi. Chỉ 17% người dùng điều hoà khi ngủ không có triệu chứng nào của hội chứng nhà kín (sick building syndrome), so với khoảng 48% ở người ngủ thông gió tự nhiên. Đây là khảo sát cắt ngang tự báo cáo, không hiệu chỉnh biến nhiễu, nên chỉ được đọc là "đi kèm".
Một nghiên cứu ở một phòng ngủ có điều hoà tại Hồng Kông so sánh ba cách thông gió (Ai và cs., 2016). Thông gió tự nhiên suốt đêm, dù khe mở nhỏ, làm tăng điện năng và làm xấu môi trường nhiệt. Vài đợt thông gió cơ khí ngắn có thể duy trì không khí chấp nhận được cho 8 giờ ngủ, chỉ cần khoảng 41% thời gian so với cách tự nhiên ngắn tốt nhất. Kết quả từ một phòng chỉ mang tính minh hoạ kỹ thuật.
Lưu lượng gió tươi và CO₂ của một người ngủ#
Phép đo trong buồng thí nghiệm ở Thượng Hải cho một quy đổi trực tiếp giữa lưu lượng gió tươi và CO₂ cho phòng một người ngủ (Xiang và cs., 2026). Thời điểm vào giấc và thức dậy được ước tính bằng vòng đeo tay Fitbit Inspire 2. Nghiên cứu do Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc tài trợ.
| Gió tươi cho phòng một người ngủ | CO₂ trung bình (ppm) |
|---|---|
| Khoảng 33 m³/h | 771 ± 89 |
| Khoảng 15 m³/h | 1.021 ± 88 |
| Khoảng 8 m³/h | 1.305 ± 228 |
Theo suy luận của chúng tôi SL, bảng này cho thấy một phòng ngủ cần lưu lượng gió tươi khá lớn cho mỗi người mới giữ được CO₂ dưới 1.000 ppm. Rò lọt của một phòng đóng kín thường không đạt mức đó, như các số đo ACH ở trên cho thấy.
Mở cửa có hai mặt#
Ở ký túc xá Bỉ, mở cửa sổ đi kèm tiếng ồn và PM2.5 cao hơn, còn đóng cửa sổ đi kèm nhiệt độ và độ ẩm cao hơn (Liao và cs., 2021). Ở đô thị nóng, mở cửa kéo theo cả nóng, ồn và bụi. Chương về thực nghiệm thông gió đã trình bày các thử nghiệm mở và đóng cửa sổ, kể cả nghiên cứu mùa hè ở Thượng Hải.
Liên quan với giấc ngủ trong nghiên cứu quan sát#
Ba nghiên cứu quan sát đo CO₂ phòng ngủ cùng với giấc ngủ, và kết quả không thống nhất. Cả ba tóm tắt đều không nêu biến hiệu chỉnh. Giấc ngủ trong cả ba được ước tính bằng thiết bị đeo, với độ tin cậy về giai đoạn ngủ còn hạn chế.
Ở 48 hộ tại Sydney mùa hè, mỗi người được theo dõi 5 đêm liên tiếp. Tỉ lệ ngủ sâu do cảm biến đeo cổ tay ước tính thấp hơn 4,3% ứng với mỗi 100 ppm CO₂ trung bình qua đêm cao hơn (Xiong và cs., 2020). Tóm tắt không rõ 4,3% là điểm phần trăm hay tương đối. Nhiệt độ tác dụng phòng ngủ cao hơn mỗi 1 K đi kèm hiệu quả giấc ngủ giảm 1,036% và tỉ lệ giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) giảm 1,647%.
Ở 104 người khoẻ tại Bắc Kinh, mùa chuyển tiếp, phòng thông gió tự nhiên, mỗi người đo 1 đêm bằng vòng đeo tay Fitbit Alta 2 và bảng hỏi (Zhang và cs., 2021). CO₂ trung bình qua đêm tương quan có ý nghĩa với các chỉ số chất lượng giấc ngủ; tóm tắt không nêu hệ số. Nhiệt độ trung tính ước tính là 23,8 °C khi thức trước ngủ và 26,5 °C trong khi ngủ.
Ở 38 phòng ngủ Đan Mạch, theo một bài hội nghị, các chất được đo gồm CO₂, nitơ dioxide (NO₂), hợp chất hữu cơ bay hơi (volatile organic compounds, VOC), bụi PM10 và PM2.5. Không chất nào tương quan có ý nghĩa với các chỉ số giấc ngủ đo bằng vòng đeo tay (Liao và cs., 2022). Tác giả chỉ ghi CO₂ "có vẻ liên quan với REM theo cách khác". Người tham gia tự đánh giá chất lượng ngủ tốt hơn khi mở cửa sổ hoặc cửa đi.
Các khác biệt có thể đến từ cỡ mẫu, biên độ CO₂, mùa, giai đoạn ngủ từ vòng đeo tay kém tin cậy, và nhiệt độ, tiếng ồn không được hiệu chỉnh. Trong cả ba, CO₂ là chỉ báo của thông gió và đi cùng hành vi đóng mở cửa.
"1.000 ppm" thật ra là gì#
Không phải ngưỡng độc tính#
ASHRAE khẳng định các tiêu chuẩn 62.1 và 62.2 quy định lưu lượng thông gió tối thiểu, không đặt giới hạn CO₂ (ASHRAE, 2023). Theo văn bản này, nhận định 62.1 yêu cầu CO₂ dưới một ngưỡng, thường được nói là 1.000 ppm, là sai. ASHRAE đánh giá bằng chứng về tác động của CO₂ ở mức trong nhà thường gặp là không nhất quán, chưa đủ để đổi tiêu chuẩn.
Với nhà ở, ASHRAE 62.2 (bản 2013, phụ lục m) tính tổng lưu lượng thông gió theo diện tích sàn và số phòng ngủ (ASHRAE, 2015). Công thức là: lưu lượng (L/s) = 0,15 × diện tích sàn (m²) + 3,5 × (số phòng ngủ + 1). Đây là lưu lượng cho cả căn nhà, không quy định riêng cho phòng ngủ; chúng tôi chưa kiểm phiên bản mới nhất.
Cục Môi trường Liên bang Đức (Umweltbundesamt, UBA), qua uỷ ban vệ sinh không khí trong nhà, phân loại CO₂ thành ba mức (UBA, 2008). Dưới 1.000 ppm là "không đáng lo về vệ sinh"; 1.000–2.000 ppm là "đáng chú ý", cần tăng thông gió; trên 2.000 ppm là "không chấp nhận được về vệ sinh". Các giá trị là nồng độ tức thời, và không có mức riêng cho phòng ngủ hay ban đêm.
UBA nói rõ đây là giá trị hướng dẫn về vệ sinh–sức khoẻ để đánh giá chất lượng không khí, không dựa trên độc chất học. Tài liệu này cũng dẫn số đo 800–4.300 ppm trong phòng ngủ căn hộ có cửa sổ kín khít.
Cơ quan An toàn Thực phẩm, Môi trường và Lao động Pháp (ANSES) ghi các giới hạn CO₂ trong quy định thường ở mức 1.000–1.500 ppm (ANSES, 2013). Theo ANSES, các giới hạn này không có ý nghĩa về chất lượng sức khoẻ của không khí, nhưng CO₂ dùng được làm chỉ báo chất lượng không khí. ANSES kết luận dữ liệu dịch tễ hiện có không cho phép đặt một ngưỡng CO₂ bảo vệ sức khoẻ, tiện nghi hay hiệu năng nhận thức.
Mốc thông gió ở các nước#
Tiêu chuẩn châu Âu EN 16798-1, theo tổng quan Sekhar, quy định mức CO₂ thiết kế trên nồng độ ngoài trời theo loại chất lượng. Các mức là 380 ppm (loại I), 550 ppm (loại II), 950 ppm (loại III), và loại IV trên 950 ppm. Tổng thông gió nhà ở, gồm cả rò lọt, tương đương khoảng 0,7; 0,6; 0,5 và 0,4 h⁻¹ cho loại I–IV, với cấp gió 10, 7 và 4 L/s mỗi người cho loại I–III.
Tổng quan đưa một ví dụ: với phòng 10 m², cao 2,5 m, hai người, 4, 7 và 10 L/s mỗi người tương đương khoảng 1,2; 2,0 và 2,9 h⁻¹. So với các số đo ACH trung vị khoảng 0,4 h⁻¹ ở trên, khoảng cách là đáng kể. Chúng tôi chưa đọc được bản gốc EN 16798-1, và bảng của tổng quan không khớp văn bản ở một chỗ chưa giải thích được.
Cơ quan Môi trường Quốc gia Singapore (NEA) khuyến nghị giữ CO₂ dưới 800 ppm trung bình trong thời gian đo, trong bối cảnh COVID-19 (NEA, 2022). Giới hạn trên theo quy phạm SS 554 là không quá 700 ppm trên mức ngoài trời, khoảng 1.100 ppm. Khuyến nghị áp dụng cho không gian kín có điều hoà như cơ sở y tế, dưỡng lão, phòng tập và nhà hàng, không phải nhà ở.
Theo tổng quan Sekhar, tiêu chuẩn Trung Quốc GB/T 18883-2002 yêu cầu gió tươi 30 m³/h mỗi người và CO₂ trong nhà không quá 1.000 ppm. Sổ tay thiết kế quy định 1 h⁻¹ cho phòng ngủ và phòng khách. Bản GB/T 18883-2022 đã thay bản 2002, và chúng tôi chưa đọc được bảng giới hạn của bản mới.
Cũng theo tổng quan này, ở Nhật phòng ở thông gió cơ khí cần 20 m³/h gió ngoài mỗi người, và luật năm 2003 yêu cầu nhà ở có ACH 0,5 h⁻¹. Hàn Quốc yêu cầu 0,7 h⁻¹ cho căn hộ mới, Ấn Độ tối thiểu 3 h⁻¹ cho phòng khách và phòng ngủ.
Việt Nam: TCVN 13521:2022#
Bản dự thảo 11/2021 của tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng không khí trong nhà khuyến nghị CO₂ tối đa 1.000 ppm (Bộ Xây dựng, 2021). Mốc này áp dụng cho cả nhà đóng cửa chạy điều hoà và nhà thông gió tự nhiên, là trị số trung bình 24 giờ với nhà ở. Dự thảo nhiều khả năng là tiền thân của TCVN 13521:2022; mức 1.000 ppm của bản chính thức được các nguồn thứ cấp xác nhận, còn toàn văn chúng tôi chưa đọc được.
Phụ lục của dự thảo dẫn TCVN 5687:2010: gió ngoài cho phòng ngủ nhà ở là 35 m³/h mỗi người, phòng khách 30 m³/h mỗi người. 35 m³/h tương đương khoảng 9,7 L/s. TCVN 5687:2024 đã thay bản 2010, và chúng tôi chưa đọc được giá trị của bản mới.
Một bài báo trên cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương viết rằng việc áp dụng TCVN 13521:2022 chỉ mang tính khuyến nghị, tự nguyện (An An, 2022). Theo bài, trước tiêu chuẩn này Việt Nam chưa có quy chuẩn hay tiêu chuẩn về chất lượng không khí trong nhà. Đây là một bài báo, không phải văn bản chính thức của Bộ.
| Văn bản | Nơi | Mốc | Bản chất |
|---|---|---|---|
| ASHRAE 62.1 và 62.2 TC | Mỹ | Không có giới hạn CO₂; quy định lưu lượng | Tiêu chuẩn thông gió |
| UBA 2008 TC | Đức | Dưới 1.000 / 1.000–2.000 / trên 2.000 ppm | Hướng dẫn vệ sinh, không dựa trên độc chất học |
| ANSES 2013 TC | Pháp | Không đặt được ngưỡng sức khoẻ | Ý kiến chuyên gia |
| EN 16798-1 TC | Châu Âu | Trên ngoài trời 380 / 550 / 950 ppm | Tiêu chuẩn tiện nghi, thông gió |
| NEA, SS 554 TC | Singapore | Dưới 800 ppm; không quá 700 ppm trên ngoài trời | Thông gió, không gian công cộng có điều hoà |
| GB/T 18883-2002 TC | Trung Quốc | Không quá 1.000 ppm; 30 m³/h mỗi người | Tiêu chuẩn, đã có bản 2022 |
| Luật Bồ Đào Nha TC | Bồ Đào Nha | 1.250 ppm | Giá trị giới hạn pháp lý |
| TCVN 13521:2022 TC | Việt Nam | 1.000 ppm | Tự nguyện; mốc tiện nghi, thông gió |
| ASHRAE 1837-RP | Nhóm nghiên cứu | Dưới 1.000 ppm; tốt hơn dưới 800 ppm | Đề xuất, chưa phải tiêu chuẩn |
Mọi mốc trong bảng là mốc thông gió, tiện nghi hay vệ sinh, không phải ngưỡng độc tính. Chúng khác nhau vì phục vụ mục đích khác nhau: mùi và vệ sinh, kiểm soát thông gió, phòng lây nhiễm, hay giấc ngủ. Cách lấy trung bình cũng khác: UBA dùng giá trị tức thời, dự thảo TCVN dùng trung bình 24 giờ.
Riêng cho phòng ngủ, đề xuất duy nhất dựa trên dữ liệu giấc ngủ mà chúng tôi tìm được đến từ nhóm nghiên cứu ASHRAE 1837-RP (Akimoto và cs., 2025). Nhóm cho rằng CO₂ do người ngủ tạo ra tối thiểu nên dưới 1.000 ppm, tốt hơn là dưới 800 ppm. Một bài hội nghị của cùng nhóm đặt mốc dưới 5 L/s mỗi người, tương ứng CO₂ trên 1.150 ppm, là mức sẽ ảnh hưởng giấc ngủ (Fan và cs., 2022).
Theo suy luận của chúng tôi SL, khi máy đo phòng ngủ báo trên 1.000 ppm, điều chắc chắn nhất là phòng được thông gió ít so với số người ngủ. Nó chưa nói được giấc ngủ bị ảnh hưởng bao nhiêu; câu hỏi đó thuộc về các thực nghiệm ở chương trước, vốn còn nhỏ và chưa nhất quán. Cách đo CO₂ trong phòng ngủ cho đúng được bàn ở chương về đo không khí phòng ngủ.
Điều chưa biết#
- Dữ liệu CO₂ phòng ngủ ban đêm ở Việt Nam rất ít: chỉ 2 nghiên cứu nhỏ, không nghiên cứu nào đo đồng thời CO₂ và giấc ngủ.
- Chưa có số liệu ACH đo được của căn hộ Việt Nam đóng kín chạy điều hoà.
- Chưa đọc được bảng giới hạn của GB/T 18883-2022, bản gốc EN 16798-1, ASHRAE 62.2 bản mới nhất, toàn văn TCVN 13521:2022 và TCVN 5687:2024.
- Thiếu số đo tiếng ồn và nhiệt độ khi mở cửa sổ ở đô thị nóng ẩm như Hồng Kông, Thượng Hải, Singapore và Việt Nam.
- Số liệu thực địa CO₂ phòng ngủ ban đêm ở Nhật chưa có con số cụ thể trong các nguồn chúng tôi thu thập.
- Chưa đọc được toàn văn nghiên cứu cắt ngang 38 phòng ngủ Đan Mạch; nhiều số liệu châu Âu và châu Á trong chương chỉ có qua một tổng quan.
Viết tắt trong trang
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- VOC
- hợp chất hữu cơ bay hơi (volatile organic compounds)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phòng ngủ đóng kín ngoài đời: CO₂ và tiêu chuẩn. Trong: Tập 10 — Không khí phòng ngủ: CO₂ và thông gió, bụi mịn, hoá chất trong nhà và cách đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/khong-khi-phong-ngu/phong-ngu-dong-kin-co2-va-tieu-chuan/