Chương này hỏi: bụi mịn, nitơ dioxide (NO₂) và ozone (O₃) trong không khí ngoài trời liên quan với giấc ngủ tới đâu, và các con số ấy được đo bằng gì? Gần như mọi nghiên cứu đều là quan sát, với phơi nhiễm ước tính tại địa chỉ nhà từ trạm quan trắc, vệ tinh hay mô hình, không đo trong phòng ngủ. Theo một tổng quan hệ thống, mối liên quan rõ nhất ở người lớn là với rối loạn hô hấp khi ngủ. Tuy vậy, phân tích gộp duy nhất về ngưng thở chúng tôi đọc được lại không thấy liên quan. Với giấc ngủ tự báo cáo, cỡ hiệu ứng trải từ rất nhỏ tới rất lớn tuỳ thiết kế, và con số lớn nhất cũng là con số khó tin nhất. Cuối chương thuật lại ngưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) năm 2021 và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 05:2023/BTNMT. Đó là ngưỡng sức khoẻ cho không khí ngoài trời, không phải ngưỡng cho giấc ngủ.
Phơi nhiễm ước tính, giấc ngủ đo theo nhiều cách#
Ba chất được bàn nhiều nhất là bụi mịn có đường kính khí động học từ 2,5 µm trở xuống (PM2.5), bụi có đường kính từ 10 µm trở xuống (PM10) và NO₂. NO₂ là chất khí chủ yếu sinh ra từ đốt nhiên liệu. Ozone ít được nghiên cứu hơn. Khác với các thực nghiệm thông gió, nơi CO₂ được đo ngay trong phòng ngủ, nghiên cứu ô nhiễm ngoài trời hầu như không đo không khí người ngủ hít vào.
Phơi nhiễm thường được gán cho địa chỉ nhà. Số liệu lấy từ trạm quan trắc gần nhất, mô hình không–thời gian kết hợp trạm và vệ tinh, hoặc một trung bình chung cho cả thành phố. Con số thu được là nồng độ ngoài trời trung bình nhiều ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm. Phần bụi thật sự lọt vào phòng ngủ ban đêm phụ thuộc vỏ nhà và thói quen đóng mở cửa, là chủ đề của chương về bụi vào phòng ngủ và khói trong nhà.
Phía giấc ngủ, các nghiên cứu trong chương dùng bốn loại thước đo. Đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) ghi điện não, nhịp thở và độ bão hoà oxy, là chuẩn để chẩn đoán ngưng thở. Actigraphy, phép ước tính ngủ và thức từ cử động cổ tay, cho hiệu quả giấc ngủ nhưng không cho giai đoạn ngủ. Vòng đeo tay tiêu dùng ước tính cả "ngủ sâu" bằng thuật toán thương mại. Phần lớn còn lại dùng bảng hỏi tự báo cáo như Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI).
Đa số nghiên cứu là cắt ngang; một số là thuần tập theo dõi nhiều đợt. Chúng tôi không tìm được thực nghiệm nào thay đổi ô nhiễm ngoài trời rồi đo giấc ngủ. Mọi kết quả dưới đây vì vậy là liên quan, không phải nhân quả.
Phần lớn kết quả được báo bằng tỉ số chênh (odds ratio, OR) kèm khoảng tin cậy 95% (KTC 95%). OR 1,39 nghĩa là số chênh (odds) có kết cục cao hơn khoảng 39% ở mức phơi nhiễm cao hơn; khi kết cục không hiếm, con số này lớn hơn mức tăng của xác suất. Khi KTC chứa 1, kết quả không có ý nghĩa thống kê ở mức thông thường. Đơn vị tăng phơi nhiễm cũng khác nhau giữa các bài: mỗi 10 µg/m³, mỗi 5 µg/m³, hoặc mỗi khoảng tứ phân vị (interquartile range, IQR) của chính mẫu nghiên cứu. Hai OR có đơn vị tăng khác nhau không so trực tiếp được.
Ô nhiễm ngoài trời thường đi cùng tiếng ồn giao thông và nhiệt độ cao. Một nghiên cứu không hiệu chỉnh hai yếu tố này khó tách phần riêng của ô nhiễm. Ở những nghiên cứu mà tóm tắt hay bài có nêu, chúng tôi ghi rõ việc hiệu chỉnh tiếng ồn và nhiệt độ có được báo hay không.
Ngưng thở khi ngủ: tín hiệu rõ nhất và mâu thuẫn lớn nhất#
Một tổng quan hệ thống gồm 22 bài công bố trong 2010–2019, ở châu Á, Bắc Mỹ và châu Âu (Liu và cs., 2020). Có 21 trong 22 nghiên cứu thấy phơi nhiễm ô nhiễm đi kèm giấc ngủ kém hơn. Đo phơi nhiễm và kết cục khác nhau tới mức tác giả không phân tích gộp được. Theo tổng quan này, ở người lớn, mối liên quan rõ nhất là với rối loạn hô hấp khi ngủ (sleep-disordered breathing). Tác giả cũng lưu ý phần lớn nghiên cứu dùng thước đo chủ quan và cơ chế sinh học còn chưa rõ.
NO₂ dài hạn và ngưng thở trên đa ký giấc ngủ#
Nghiên cứu Đa sắc tộc về Xơ vữa động mạch (Multi-Ethnic Study of Atherosclerosis, MESA) cho dữ liệu PSG lớn trong nhóm này (Billings và cs., 2019). 1.974 người lớn ở 6 thành phố Hoa Kỳ làm PSG tại nhà và đeo actigraphy cổ tay 7 ngày. NO₂ và PM2.5 được ước tính tại địa chỉ nhà bằng mô hình không–thời gian dựa trên mạng quan trắc riêng của thuần tập. Ngưng thở được định nghĩa là chỉ số ngưng–giảm thở (apnea–hypopnea index, AHI) ≥ 15. Đây là phân tích cắt ngang trong một thuần tập.
NO₂ trung bình năm cao hơn 10 phần tỉ theo thể tích (parts per billion, ppb) đi kèm số chênh ngưng thở cao hơn 39% sau hiệu chỉnh (OR 1,39; KTC 95% 1,03–1,87). PM2.5 trung bình năm cao hơn 5 µg/m³ đi kèm OR 1,60, nhưng KTC 95% 0,98–2,62 chứa 1. Mô hình hiệu chỉnh nhân khẩu học, bệnh kèm, yếu tố kinh tế–xã hội và địa điểm. Tóm tắt không nêu hiệu chỉnh tiếng ồn hay nhiệt độ; chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.
Cùng nghiên cứu cho một kết quả âm tính đáng chú ý. Hiệu quả giấc ngủ (sleep efficiency) đo bằng actigraphy không liên quan với mức ô nhiễm sau khi hiệu chỉnh đầy đủ, dù dùng trung bình 1 năm hay 5 năm. NO₂ vì vậy đi kèm ngưng thở trên PSG nhưng không đi kèm giấc ngủ đứt quãng hơn trên actigraphy trong cùng một mẫu.
Bụi ngắn hạn, mùa hè và nhiệt độ#
Nghiên cứu Sức khoẻ Tim và Giấc ngủ (Sleep Heart Health Study, SHHS), một nghiên cứu đa trung tâm về giấc ngủ và tim mạch ở Hoa Kỳ, đi theo hướng khác (Zanobetti và cs., 2010). Phân tích dùng 3.030 người lớn trong số 6.441 người của SHHS, tuổi trung bình 63, ở 7 vùng đô thị. Mỗi người làm PSG tại nhà một đêm. PM10 lấy từ trạm quan trắc, được tách thành trung bình trượt 365 ngày (dài hạn) và độ lệch hằng ngày (ngắn hạn).
Vào mùa hè, PM10 ngắn hạn cao hơn một IQR, tức 14,5 µg/m³, đi kèm chỉ số rối loạn hô hấp (respiratory disturbance index, RDI) cao hơn 12,9% (KTC 95% 2,77–24,09). Cùng mức tăng đi kèm hiệu quả giấc ngủ trên PSG thấp hơn 1,20% (KTC 95% −2,40 đến −0,004). Cận trên của khoảng tin cậy sát 0. Liên quan chỉ thấy rõ vào mùa hè.
Nhiệt độ được mô hình hoá song song. Nhiệt độ cao hơn một IQR (chênh 25,5 °F) đi kèm RDI cao hơn 11,5% (KTC 95% 1,96–22,01) ở mọi mùa. Theo suy luận của chúng tôi SL, điều này nhắc rằng bụi mùa hè và nóng mùa hè khó tách bạch, nhất là ở các nghiên cứu không mô hình hoá nhiệt độ.
Phân tích gộp không thấy liên quan#
Một phân tích gộp năm 2024 về ô nhiễm không khí và ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea, OSA) cho kết quả khác (Alrahbeni và cs., 2024). Tổng quan tìm được 12 nghiên cứu nhưng chỉ gộp được 4. OR gộp với PM2.5 là 0,987 (KTC 95% 0,836–1,138), với NO₂ là 1,095 (KTC 95% 0,920–1,270). Cả hai khoảng tin cậy đều chứa 1. Tóm tắt không báo độ dị biệt giữa các nghiên cứu.
Chính tác giả vẫn viết rằng nhiều nghiên cứu riêng lẻ thấy AHI cao hơn khi ô nhiễm cao hơn. Mâu thuẫn giữa MESA, SHHS và phân tích gộp này có ít nhất ba lý do khả dĩ. Chỉ 4 nghiên cứu được gộp nên sức mạnh thống kê thấp. Định nghĩa phơi nhiễm khác nhau: MESA dùng trung bình năm, SHHS dùng độ lệch ngắn hạn và chỉ thấy liên quan vào mùa hè. Cách đo và ngưỡng chẩn đoán OSA cũng khác nhau giữa các nghiên cứu.
| Nghiên cứu | Thiết kế, cỡ mẫu | Phơi nhiễm | Đo giấc ngủ | Kết quả |
|---|---|---|---|---|
| MESA (Hoa Kỳ) | Cắt ngang trong thuần tập, n = 1.974 | Mô hình tại nhà, trung bình năm | PSG tại nhà | NO₂ +10 ppb: OR 1,39 (1,03–1,87); PM2.5 +5 µg/m³: OR 1,60 (0,98–2,62) |
| MESA (Hoa Kỳ) | Như trên | Trung bình 1 và 5 năm | Actigraphy 7 ngày | Hiệu quả giấc ngủ: không liên quan |
| SHHS (Hoa Kỳ) | n = 3.030, 7 vùng đô thị | Trạm, PM10 ngắn hạn | PSG tại nhà một đêm | Mùa hè, +14,5 µg/m³: RDI +12,9%; hiệu quả giấc ngủ −1,20% |
| SHHS, nhiệt độ | Như trên | Nhiệt độ +25,5 °F | PSG | RDI +11,5% ở mọi mùa |
| Phân tích gộp 2024 | 12 nghiên cứu, 4 gộp | Khác nhau | Khác nhau | PM2.5 OR 0,987; NO₂ OR 1,095, cả hai KTC chứa 1 |
Rối loạn giấc ngủ tự báo cáo: cỡ hiệu ứng phụ thuộc thiết kế#
Phân tích gộp với độ dị biệt gần tuyệt đối#
Một phân tích gộp 10 nghiên cứu công bố trong 2018–2023 gồm 7 thuần tập, 2 cắt ngang và 1 bệnh–chứng (Zhao và cs., 2024). Kết cục được gộp chung dưới tên "rối loạn giấc ngủ". Nó gồm mất ngủ, chất lượng giấc ngủ kém, buồn ngủ ban ngày và kéo dài thời gian vào giấc, đo bằng các công cụ khác nhau. Bài không báo tổng số người tham gia.
Mỗi 10 µg/m³ PM2.5 đi kèm OR 2,50 (KTC 95% 1,87–3,32). Độ dị biệt I² là 99,2%. I² cho biết bao nhiêu phần trăm độ khác nhau giữa các nghiên cứu không giải thích được bằng ngẫu nhiên. Ở mức 99,2%, con số gộp gần như không diễn giải được như một hiệu ứng chung. PM10 cho OR 1,15 (1,06–1,24; I² 96,5%) và NO₂ cho OR 1,36 (1,17–1,59; I² 95,3%), cùng tính mỗi 10 µg/m³. Ozone không gộp được vì thiếu nghiên cứu. Chính tác giả nhận rằng phương pháp đo giấc ngủ giữa các nghiên cứu gộp rất khác nhau.
UK Biobank: OR lớn nhất, cũng khó tin nhất#
Trong UK Biobank, một nghiên cứu dùng thiết kế bệnh–chứng, dù tác giả gọi là cắt ngang (Li và cs., 2020). Mẫu gồm 5.976 ca và 97.160 chứng ở Vương quốc Anh. Mỗi 10 µg/m³ PM2.5 đi kèm OR rối loạn giấc ngủ 2,39 (1,64–3,48) trong mô hình một chất. Khi đưa bốn chất ô nhiễm vào cùng mô hình, OR tăng lên 4,42 (2,36–8,26).
Tóm tắt không nêu định nghĩa rối loạn giấc ngủ, cũng không nêu cách ước tính bụi, chỉ ghi dữ liệu bụi lấy từ UK Biobank. OR phình to khi thêm chất là dấu hiệu đa cộng tuyến: các chất ô nhiễm biến thiên cùng nhau nên mô hình khó tách phần của từng chất. Nồng độ PM2.5 ở Anh lại dao động hẹp. Vì vậy, một OR tính "mỗi 10 µg/m³" là phép ngoại suy vượt khoảng dữ liệu thực có.
Thuần tập và khảo sát lớn ở Trung Quốc#
Trên dữ liệu nền của thuần tập nông thôn Hà Nam, Trung Quốc (phân tích cắt ngang), phơi nhiễm 3 năm được ước tính bằng mô hình dựa trên vệ tinh tại nơi ở (Chen và cs., 2019). Giấc ngủ đo bằng PSQI, với chất lượng kém định nghĩa là PSQI > 5. Mỗi IQR tăng của PM2.5, PM10 và NO₂ đi kèm OR 1,15 (1,03–1,29); 1,11 (1,02–1,21) và 1,14 (1,03–1,25). IQR ở đây rất hẹp: 3,3; 8,8 và 4,8 µg/m³. Tóm tắt đọc được không nêu cỡ mẫu.
Ở trẻ em, ba khảo sát cắt ngang lớn dùng thang Rối loạn Giấc ngủ ở Trẻ em (Sleep Disturbance Scale for Children, SDSC) do cha mẹ điền. Ở 177.263 trẻ 6–18 tuổi tại 14 thành phố, PM2.5 cao hơn 10 µg/m³ đi kèm OR 1,24 (KTC 95% 1,14–1,35) (Gui và cs., 2024a). Phơi nhiễm lấy từ mô hình không–thời gian dựa trên vệ tinh.
Ở 185.428 trẻ thuộc 173 trường, ozone dài hạn tại nhà và trường cao hơn một IQR đi kèm OR 1,22 (KTC 95% 1,18–1,26) (Gui và cs., 2024b). Tóm tắt không nêu độ rộng IQR của ozone.
Nghiên cứu thứ ba gồm 59.754 trẻ 2–17 tuổi tại 7 thành phố Đông Bắc Trung Quốc. Ở đây, bụi có đường kính từ 1 µm trở xuống (PM1), tính trung bình 4 năm, đi kèm OR 1,55 (1,36–1,76) ở trẻ nam và 1,50 (1,30–1,72) ở trẻ nữ (Lawrence và cs., 2018). Tóm tắt không nêu đơn vị tăng phơi nhiễm, nên con số này không đặt cạnh các OR khác được.
Đông Nam Á#
Bằng chứng Đông Nam Á rất mỏng. Ở 406 sinh viên 18–25 tuổi tại hai trường đại học ở Chiang Mai, Thái Lan, cùng nhóm người được khảo sát ở mùa ít bụi và mùa đốt nương (Pisithkul và cs., 2024). PM2.5 lấy từ trạm quan trắc gần nhất, cách dưới 5 km. Trung bình 24 giờ mùa cao là 131,38 và 102,34 µg/m³ ở hai trường, so với 10,35 và 11,34 µg/m³ mùa thấp.
Giấc ngủ chỉ là một miền trong bảng hỏi chất lượng sống Rcq-36, chấm 0–4, không phải thang giấc ngủ chuyên biệt. Điểm khó ngủ tăng nhẹ: từ 0,38 lên 0,55 ở một trường (p < 0,001) và từ 0,90 lên 1,05 ở trường kia (p = 0,001). Nghiên cứu không có nhóm chứng. Hai mùa cũng khác nhau về thời tiết và lịch học.
Vì sao OR trải từ 1,11 tới 4,42#
| Nghiên cứu | Quần thể | Đơn vị tăng | Thước đo giấc ngủ | OR (KTC 95%) |
|---|---|---|---|---|
| Phân tích gộp 2023 | 10 nghiên cứu | 10 µg/m³ PM2.5 | Nhiều công cụ, gộp chung | 2,50 (1,87–3,32); I² 99,2% |
| UK Biobank | 5.976 ca, 97.160 chứng | 10 µg/m³ PM2.5 | Không nêu trong tóm tắt | 2,39 (1,64–3,48); bốn chất 4,42 (2,36–8,26) |
| Hà Nam, nông thôn | Thuần tập nông thôn, cỡ mẫu không nêu | IQR 3,3 µg/m³ PM2.5 | PSQI > 5 | 1,15 (1,03–1,29) |
| Trẻ em, 14 thành phố | 177.263 trẻ | 10 µg/m³ PM2.5 | SDSC, cha mẹ điền | 1,24 (1,14–1,35) |
| Trẻ em, ozone | 185.428 trẻ | IQR O₃, không nêu | SDSC, cha mẹ điền | 1,22 (1,18–1,26) |
Năm nghiên cứu trên cùng nói ô nhiễm cao hơn đi kèm giấc ngủ kém hơn, phần lớn đo bằng tự báo cáo hoặc do cha mẹ điền. Chúng chỉ khác nhau ở độ lớn. Theo suy luận của chúng tôi SL, độ lớn ấy phụ thuộc thiết kế nhiều hơn phụ thuộc chất ô nhiễm. Các lý do khả dĩ, một phần do chính các bài nêu, một phần là nhận định của chúng tôi SL, gồm năm điểm.
- Phân tích gộp trộn nhiều kết cục khác nhau, nên I² gần 100%.
- Đa cộng tuyến làm OR phình khi thêm chất ô nhiễm vào cùng mô hình.
- Ở nơi nồng độ dao động hẹp như Anh, "mỗi 10 µg/m³" là ngoại suy.
- Thước đo giấc ngủ chủ yếu là tự báo cáo, có khi do cha mẹ điền.
- Thu nhập, tiếng ồn và nhiệt độ hiếm khi được hiệu chỉnh, nên còn nhiễu dư.
Theo suy luận của chúng tôi SL, các OR chỉ hơi trên 1 từ những mẫu rất lớn có đơn vị rõ ràng đáng tin hơn các OR trên 2. Một OR trên 2 cho mỗi 10 µg/m³ phơi nhiễm ngoài trời dài hạn là hiệu ứng rất lớn. Các thiết kế tạo ra những con số ấy lại có đúng các điểm yếu kể trên.
Thời lượng, hiệu quả và cấu trúc giấc ngủ#
Ngủ ngắn hơn khi tự báo cáo#
Trong UK Biobank, khoảng 457.358 người tự báo cáo thời lượng ngủ (Li và cs., 2020). Mỗi 10 µg/m³ PM2.5 đi kèm thời lượng ngủ ngắn hơn khoảng 0,14 giờ, tức khoảng 8 phút. Với PM10, mức chênh là 0,12 giờ. Thiết kế chỉ cho phép nói liên quan.
Nghiên cứu theo dõi dọc về sức khoẻ và hưu trí Trung Quốc (China Health and Retirement Longitudinal Study, CHARLS) gồm người từ 45 tuổi (Hu và cs., 2026). Phân tích dùng 4 đợt khảo sát 2011–2018, với 19.505 người và 35.832 quan sát. Phơi nhiễm được gán ở cấp thành phố từ bộ dữ liệu ô nhiễm Trung Quốc độ phân giải 10 km.
PM2.5 trung bình 6 tháng tăng một IQR đi kèm số giờ ngủ đêm tự báo cáo ít hơn 0,07 giờ, khoảng 4 phút. Nhóm tứ phân vị phơi nhiễm dài hạn cao nhất (Q4) ngủ trưa dài hơn 0,31 giờ so với nhóm thấp nhất (Q1) (KTC 95% 0,27–0,34). Mức chênh giờ ngủ đêm rất nhỏ. Phơi nhiễm gán theo thành phố nên có thể bị nhiễu bởi khác biệt vùng miền.
Ngủ dài hơn khi vòng đeo tay đo#
Một nghiên cứu dùng 1.245.817 đêm của 7.682 người đeo vòng tay tiêu dùng ở Trung Quốc, giai đoạn 2017–2019 (Zhou và cs., 2023). Người dùng có 74,1% là nam, tuổi trung bình 47,7. Phơi nhiễm lấy từ trạm quan trắc nhà nước, gán theo thành phố cư trú. Giấc ngủ do thuật toán của vòng đeo ước tính.
Kết quả ngược chiều với các nghiên cứu tự báo cáo. NO₂ cao hơn một IQR (10,3 µg/m³) đi kèm tổng thời gian ngủ (total sleep time, TST) dài hơn 8,7 phút (KTC 95% 8,08–9,32). Ô nhiễm cao hơn cũng đi kèm ngủ nông dài hơn và ngủ sâu ngắn hơn; với carbon monoxide (CO), ngủ sâu ngắn hơn 5,0 phút mỗi IQR.
Tác giả nói rõ thiết bị chưa được đối chiếu với PSG hay actigraphy y khoa. Các phân đoạn "ngủ sâu" và "ngủ nông" vì vậy là ước tính của thuật toán thương mại, không phải giai đoạn ngủ theo điện não. Nghiên cứu không hiệu chỉnh nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn hay ánh sáng; mùa được dùng thay cho nhiệt độ.
Mâu thuẫn "ngủ ngắn hơn hay dài hơn" vì vậy có nhiều lời giải. Thiết bị chưa kiểm định, phơi nhiễm gán theo thành phố, thiếu hiệu chỉnh và mẫu người dùng không đại diện đều có thể góp phần. Theo chúng tôi SL, không bên nào đủ mạnh để kết luận chiều của mối liên quan với thời lượng ngủ.
Hiệu quả giấc ngủ đo khách quan#
Ba nghiên cứu đo hiệu quả giấc ngủ bằng thiết bị cho ba kết quả khác nhau. MESA không thấy liên quan trên actigraphy với phơi nhiễm dài hạn ước tính tại địa chỉ nhà. SHHS thấy hiệu quả giấc ngủ thấp hơn 1,20% trên PSG với bụi ngắn hạn, chỉ vào mùa hè.
Nghiên cứu thứ ba là nghiên cứu duy nhất trong chương đo bụi ngay trong phòng ngủ (Basner và cs., 2023). 62 người lớn ở Hoa Kỳ được theo dõi 2 tuần bằng actigraphy và nhật ký ngủ. PM2.5, CO₂, nhiệt độ, độ ẩm và tiếng ồn được đo trong phòng ngủ; hiệu quả giấc ngủ được tính theo từng giờ. So nhóm 20% số giờ có PM2.5 cao nhất với nhóm 20% thấp nhất, hiệu quả giấc ngủ thấp hơn 3,2%.
Các yếu tố khác cho mức chênh tương tự: CO₂ 4,0%, tiếng ồn 4,7%, nhiệt độ 3,4%. Độ ẩm không liên quan với hiệu quả giấc ngủ, chỉ liên quan với buồn ngủ và chất lượng ngủ chủ quan. PM2.5 trong phòng đi cùng CO₂, nhiệt độ và tiếng ồn, nên phần riêng của bụi khó tách. Tóm tắt không nêu thiết bị đo bụi, thành phố hay nguồn tài trợ.
Theo suy luận của chúng tôi SL, phơi nhiễm đo trong phòng theo giờ có thể bắt được hiệu ứng tức thời mà mô hình ngoài trời dài hạn bỏ lỡ. Nhưng nghiên cứu ấy chỉ có 62 người, và một mối liên quan theo giờ chưa phải bằng chứng nhân quả.
Cấu trúc giai đoạn ngủ#
Một nghiên cứu cắt ngang gồm 8.611 bệnh nhân của một trung tâm giấc ngủ tại Đài Bắc. PM2.5, độ ẩm tương đối và nhiệt độ ngắn hạn đều đi kèm thay đổi cấu trúc giai đoạn ngủ. Cấu trúc này gồm các giai đoạn giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) và không cử động mắt nhanh (non-REM, NREM) (Nguyen và cs., 2025). Phơi nhiễm cá nhân được ước tính cho 1, 7 và 30 ngày, nhưng tóm tắt không nêu nguồn hay mô hình. Tóm tắt cũng không ghi rõ giấc ngủ đo bằng PSG và không nêu hệ số. Quần thể là bệnh nhân trung tâm giấc ngủ, không đại diện dân số chung. Nhóm tác giả có người Việt Nam.
| Nghiên cứu | Phơi nhiễm đo ở đâu | Đo giấc ngủ | Kết quả chính |
|---|---|---|---|
| UK Biobank, khoảng 457.358 người | Không nêu trong tóm tắt | Tự báo cáo | −0,14 giờ mỗi 10 µg/m³ PM2.5 |
| CHARLS, 19.505 người | Cấp thành phố, 10 km | Tự báo cáo | −0,07 giờ mỗi IQR; ngủ trưa +0,31 giờ (Q4 so với Q1) |
| Vòng đeo tay, 7.682 người | Trạm, theo thành phố | Thuật toán vòng đeo | TST +8,7 phút mỗi IQR NO₂ |
| MESA, 1.974 người | Mô hình tại nhà | Actigraphy | Hiệu quả giấc ngủ: không liên quan |
| SHHS, 3.030 người | Trạm, ngắn hạn | PSG | Hiệu quả giấc ngủ −1,20% mùa hè |
| Basner 2023, 62 người | Cảm biến trong phòng ngủ | Actigraphy, nhật ký | Hiệu quả giấc ngủ −3,2% (giờ PM2.5 cao nhất so với thấp nhất) |
| Đài Bắc, 8.611 bệnh nhân | Ước tính cá nhân, nguồn không nêu | Giai đoạn NREM/REM | Có thay đổi, hệ số không nêu |
Ngưỡng ngoài trời: WHO 2021, QCVN 05:2023 và VN_AQI#
Phần này thuật lại các ngưỡng chính thức đúng như văn bản. Đây là ngưỡng sức khoẻ cho không khí ngoài trời. Theo suy luận của chúng tôi SL, không ngưỡng nào trong số này được xây dựng từ các nghiên cứu giấc ngủ kể trên.
TC Hướng dẫn chất lượng không khí WHO 2021 hạ mức PM2.5 trung bình năm từ 10 xuống 5 µg/m³, và mức trung bình 24 giờ từ 25 xuống 15 µg/m³ (WHO, 2021a). Mức PM10 là 15 µg/m³ trung bình năm và 45 µg/m³ trung bình 24 giờ, so với 20 và 50 của bản 2005. Mức NO₂ trung bình năm hạ từ 40 xuống 10 µg/m³, và lần đầu có mức 24 giờ là 25 µg/m³. Ozone có mức mùa cao điểm 60 µg/m³, tính bằng trung bình của cực đại 8 giờ hằng ngày trong 6 tháng liên tiếp cao nhất. Mức 8 giờ của ozone giữ nguyên 100 µg/m³.
TC WHO cũng đặt các mục tiêu trung gian (interim target) cho nơi chưa đạt mức hướng dẫn (WHO, 2021b). Với PM2.5 trung bình năm, bốn mục tiêu là 35, 25, 15 và 10 µg/m³. Với trung bình 24 giờ, bốn mục tiêu là 75, 50, 37,5 và 25 µg/m³. Các mức 24 giờ được định nghĩa ở phân vị 99, tức cho phép 3–4 ngày vượt mỗi năm. Theo tờ thông tin của WHO, năm 2019 có 99% dân số thế giới sống ở nơi không đạt mức hướng dẫn. Cũng theo WHO, ô nhiễm ngoài trời gắn với 4,2 triệu ca tử vong sớm năm 2019 (WHO, 2024).
TC Ở Việt Nam, QCVN 05:2023/BTNMT ban hành kèm Thông tư 01/2023/TT-BTNMT ngày 13/3/2023, hiệu lực từ 12/9/2023 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2023). Quy chuẩn đặt PM2.5 trung bình năm 25 µg/m³ và trung bình 24 giờ 50 µg/m³. Một giá trị 45 µg/m³ có đánh dấu (*) áp dụng từ 01/01/2026. Theo suy luận của chúng tôi SL, đó là mức 24 giờ được siết lại. Tuy vậy, bản PDF chúng tôi đọc bị lẫn cột ở hàng này, nên cần đối chiếu bản Công báo.
Cũng theo quy chuẩn, PM10 có mức 24 giờ 100 và mức năm 50 µg/m³. NO₂ có mức 1 giờ 200, 24 giờ 100 và năm 40 µg/m³. O₃ có mức 1 giờ 200 và 8 giờ 120 µg/m³. Các giá trị tính ở điều kiện chuẩn 25 °C, 760 mmHg.
| Chất, thời gian trung bình | WHO 2005 | WHO 2021 | QCVN 05:2023 |
|---|---|---|---|
| PM2.5, năm | 10 | 5 | 25 |
| PM2.5, 24 giờ | 25 | 15 | 50 (45 từ 01/01/2026, cần đối chiếu) |
| PM10, năm | 20 | 15 | 50 |
| PM10, 24 giờ | 50 | 45 | 100 |
| NO₂, năm | 40 | 10 | 40 |
| NO₂, 24 giờ | không có | 25 | 100 |
| O₃, 8 giờ | 100 | 100 | 120 |
Đơn vị µg/m³. Nguồn: tài liệu báo chí chính thức của WHO 2021 và QCVN 05:2023/BTNMT.
Hình 1. Ngưỡng bụi mịn 24 giờ: WHO, QCVN và số đo trong nhà ở Hà Nội
- Mức hướng dẫn 24 giờ của WHO 2021 là 15 µg/m³; các mục tiêu trung gian là 75, 50, 37,5 và 25. QCVN 05:2023/BTNMT đặt 50, và có thể là 45 từ 01/01/2026 (bản PDF trích xuất lẫn cột, cần đối chiếu Công báo); mức "Tốt" của VN_AQI ứng với tới 25 µg/m³.
- Ở 4 nhà thông gió tự nhiên tại trung tâm Hà Nội, PM2.5 trong nhà trung bình 24 giờ mùa đông là 42,0–105,9 µg/m³.
Biểu đồ số liệu; dải cuối là khoảng giữa các nhà, không phải một nhà.
Mức PM2.5 năm của quy chuẩn Việt Nam gấp 5 lần mức hướng dẫn WHO 2021. Mức NO₂ năm gấp 4 lần. Theo suy luận của chúng tôi SL, mức PM2.5 năm 25 µg/m³ trùng với mục tiêu trung gian thứ hai của WHO. Mức 24 giờ 50 µg/m³ cũng trùng mục tiêu trung gian thứ hai.
TC Chỉ số chất lượng không khí (air quality index, AQI) của Việt Nam, gọi là VN_AQI, chia 6 mức. Các mức là 0–50 Tốt (xanh), 51–100 Trung bình (vàng), 101–150 Kém (da cam), 151–200 Xấu (đỏ), 201–300 Rất xấu (tím) và 301–500 Nguy hại (nâu) (Tổng cục Môi trường, 2019). Với PM2.5 trung bình 24 giờ, AQI 50 ứng với 25 µg/m³, AQI 100 ứng với 50, AQI 150 ứng với 80, AQI 200 ứng với 150 và AQI 300 ứng với 250 µg/m³. Văn bản kèm khuyến nghị cho nhóm nhạy cảm ở mức Kém và mức Xấu.
AQI theo giờ của Việt Nam dùng giá trị Nowcast, tức trung bình có trọng số của 12 giá trị 1 giờ gần nhất. AQI theo ngày dùng trung bình 24 giờ. Theo suy luận của chúng tôi SL, con số AQI giờ hiển thị lúc đi ngủ vì vậy phản ánh cả nhiều giờ trước đó, không chỉ không khí lúc ấy. Nó cũng là số ngoài trời, không phải số trong phòng ngủ. Chỉ số bụi mịn và cách đọc nó có ở trang PM2.5.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu ô nhiễm không khí và giấc ngủ nào thực hiện ở Việt Nam. Bằng chứng Đông Nam Á chỉ có khảo sát sinh viên Chiang Mai, dùng thang chất lượng sống. Gần nhất về địa lý là nghiên cứu Đài Bắc có tác giả Việt Nam.
- Rất ít nghiên cứu hiệu chỉnh tiếng ồn giao thông. Nghiên cứu vòng đeo tay ghi rõ không hiệu chỉnh tiếng ồn, nhiệt độ, ánh sáng; tóm tắt MESA không nêu tiếng ồn.
- Chúng tôi chưa tìm được thực nghiệm nào thay đổi phơi nhiễm ô nhiễm ngoài trời rồi đo giấc ngủ bằng PSG. Mọi kết quả trong chương là quan sát.
- Chúng tôi không đọc được toàn văn bài MESA và bài đo bụi trong phòng ngủ ở Hoa Kỳ; nhiều số liệu trong chương chỉ lấy từ tóm tắt.
- Ngoài một câu kết quả âm tính trong tóm tắt, chúng tôi chưa tìm được bài riêng của MESA về ô nhiễm và hiệu quả giấc ngủ đo bằng actigraphy.
- Bảng giới hạn PM2.5 của QCVN 05:2023/BTNMT trích từ bản PDF bị lẫn cột. Cần đối chiếu bản Công báo để khẳng định 45 µg/m³ là mức 24 giờ từ 01/01/2026.
Viết tắt trong trang
- AHI
- chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- NREM
- giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- OSA
- ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RDI
- chỉ số rối loạn hô hấp (respiratory disturbance index)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- TST
- tổng thời gian ngủ (total sleep time)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Ô nhiễm ngoài trời và giấc ngủ: cỡ hiệu ứng và ngưỡng. Trong: Tập 10 — Không khí phòng ngủ: CO₂ và thông gió, bụi mịn, hoá chất trong nhà và cách đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/khong-khi-phong-ngu/o-nhiem-ngoai-troi-va-giac-ngu/