giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Bụi vào phòng ngủ và khói từ nguồn trong nhà

Chương 4 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 19 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi hai câu: bao nhiêu bụi mịn ngoài trời lọt vào phòng ngủ ban đêm, và các nguồn đốt trong nhà như nhang, nhang muỗi, bếp và khói thuốc thêm vào bao nhiêu? Kết luận chính là vỏ nhà chặn được rất ít hạt mịn. Ở 4 nhà Hà Nội đóng cửa khi lấy mẫu, tỉ lệ trong nhà/ngoài trời của dải bụi 1–2,5 µm vẫn khoảng 0,7–0,8. Ở nơi ngoài trời sạch như Đan Mạch, đóng hay mở cửa thay đổi CO₂ rõ rệt nhưng thay đổi bụi rất ít. Nguồn đốt trong nhà có thể phát rất nhiều bụi: trong thí nghiệm buồng, một khoanh nhang muỗi phát lượng bụi mịn tương đương 75–137 điếu thuốc lá. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào đo giấc ngủ khi đốt nhang hay nhang muỗi trong phòng ngủ.

Ba đại lượng mô tả bụi đi vào nhà#

Chương về ô nhiễm ngoài trời cho thấy phần lớn nghiên cứu giấc ngủ dùng nồng độ ngoài trời tại địa chỉ nhà. Người ngủ lại hít không khí trong phòng. Khoảng cách giữa hai con số này được mô tả bằng ba đại lượng.

Tỉ lệ trong nhà/ngoài trời (indoor/outdoor ratio, I/O) là nồng độ trong nhà chia cho nồng độ ngoài trời cùng lúc. Một tổng quan các nghiên cứu đo thực địa nhà ở thấy tỉ lệ I/O của hạt bụi dao động cực rộng, 0,02–31, tuỳ điều kiện đo (Chen và Zhao, 2011). I/O lớn hơn 1 thường do có nguồn trong nhà như hút thuốc hay nấu ăn. Theo tổng quan này, các tỉ lệ I/O rất lớn chủ yếu do có hút thuốc trong nhà.

Hệ số thâm nhập (penetration factor) là phần hạt đi qua khe hở của vỏ nhà mà không bị giữ lại. Với hạt lớn hơn khoảng 0,05 µm, hệ số này thường là 0,6–1,0. Nói cách khác, vỏ nhà chặn được rất ít hạt mịn đi qua khe hở.

Hệ số thấm (infiltration factor, F_inf) là phần bụi ngoài trời thật sự xuất hiện trong nhà, sau khi tính cả lượng hạt lắng xuống bề mặt. Với bụi mịn đường kính từ 2,5 µm trở xuống (PM2.5), hệ số thấm đo được 0,3–0,82 giữa các nghiên cứu. Tỉ lệ I/O gộp cả bụi ngoài trời lọt vào lẫn bụi sinh ra trong nhà. Hệ số thấm chỉ tính phần từ ngoài vào.

Ở một nghiên cứu, hệ số thấm khác nhau theo mùa. Nghiên cứu PEACE đo bụi ở nhà người cao tuổi tại Thiên Tân, Trung Quốc. Phần bụi PM10 (đường kính từ 10 µm trở xuống) có nguồn gốc ngoài trời được tách bằng thành phần hoá học (Xu và cs., 2014). Hệ số thấm mùa hè là 0,74 ± 0,31 (trung vị 0,98), so với 0,44 ± 0,22 (trung vị 0,48) mùa đông. Đây là PM10, không phải PM2.5. Tóm tắt không nêu cỡ mẫu, và nghiên cứu không đo kết cục sức khoẻ.

Đóng cửa và mở cửa: bụi khác CO₂#

Tổng quan và một mâu thuẫn ngay trong tổng quan#

Tổng quan của Chen và Zhao ghi rằng tỉ lệ I/O khi mở cửa sổ cao hơn khi đóng. Cùng đoạn ấy, tổng quan nêu một nghiên cứu năm 2008 báo kết quả ngược lại. Tổng quan không cho hệ số thấm riêng theo trạng thái cửa, và không bàn trực tiếp về điều hoà.

Phòng ngủ Đan Mạch: ngoài trời sạch, đóng mở ít khác#

Ở 38 phòng ngủ vùng thủ đô Đan Mạch, nhóm nghiên cứu đo không khí trong các đêm mùa sưởi, tháng 9–12/2020 (Liao và cs., 2022). PM2.5 được đo trong phòng ngủ bằng một cảm biến quang cá nhân, ghi mỗi 60 giây. CO₂ được đo bằng cảm biến hồng ngoại không tán sắc (non-dispersive infrared, NDIR); giờ ngủ lấy từ vòng đeo Fitbit. Cảm biến bụi là loại quang giá rẻ, không phải máy chuẩn.

PM2.5 trong lúc ngủ trung bình 5,0 µg/m³ (độ lệch chuẩn, SD 4,0), trung vị 2,8 µg/m³ (khoảng tứ phân vị, IQR 2,3–7,1), dao động 2,0–19,5 µg/m³. Có 31,6% người ngủ đóng cả cửa sổ lẫn cửa phòng. Khi đóng cả hai, PM2.5 chỉ hơi cao hơn khi mở một trong hai, và khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, CO₂ cao hơn rõ rệt khi đóng (p < 0,01). Đây là bài hội nghị.

Thử nghiệm Bỉ: tăng gió, CO₂ giảm, bụi gần như không đổi#

Một thử nghiệm can thiệp thực địa mù đơn ở Bỉ thay đổi lưu lượng quạt hút gió phòng ngủ (Fan và cs., 2023). Mỗi điều kiện kéo dài 1 tuần, thứ tự sắp theo hình vuông Latin, giấc ngủ đo bằng vòng đeo Fitbit Charge 4. Nghiên cứu tuyển 34 người, 29 người hoàn thành, và 23 phòng ngủ được phân tích ở hai mức gió thấp và cao.

Khi tăng lưu lượng, CO₂ giảm rõ từ 1.369 ± 433 xuống 812 ± 166 ppm. PM2.5 chỉ đổi từ 3,3 ± 2,1 xuống 2,5 ± 0,6 µg/m³ (p = 0,047), một mức chênh có ý nghĩa thống kê nhưng nằm trong sai số đo. Không khí ngoài trời đưa vào không được lọc.

Nghiên cứu có liên hệ chặt với ngành. Renson, hãng sản xuất hệ thống thông gió, cung cấp bộ đo, tuyển người qua ứng dụng của hãng và liên lạc với người tham gia. Nhân viên hãng đổi tốc độ quạt từ xa, và 3 tác giả thuộc bộ phận nghiên cứu và phát triển của Renson. Tuyên bố xung đột lợi ích vẫn ghi là không có. Tài trợ gồm dự án RP-1837 của Hiệp hội Kỹ sư Sưởi, Lạnh và Điều hoà không khí Hoa Kỳ (American Society of Heating, Refrigerating and Air-Conditioning Engineers, ASHRAE) và quỹ VLAIO HBC.2020.2520.

Theo suy luận của chúng tôi SL, hai kết quả ở Đan Mạch và Bỉ cho thấy CO₂ và bụi phản ứng khác nhau với thông gió. CO₂ chủ yếu do người ngủ thở ra, nên tăng gió làm loãng nó. Bụi chủ yếu từ ngoài vào, nên tăng gió không lọc chỉ thay bụi trong phòng bằng bụi ngoài trời. Ở nơi ngoài trời rất sạch, mức bụi thấp dù đóng hay mở.

Hồng Kông: nhà đóng cửa, trong gần bằng ngoài#

Ở 34 nhà Hồng Kông, bụi được lấy mẫu trong nhà và ngay ngoài nhà vào mùa thu và mùa đông (Chao và Wong, 2002). PM2.5 trung bình là 45,0 µg/m³ trong nhà và 47,0 µg/m³ ngoài trời liền kề. Với PM10, hai số là 63,3 và 69,5 µg/m³. Tác giả gắn trao đổi khí thấp với việc đóng cửa nhiều hơn và dùng điều hoà cửa sổ.

Tương quan giữa nồng độ trong và ngoài nhà ở đây kém. Theo tác giả, bụi trong các nhà này cao gấp 2–4 lần nhà ở các nước phương Tây.

Ba bối cảnh, ba kết quả#

Mâu thuẫn giữa tổng quan và các phòng ngủ Đan Mạch có thể giải thích bằng nồng độ nền. Ở Đan Mạch, PM2.5 ngoài trời thấp, nên đóng hay mở cửa thay đổi rất ít. Ở Hà Nội, 4 nhà được lấy mẫu khi cửa đóng, và tỉ lệ I/O của dải PM1–2,5 vẫn khoảng 0,7–0,8. Theo suy luận của chúng tôi SL, điều này gợi ý phần lớn bụi mịn ngoài trời vẫn vào được trong nhà khi cửa đóng, dù I/O còn gộp cả bụi từ nguồn trong nhà như nấu ăn và đốt hương. Vì vậy SL, ở thành phố nhiều bụi, "đóng cửa" không đồng nghĩa với "phòng sạch".

Nghiên cứuBối cảnhĐo bằngCO₂PM2.5
Đan Mạch, 38 phòng ngủMùa sưởi, đóng so với mở cửaCảm biến quang giá rẻ; NDIRCao hơn rõ khi đóng (p < 0,01)TB 5,0 µg/m³; khác biệt không có ý nghĩa
Bỉ, 23 phòng ngủQuạt hút thấp so với caoBộ đo do hãng cung cấp1.369 → 812 ppm3,3 → 2,5 µg/m³, trong sai số đo
Hồng Kông, 34 nhàThu–đông, nhiều điều hoà cửa sổLấy mẫu bụiKhông đoTrong 45,0; ngoài 47,0 µg/m³
Hà Nội, 4 nhàCửa đóng khi lấy mẫuThiết bị lấy mẫu nghiên cứuKhông đoI/O dải PM1–2,5: 0,7 (đông), 0,8 (hè)

Bụi ngoài trời và trong nhà ở Hà Nội, TP.HCM#

Nồng độ ngoài trời#

Các số dưới đây là quan trắc ngoài trời, không đo trên người và không đo trong phòng ngủ. Phương pháp đo được ghi kèm vì độ tin cậy của chúng khác nhau.

Trạm của Đại sứ quán và Lãnh sự quán Hoa Kỳ dùng máy đo suy giảm tia beta (beta attenuation monitor, BAM). Theo trạm này, PM2.5 trung bình năm 2016 là 50,5 µg/m³ ở Hà Nội và 42 µg/m³ ở TP.HCM (Hien và cs., 2019). Trạm TP.HCM đặt tại Quận 1, nên có thể cao hơn trung bình thành phố.

Cùng nhóm tác giả lấy mẫu trọng lượng 24 giờ, 2 lần mỗi tuần, tại 5 điểm ở TP.HCM từ 3/2017 tới 3/2018. Năm điểm gồm 2 điểm ven đường, 2 điểm dân cư và 1 điểm nền đô thị. PM2.5 trung bình năm là 36,3 ± 13,7 µg/m³; mùa khô 39,2 và mùa mưa 33,6 µg/m³. Có 79,4% số mẫu 24 giờ vượt mức 24 giờ của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) bản 2005 (25 µg/m³). Có 15,7% số mẫu vượt quy chuẩn 24 giờ của Việt Nam (50 µg/m³). Với mức WHO 2021 là 15 µg/m³, tỉ lệ vượt sẽ còn cao hơn.

Ở Hà Nội, lấy mẫu trọng lượng 24 giờ theo phương pháp chuẩn tại một điểm đô thị cho thấy chênh lệch mùa rất lớn (Bui và cs., 2022). PM2.5 trung bình ngày mùa đông (1/2021) là 122,9 µg/m³, gấp khoảng 3 lần mùa hè (7/2020) với 40,2 µg/m³. Cả 17 trên 17 ngày đo mùa đông đều vượt quy chuẩn quốc gia 50 µg/m³, so với 5 trên 18 ngày mùa hè.

Một năm quan trắc khác tại Hà Nội, 7/2016–6/2017, dùng cảm biến nhỏ gọn độ phân giải thời gian cao, đối chiếu với máy BAM cách 3 km (Ly và cs., 2018). Trung vị PM2.5 tháng 12 là 62 µg/m³, tháng 6–7 là 19 µg/m³. Mùa khô có 13 đợt mù trên 100 µg/m³. Một số ngày sau gió mùa có đỉnh PM2.5 lúc nửa đêm. Theo suy luận của chúng tôi SL, đỉnh nửa đêm liên quan trực tiếp tới không khí phòng ngủ ở nhà để cửa mở.

Bản đồ PM2.5 độ phân giải 3 × 3 km cho Hà Nội năm 2017 cho trung bình năm từng ô 22,1–37,2 µg/m³ (Nhung và cs., 2022). Theo quận, huyện, khoảng này là 26,9–37,2 µg/m³; không quận nào dưới quy chuẩn 25 µg/m³. Mô hình đánh giá tác động sức khoẻ của cùng nghiên cứu quy khoảng 2.696 ca tử vong mỗi năm cho phần PM2.5 vượt 25 µg/m³. Nếu lấy mốc 10 µg/m³, con số là 4.760 ca. Đây là ước tính mô hình, không phải số đếm.

Bộ Tài nguyên và Môi trường có báo cáo gửi Thủ tướng về đợt ô nhiễm cuối tháng 9/2019. Theo báo cáo, trong nhiều ngày, trên 75% giá trị PM2.5 trung bình 24 giờ tại 13 trạm tự động ở Hà Nội vượt quy chuẩn (Báo Văn Hoá, 2019). Chỉ 5 trên 18 ngày có chỉ số chất lượng không khí (air quality index, AQI) ở mức Trung bình. Nguyên nhân được nêu gồm nghịch nhiệt, đốt rơm rạ, giao thông, xây dựng và than tổ ong. Than tổ ong là nguồn đốt trong hộ gia đình.

Theo nhận định của chúng tôi SL, số liệu tổng hợp được trích nhiều nhất đến từ IQAir. Theo trang dữ liệu của IQAir, PM2.5 trung bình năm 2025 của Việt Nam là 29,7 µg/m³, gấp 5,9 lần mức hướng dẫn năm của WHO; Việt Nam xếp thứ 18 trong 143 quốc gia theo mức PM2.5 trung bình năm, xếp từ cao xuống (IQAir, 2026). Báo cáo năm 2024 của IQAir ghi Hà Nội 45,4 µg/m³, tăng từ 37,9 năm 2020, và cả nước 28,7 µg/m³ (Việt Nam News, 2025). IQAir là công ty bán máy lọc và máy đo không khí. Mạng 167 trạm do 134 đơn vị đóng góp gồm cả cảm biến giá rẻ, và trang dữ liệu không phân biệt trạm nhà nước với cảm biến giá rẻ.

Nồng độ trong nhà#

Dữ liệu trong nhà ở Việt Nam chúng tôi đọc được chỉ đến từ một bài hội nghị, gồm 4 nhà thông gió tự nhiên ở trung tâm Hà Nội (Vo và cs., 2022). Nhóm tác giả dùng thiết bị lấy mẫu nghiên cứu Kinomax 3182, không phải cảm biến giá rẻ. Mẫu 24 giờ được lấy trong và ngoài nhà, cả mùa hè lẫn mùa đông, tổng khoảng 1.200 mẫu ngày. Cửa sổ và cửa ra vào đóng trong lúc lấy mẫu. Nghiên cứu không đo riêng phòng ngủ và không nhắc tới điều hoà.

PM2.5 trong nhà trung bình 24 giờ là 33,7–105,9 µg/m³, luôn thấp hơn hoặc xấp xỉ ngoài trời (37,6–117,9 µg/m³). Mùa đông, trong nhà là 42,0–105,9 µg/m³; mùa hè là 33,7–49,5 µg/m³. Trung bình mùa hè là 43,3 ± 6,8 µg/m³ trong nhà, so với 47,1 ± 8,7 µg/m³ ngoài trời. Ở một nhà, mùa hè trong nhà (43,38 µg/m³) gần như bằng ngoài trời (43,30 µg/m³).

Tác giả báo tỉ lệ I/O theo 6 dải kích thước, không báo cho PM2.5 tổng. Với hạt rất nhỏ, I/O gần 1: dải PM0,1 là 1,0 ± 0,3 mùa đông và 1,2 ± 0,3 mùa hè. I/O giảm dần khi hạt lớn hơn. Dải 1–2,5 µm (PM1–2,5) là 0,7 ± 0,2 mùa đông và 0,8 ± 0,2 mùa hè. Dải 2,5–10 µm (PM2.5–10) là 0,4 ± 0,1 và 0,5 ± 0,2. Tác giả cho rằng hệ số thấm ít đổi theo mùa vì cửa đóng khi lấy mẫu. Nguồn trong nhà khả dĩ được nêu gồm nấu ăn, dọn dẹp và đốt hương.

Số liệuNơi, thời gianPhương phápPM2.5 (µg/m³)
Trạm Hoa KỳHà Nội; TP.HCM, 2016BAM50,5; 42 (trung bình năm)
5 điểmTP.HCM, 3/2017–3/2018Lấy mẫu trọng lượng 24 giờ36,3 (năm); 79,4% mẫu > 25
1 điểm đô thịHà Nội, 7/2020 và 1/2021Lấy mẫu trọng lượng chuẩnHè 40,2; đông 122,9
1 điểmHà Nội, 7/2016–6/2017Cảm biến nhỏ gọn, đối chiếu BAMTrung vị tháng 12: 62; tháng 6–7: 19
Bản đồ 3 × 3 kmHà Nội, 2017Mô hình đa nguồnQuận 26,9–37,2 (năm)
IQAirViệt Nam, 2025Mạng trạm gồm cảm biến giá rẻ; hãng bán máy lọc29,7 (năm)
4 nhà, trong nhàHà Nội, hè và đôngThiết bị lấy mẫu nghiên cứu, cửa đóng33,7–105,9 (24 giờ)

Nhang và nhang muỗi#

Phần lớn số liệu về nhang và nhang muỗi đến từ buồng thí nghiệm, không có người ở. Chúng cho biết lượng phát thải, không cho biết phơi nhiễm của người ngủ hay ảnh hưởng tới giấc ngủ.

Phát thải trong buồng thí nghiệm#

Một nghiên cứu đo phát thải của 6 nhãn nhang muỗi, 4 nhãn Trung Quốc và 2 nhãn Malaysia (Liu và cs., 2003). Theo tóm tắt, đốt một khoanh nhang muỗi giải phóng lượng PM2.5 tương đương đốt 75–137 điếu thuốc lá. Lượng formaldehyde từ một khoanh có thể bằng lượng từ 51 điếu thuốc lá. Phép so sánh dựa trên khối lượng phát thải, không phải nguy cơ sức khoẻ tương đương. Chúng tôi không đọc được toàn văn bài này.

Trong một buồng thử thể tích 1 m³ ở Thái Lan, tốc độ phát thải PM2.5 của nhang muỗi là 266–1.611 mg/giờ, tức 112–184 mg mỗi gam nhang (Ongwandee và Pipithakul, 2010). Nhang (hương) phát 154–255 mg/giờ, tức 65,6–252 mg mỗi gam. Nến chỉ phát 8,80–9,97 mg/giờ, nên nhang và nhang muỗi cao hơn nến khoảng 10–100 lần. Nhang còn phát carbon monoxide (CO) 378–790 mg/giờ. Năm xuất bản trên trang tạp chí không nhất quán, ghi 2010 ở số tạp chí và 2013 ở siêu dữ liệu.

Buồng mô phỏng phòng ở và nhà có bàn thờ#

Ở Kumasi, Ghana, nhóm nghiên cứu đốt 5 nhãn nhang muỗi trong các buồng gỗ cạnh 2, 3 và 4 m, mỗi nhãn lặp 3 lần (Hogarh và cs., 2018). PM2.5 được ghi mỗi phút trong khoảng 8 giờ, tương ứng thời gian đốt qua đêm. Khi đóng cửa, PM2.5 trung bình 8 giờ là 0,28; 0,39 và 0,24 mg/m³ ở các phòng 8,5; 19 và 34 m³. Đổi đơn vị, khoảng này là 240–390 µg/m³.

Khi mở cửa cho thông gió tự nhiên, các giá trị giảm còn 0,06; 0,03 và 0,06 mg/m³, tức 30–60 µg/m³. Kích thước phòng không làm khác biệt có ý nghĩa (p = 0,65). Theo suy luận của chúng tôi SL, ngay cả mức khi mở cửa vẫn cao hơn mức 24 giờ của WHO 2021 là 15 µg/m³. Hai con số này tính trên thời gian trung bình khác nhau.

Ở tây nam Đài Loan, nhóm nghiên cứu đo bụi tại nhà có bàn thờ của 18 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease, COPD) (Guo và cs., 2020). Bụi được đo bằng máy phổ sol khí trước và sau khi thắp hương. PM2.5 tăng mạnh 10–30 phút sau khi thắp, với hệ số hồi quy B = 439,4 sau 10 phút (p < 0,01) và đỉnh ở phút 30. Nồng độ trở về mức nền sau khoảng 1 giờ. Bài báo hệ số hồi quy, không báo nồng độ tuyệt đối.

Cùng nghiên cứu không thấy thay đổi chức năng phổi, đo bằng thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu (forced expiratory volume in 1 second, FEV1), hay triệu chứng hô hấp đo bằng thang đánh giá COPD (COPD Assessment Test, CAT). Tác giả cho rằng có lẽ vì phơi nhiễm ngắn. Mẫu nhỏ, đo ngắn hạn, và nghiên cứu không đo giấc ngủ.

Phát thải cao, ảnh hưởng chưa đo#

Ở đây có một mâu thuẫn bề ngoài. Thực nghiệm buồng cho phát thải bụi của nhang rất cao, và đỉnh bụi trong nhà rất rõ sau 10–30 phút. Thế nhưng 18 bệnh nhân COPD không đổi chức năng phổi. Lý do khả dĩ gồm phơi nhiễm ngắn, vì bụi về nền sau 1 giờ, cỡ mẫu nhỏ và chỉ đo một lần. Theo suy luận của chúng tôi SL, nhang muỗi đốt suốt đêm trong phòng đóng là một kiểu phơi nhiễm khác hẳn một nén hương thắp ngắn. Nhưng chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào đo giấc ngủ trong cả hai tình huống.

Thông tin an toàn về nhang muỗi và thuốc diệt côn trùng có ở mục An toàn.

NguồnThiết lậpSố đoLoại bằng chứng
Nhang muỗi, 6 nhãnĐo phát thải trong phòng1 khoanh ≈ 75–137 điếu thuốc (PM2.5); ≈ 51 điếu (formaldehyde)ĐO, buồng, không có người
Nhang muỗiBuồng 1 m³, Thái Lan266–1.611 mg/giờĐO, buồng
Nhang (hương)Buồng 1 m³, Thái Lan154–255 mg/giờ; CO 378–790 mg/giờĐO, buồng
NếnBuồng 1 m³, Thái Lan8,80–9,97 mg/giờĐO, buồng
Nhang muỗi, 5 nhãnBuồng gỗ, Ghana, 8 giờĐóng 240–390 µg/m³; mở 30–60 µg/m³ĐO, buồng mô phỏng phòng
Hương thắp ở bàn thờ18 nhà, Đài LoanĐỉnh ở phút 30, về nền sau 1 giờĐO, nhà có người, không đo giấc ngủ

Bếp và khói thuốc#

Bếp gas và nhiên liệu rắn#

Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ kết hợp đo phát thải và nồng độ tại hơn 100 nhà với mô hình chất lượng không khí theo phòng (Kashtan và cs., 2024). Theo ước tính, dùng bếp gas hoặc propane làm phơi nhiễm nitơ dioxide (NO₂) dài hạn tăng trung bình 4,0 phần tỉ (parts per billion, ppb), khoảng 75% mức hướng dẫn của WHO. Phơi nhiễm ngắn hạn khi nấu thường vượt các mốc của WHO và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (Environmental Protection Agency, EPA). Nhà nhỏ hơn 800 ft² có phơi nhiễm gấp khoảng 4 lần nhà lớn hơn 3.000 ft². Chúng tôi đọc tóm tắt bài gốc; câu về phòng ngủ vượt ngưỡng chỉ có trong thông cáo báo chí nên không được dùng ở đây.

TC Theo tờ thông tin của WHO, khoảng 2,1 tỉ người nấu ăn bằng lửa hở hoặc bếp kém hiệu quả (WHO, 2025). Ô nhiễm không khí hộ gia đình gắn với khoảng 2,9 triệu ca tử vong năm 2021. Trong nhà kém thông gió, khói có thể làm bụi mịn cao gấp 100 lần mức chấp nhận được. WHO khuyến nghị không dùng than chưa qua chế biến và hạn chế dùng dầu hoả trong nhà.

Nghiên cứu theo dõi dọc về sức khoẻ và hưu trí Trung Quốc (China Health and Retirement Longitudinal Study, CHARLS) gồm người từ 45 tuổi. Một phân tích trong đó xét nhiên liệu nấu ăn (Yu và cs., 2021). Dữ liệu lấy từ các đợt 2011, 2013 và 2015, với 8.668 người. Nhiên liệu và số giờ ngủ đêm đều tự báo cáo. Dùng nhiên liệu rắn (than, củi, rơm) liên tục đi kèm số chênh (odds) ngủ ≤ 6 giờ cao hơn 17% so với chỉ dùng nhiên liệu sạch. Tỉ số chênh (odds ratio, OR) là 1,17, với khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) 1,01–1,35.

Cùng phân tích, nhiên liệu rắn liên tục đi kèm số chênh cảm thấy không được nghỉ ngơi ≥ 5 ngày mỗi tuần cao hơn 32% (OR 1,32; 1,12–1,55). Với 3–4 ngày mỗi tuần, OR là 1,26 (1,06–1,51). Mô hình hiệu chỉnh giới, tuổi, thành thị hay nông thôn, chi tiêu hộ, học vấn và hôn nhân. Nó cũng hiệu chỉnh hút thuốc chủ động, thụ động và việc bếp có tách khỏi khu sinh hoạt hay không. Nghiên cứu không đo nồng độ khói trong nhà.

Khói thuốc trong nhà#

Ở Scotland, một bài gộp dữ liệu của 4 nghiên cứu đo PM2.5 thời gian thực trong nhà (Semple và cs., 2015). Ở 93 nhà có người hút thuốc trong nhà, PM2.5 trung vị là 31 µg/m³ (IQR 10–111). Ở 17 nhà không hút thuốc, trung vị là 3 µg/m³ (IQR 2–6,5), tức thấp hơn khoảng 10 lần. Tóm tắt không nêu thiết bị và thời gian đo.

Về giấc ngủ, một phân tích gộp 11 nghiên cứu cắt ngang với 730.808 người xét phơi nhiễm khói thuốc lá thụ động (second-hand smoke, SHS) (Safa và cs., 2020). SHS đi kèm số chênh ngủ ngắn cao hơn 20% (OR 1,20; 1,09–1,33; 7 nghiên cứu). Khả năng chất lượng ngủ kém cao hơn 12% (OR 1,12; 1,01–1,23; 10 nghiên cứu). Khả năng buồn ngủ ban ngày cao hơn 7% (OR 1,07; 1,01–1,13; 4 nghiên cứu). Độ dị biệt I², tức phần trăm khác biệt giữa các nghiên cứu không do ngẫu nhiên, lần lượt là 68%, 79% và 0%.

Phơi nhiễm và giấc ngủ trong phân tích gộp này chủ yếu là tự báo cáo. Liên quan với chất lượng ngủ kém thấy ở vị thành niên nhưng không thấy ở người lớn. Liên quan cũng mất đi khi phơi nhiễm được xác định bằng chỉ dấu sinh học (biomarker) thay cho tự báo cáo. Điều này gợi ý sai lệch do tự báo cáo phơi nhiễm.

Ngược lại, ở 21.198 người lớn chưa từng hút thuốc tại Tân Cương, Trung Quốc, khói thuốc thụ động đi kèm số chênh chất lượng ngủ kém cao hơn 36% (Wang và cs., 2022). OR hiệu chỉnh là 1,36 (KTC 95% 1,24–1,48), và có quan hệ liều–đáp ứng ở phụ nữ. Giấc ngủ đo bằng Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI), và khói thuốc thụ động là tự báo cáo. Mẫu có 77% là nữ, tuổi trung bình 48,0.

Hai kết quả về người lớn trái nhau, nhưng cả hai đều là nghiên cứu cắt ngang với phơi nhiễm tự báo cáo. Mẫu Tân Cương chủ yếu là phụ nữ, và quan hệ liều–đáp ứng chỉ thấy ở phụ nữ. Theo chúng tôi SL, khác biệt về thành phần mẫu có thể giải thích một phần. Không nghiên cứu nào trong số này đo nồng độ khói trong phòng ngủ.

NguồnNghiên cứuThiết kế, đo giấc ngủKết quả
Bếp gas, propaneHoa Kỳ, hơn 100 nhàĐo kết hợp mô hình, không đo giấc ngủNO₂ dài hạn +4,0 ppb
Nhiên liệu rắnCHARLS, 8.668 ngườiCắt ngang lặp, tự báo cáoNgủ ≤ 6 giờ: OR 1,17 (1,01–1,35)
Khói thuốc trong nhàScotland, 93 và 17 nhàĐo PM2.5, không đo giấc ngủTrung vị 31 so với 3 µg/m³
Khói thuốc thụ độngPhân tích gộp, 730.808 ngườiCắt ngang, tự báo cáoNgủ ngắn OR 1,20; ngủ kém OR 1,12
Khói thuốc thụ độngTân Cương, 21.198 ngườiCắt ngang, PSQINgủ kém OR 1,36 (1,24–1,48)

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được số đo PM2.5 trong phòng ngủ ban đêm ở nhà Việt Nam đóng kín chạy điều hoà. Dữ liệu trong nhà Việt Nam đọc được chỉ là 4 nhà thông gió tự nhiên ở Hà Nội, trong một bài hội nghị.
  • Chúng tôi không tìm được nghiên cứu nào đo giấc ngủ khi đốt nhang hoặc nhang muỗi trong phòng ngủ. Các con số về nhang muỗi là phát thải trong buồng thí nghiệm.
  • Chúng tôi chưa đọc được mức PM2.5 trong phòng ngủ khi đốt hương ở nhà Việt Nam, cũng như nồng độ NO₂ phòng ngủ khi nấu bếp gas trong căn hộ nhỏ ở Việt Nam.
  • Nhiều bài trong chương chỉ đọc được tóm tắt, trong đó có bài phát thải nhang muỗi năm 2003 và phân tích gộp về khói thuốc thụ động năm 2020. Các số liệu từ hai bài này chỉ lấy từ tóm tắt.
  • Tổng quan về tỉ lệ I/O không cho hệ số thấm riêng theo trạng thái cửa sổ và không bàn về điều hoà. Chúng tôi chưa tìm được số đo hệ số thấm cho căn hộ Việt Nam.

Viết tắt trong trang

KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Bụi vào phòng ngủ và khói từ nguồn trong nhà. Trong: Tập 10 — Không khí phòng ngủ: CO₂ và thông gió, bụi mịn, hoá chất trong nhà và cách đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/khong-khi-phong-ngu/bui-vao-phong-ngu-va-khoi-trong-nha/