giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Máy lọc khí, ozone và cây xanh trong phòng ngủ

Chương 5 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 18 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi ba câu. Máy lọc khí dạng lọc hiệu suất cao (high-efficiency particulate air, HEPA) làm giảm bụi trong phòng tới đâu? Mức giảm ấy có đi kèm thay đổi giấc ngủ đo được hay không? Và các thiết bị "làm sạch không khí" khác, như máy ion, máy tạo ozone hay chậu cây xanh, thật sự làm gì với không khí phòng ngủ? Kết luận chính: máy lọc HEPA giảm bụi mịn rõ rệt trong thử nghiệm, nhưng mức giảm ngoài đời dao động từ gần như không có tới trên 90%. Về giấc ngủ, chúng tôi chỉ tìm được một thử nghiệm thí điểm thật/giả do hãng máy lọc tài trợ, và hiệu ứng chính của nó không có ý nghĩa thống kê. Máy tạo ozone có thể đẩy ozone trong phòng lên nhiều lần giới hạn sức khoẻ. Cây trong chậu loại bỏ hợp chất hữu cơ ở mức quá nhỏ so với trao đổi khí sẵn có của căn phòng.

Máy lọc HEPA và mức giảm bụi trong phòng#

Máy lọc khí di động hút không khí trong phòng qua một tấm lọc sợi rồi thổi trở lại. Với tấm lọc HEPA, phần lớn hạt bụi bị giữ trên sợi lọc. Nhưng nồng độ bụi trong phòng không chỉ phụ thuộc tấm lọc. Nó còn phụ thuộc lưu lượng khí sạch máy cấp ra, thể tích phòng, lượng bụi ngoài trời lọt vào qua khe hở và cửa sổ, và việc máy có thật sự được bật hay không. Đại lượng gộp các yếu tố phía máy là tốc độ cấp khí sạch (clean air delivery rate, CADR); người đọc có thể ước tính đại lượng này bằng công cụ tính CADR. Nguyên lý tấm lọc được trình bày ở trang máy lọc không khí HEPA.

Trong chương này, bụi mịn PM2.5 là hạt có đường kính khí động học từ 2,5 µm trở xuống; trang chỉ số PM2.5 giải thích cách đo. Hầu hết nghiên cứu dưới đây đo bụi trong phòng bằng máy đặt tại chỗ, và kết cục chính là chỉ số tim phổi hay chỉ dấu viêm, không phải giấc ngủ.

Các thử nghiệm thật/giả trong phòng ở#

Thử nghiệm thứ nhất chúng tôi điểm lại, đo bụi trong phòng ngủ, là một thử nghiệm ngẫu nhiên chéo, mù đôi tại ký túc xá Đại học Phúc Đán, Thượng Hải (Chen và cs., 2015). 35 sinh viên khoẻ (25 nữ) ở 10 phòng lần lượt dùng máy lọc 3M Filtrete FAP04 thật và máy giả đã tháo lớp lọc. Mỗi giai đoạn kéo dài 48 giờ, hai giai đoạn cách nhau 2 tuần. Máy thật giảm PM2.5 trong phòng 57%, từ 96,2 xuống 41,3 µg/m³, trong vài giờ vận hành. Nồng độ nền ở đây cao, và mức còn lại sau khi lọc vẫn là 41,3 µg/m³. Giấc ngủ không được đo.

Theo bài, kinh phí đến từ Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc, China Medical Board, Quỹ Cyrus Tang và một chương trình nghiên cứu công ích của Uỷ ban Y tế Trung Quốc, và tác giả khai không có quan hệ lợi ích liên quan. Chúng tôi chưa xác minh độc lập được nguồn tài trợ này.

Một thử nghiệm chéo mù đôi khác diễn ra tại 16 phòng của một trung tâm dưỡng lão ở Trùng Khánh vào tháng 1/2020 (Guo và cs., 2021). Máy giả cũng được tháo lớp lọc. Máy lọc di động đạt hiệu quả loại bỏ bụi trung bình 73%. Hiệu quả này phụ thuộc rõ vào trạng thái đóng hay mở cửa sổ, và bụi giảm nhanh trong 2 giờ đầu sau khi bật máy. Kết cục sức khoẻ là huyết áp và nhịp tim ở người cao tuổi.

Ở một khu nhà ở xã hội (public housing) cạnh xa lộ tại Somerville, bang Massachusetts, một thử nghiệm chéo mù đôi so 21 ngày dùng máy HEPA gắn cửa sổ với 21 ngày dùng máy giả (Padró-Martínez và cs., 2015). Mẫu gồm 20 người từ 40 tuổi trở lên ở 19 căn hộ. Đại lượng đo là nồng độ số hạt, đại diện cho hạt siêu mịn, không phải khối lượng PM2.5. Theo tóm tắt, số hạt giảm 21–68% ở 15 căn hộ; bảng 2 của chính bài cho 14 căn.

Điểm đáng chú ý của thử nghiệm này là chiều ngược lại: 3 căn hộ có số hạt khi lọc thật cao hơn khi lọc giả. Huyết áp và protein phản ứng C độ nhạy cao không khác giữa hai điều kiện. Interleukin-6, một chỉ dấu viêm, lại cao hơn sau giai đoạn lọc HEPA. Nhóm tác giả gọi lọc HEPA là "hứa hẹn nhưng chưa thực hiện đầy đủ". Bài không nói ai cung cấp máy, và chúng tôi không đọc được mục tài trợ.

Tổng quan và phân tích gộp#

Một tổng quan hệ thống gom 148 nghiên cứu thực địa về máy lọc khí di động (Ebrahimifakhar và cs., 2024). Trong đó 83 nghiên cứu đo PM2.5. Mức giảm trung bình là 49%, độ lệch chuẩn 20%, và dao động từ không giảm có ý nghĩa tới trên 90%. Đây là mức giảm tổng hợp từ các nghiên cứu, không phải một ước tính gộp chính thức.

Cùng tổng quan ghi nhận một hành vi quan trọng: người dùng thường chạy máy ngắn hơn và ở tốc độ gió thấp vì lo tiếng ồn, gió lùa và tiền điện. Hành vi đó làm giảm đáng kể hiệu quả lọc. Theo suy luận của chúng tôi SL, điều này đặc biệt liên quan tới phòng ngủ, vì ban đêm là lúc tiếng quạt dễ gây khó chịu nhất. Mức giảm bụi đo được khi máy chạy liên tục trong thử nghiệm vì vậy có thể cao hơn mức đạt được khi người ngủ tự hạ tốc độ quạt.

Phân tích gộp của Wittkopp và cs. gồm 14 nghiên cứu với 778 người, xét máy lọc khí di động và chỉ dấu viêm (Wittkopp và cs., 2022). Mức giảm PM2.5 trung bình trong các nghiên cứu này là 61,5%. Interleukin-6 giảm 13% (p = 0,009), protein phản ứng C giảm 7% ở ranh giới ý nghĩa (p = 0,05), còn yếu tố hoại tử khối u alpha không khác. Phân tích này không có kết cục giấc ngủ.

Nghiên cứuBối cảnhThiết kếĐại lượng đoMức giảmĐo giấc ngủ
Chen và cs., 201510 phòng ký túc xá, Thượng HảiChéo, mù đôi, 48 giờ mỗi giai đoạnKhối lượng PM2.557% (96,2 → 41,3 µg/m³)Không
Guo và cs., 202116 phòng dưỡng lão, Trùng KhánhChéo, mù đôiBụi (PM)Trung bình 73%, phụ thuộc cửa sổKhông
Padró-Martínez và cs., 201519 căn hộ cạnh xa lộ, Hoa KỳChéo, mù đôi, 21 ngày mỗi giai đoạnSố hạt21–68% ở 15 căn; 3 căn tăngKhông
Wittkopp và cs., 202214 nghiên cứu, 778 ngườiPhân tích gộpPM2.5Trung bình 61,5%Không
Ebrahimifakhar và cs., 202483 nghiên cứu thực địa có đo PM2.5Tổng quan hệ thốngPM2.5Trung bình 49% (độ lệch chuẩn 20%); từ 0% tới trên 90%Không
Lamport và cs., 2023Phòng ngủ ở AnhChéo, mù đôi, 2 tuần mỗi điều kiệnPM2.5 do cảm biến của máy lọc ghi4,79 → 2,16 (bài không ghi đơn vị)Có

Vì sao các con số chênh nhau#

Các con số 57%; 73%; 61,5%; 49% và 21–68% không mâu thuẫn theo nghĩa một bên đúng, một bên sai. Chúng đo những thứ khác nhau trong những điều kiện khác nhau. Lý do khả dĩ thứ nhất là công suất máy so với thể tích phòng. Lý do thứ hai là cửa sổ: thử nghiệm Trùng Khánh cho thấy hiệu quả phụ thuộc rõ vào trạng thái cửa. Lý do thứ ba là hành vi người dùng hạ tốc độ quạt vì ồn. Lý do thứ tư là đại lượng đo: khối lượng PM2.5 và số hạt siêu mịn không phản ứng giống nhau với cùng một máy.

Theo suy luận của chúng tôi SL, con số có ý nghĩa cho một phòng ngủ cụ thể không nằm trong bảng trên. Nó phụ thuộc CADR thực tế ở tốc độ quạt người ngủ chấp nhận được, so với thể tích phòng và lượng bụi lọt vào. Chương về bụi vào phòng ngủ đã trình bày tỉ lệ trong nhà/ngoài trời, tức đầu vào của phép tính này.

Thử nghiệm thật/giả duy nhất có đo giấc ngủ#

Chúng tôi chỉ tìm được một thử nghiệm ngẫu nhiên chéo, mù đôi đo giấc ngủ khi dùng máy lọc HEPA so với lọc giả trong phòng ngủ. Đó là một nghiên cứu thí điểm (Lamport và cs., 2023). 30 người lớn khoẻ ở Anh được tuyển từ tháng 5 tới tháng 9/2021; 29 người được phân tích, trong đó 21 nữ. Mỗi người dùng máy thật 2 tuần và máy giả 2 tuần, thứ tự được cân bằng, giữa hai điều kiện có 2 tuần nghỉ (giai đoạn thải trừ, washout).

Giấc ngủ được đo bằng actigraphy, tức ước tính ngủ và thức từ cử động cổ tay, cùng nhật ký giấc ngủ hằng ngày. Người tham gia còn trả lời chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI) và chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) trước và sau. Nghiên cứu không dùng đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG). Dyson tài trợ nghiên cứu, và 2 tác giả có địa chỉ tại Dyson Technology Ltd.

Kết quả: cách tóm tắt và con số thống kê#

Tóm tắt của tác giả viết rằng so với lọc giả, máy lọc HEPA đi kèm tổng thời gian ngủ (total sleep time, TST) dài hơn trung bình 12 phút mỗi đêm. Thời gian nằm trên giường dài hơn 19 phút mỗi đêm. Đọc toàn văn, hiệu ứng chính của máy lọc lên TST không có ý nghĩa thống kê. Theo nhật ký, F(1,27) = 3,92 và p = 0,058; theo actigraphy, p = 0,53.

Mức tăng khoảng 24 phút chỉ xuất hiện ở nhóm dùng lọc giả trước. Đây là tương tác giữa điều kiện và thứ tự: p = 0,046 theo nhật ký và p = 0,024 theo actigraphy. Ở nhóm này, TST tăng 24 phút theo nhật ký và 22 phút theo actigraphy. Trong thiết kế chéo, hiệu ứng thứ tự như vậy làm kết luận về điều kiện yếu đi nhiều.

Một chỉ số đi ngược chiều. Thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) theo actigraphy cao hơn khi dùng máy thật: 67 ± 5 so với 59 ± 4 phút, F(1,27) = 10,48, p = 0,003. Theo nhật ký, WASO không khác (p = 0,64). Tác giả gợi ý actigraphy có thể ước tính thừa thời gian thức.

Chỉ sốLọc thật so với lọc giảThống kê
TST, theo tóm tắt của tác giảDài hơn 12 phút/đêmHiệu ứng chính không có ý nghĩa
TST, nhật ký—F(1,27) = 3,92; p = 0,058
TST, actigraphy—p = 0,53
Thời gian trên giườngDài hơn 19 phút/đêmTheo tóm tắt
TST ở nhóm dùng lọc giả trước+24 phút (nhật ký); +22 phút (đồng hồ)Tương tác thứ tự: p = 0,046; p = 0,024
WASO, actigraphy67 ± 5 so với 59 ± 4 phútF(1,27) = 10,48; p = 0,003
WASO, nhật kýKhông khácp = 0,64
PM2.5 do cảm biến của máy lọc ghi2,16 so với 4,79 (bài không ghi đơn vị)p = 0,00004
Hợp chất hữu cơ bay hơiKhông khácp = 0,15

Phơi nhiễm được đo thế nào#

Chất lượng không khí trong thử nghiệm này do cảm biến tích hợp của chính máy lọc ghi liên tục, với 19–23 người có dữ liệu trong bảng 3 của bài. Thiết bị đo vì vậy do nhà tài trợ sản xuất, không phải máy đo chuẩn độc lập. PM2.5 giảm từ 4,79 xuống 2,16 (sai số chuẩn lần lượt 0,66 và 0,39). Bài không ghi đơn vị. Theo suy luận của chúng tôi SL, nếu đơn vị là µg/m³ thì nồng độ nền vốn đã dưới mức hướng dẫn PM2.5 trung bình năm 5 µg/m³ của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO). Hợp chất hữu cơ bay hơi (volatile organic compounds, VOC) không khác giữa hai điều kiện (p = 0,15).

Đọc thử nghiệm này thế nào#

Ghép các mảnh lại, thử nghiệm của Lamport và cs. không thể xem là bằng chứng máy lọc khí làm thay đổi giấc ngủ. Đó là một nghiên cứu thí điểm nhỏ, hiệu ứng chính không đạt ý nghĩa, mức tăng phụ thuộc thứ tự, và một chỉ số khách quan đi ngược chiều. Nghiên cứu cũng không cho biết điều gì xảy ra ở phòng ngủ có PM2.5 nền cao. Theo suy luận của chúng tôi SL, kết quả âm tính ở nồng độ nền thấp cũng không chứng minh máy lọc vô ích ở nơi bụi cao; chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm nào trả lời câu hỏi đó.

Ozone từ máy ion và máy tạo ozone#

Không phải thiết bị "làm sạch không khí" nào cũng dùng tấm lọc. Có hai nhóm liên quan tới ozone, một khí oxy hoá mạnh. Nhóm thứ nhất là máy tạo ozone (ozone generator), cố ý tạo ozone và được bán như máy lọc khí. Nhóm thứ hai là máy ion hoá và máy lọc tĩnh điện, tạo ozone như sản phẩm phụ qua phóng điện. Trang ozone trong nhà giải thích chỉ số này.

Nồng độ ozone từ thiết bị được ghi bằng phần triệu (parts per million, ppm) hoặc phần tỉ (parts per billion, ppb) theo thể tích. Uỷ ban Tài nguyên Không khí California (California Air Resources Board, CARB) nêu rằng phơi nhiễm ozone lâu dài có thể gây và làm nặng triệu chứng hen (CARB). Ở đây chúng tôi chỉ thuật lại nhận định của cơ quan này.

Máy tạo ozone: số liệu Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ tổng hợp#

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (Environmental Protection Agency, EPA) dẫn một thử nghiệm với máy tạo ozone lớn, định mức cho 3.000 ft² (feet vuông) (EPA, cập nhật 2026). Khi chạy ở mức cao trong một phòng 350 ft², máy đẩy ozone lên 0,50–0,80 ppm. Mức này gấp 5–10 lần giới hạn sức khoẻ cộng đồng. Trong nghiên cứu đo tại nhà ở của EPA, một số máy chạy mức cao khi cửa trong nhà đóng thường tạo 0,20–0,30 ppm. Một máy công suất lớn còn đạt 0,12–0,20 ppm ở phòng bên cạnh khi mở cửa.

Các mức trên được cộng thêm vào ozone ngoài trời lọt vào nhà. Theo cùng nguồn, phần ozone ngoài trời thâm nhập thường là 0,01–0,02 ppm, có thể tới 0,03–0,05 ppm. Đây là số đo môi trường trong phòng và nhà thử nghiệm, do EPA tổng hợp; tài liệu không nêu số phòng hay số máy.

EPA kết luận ozone nhìn chung không hiệu quả để kiểm soát ô nhiễm trong nhà và không loại bỏ được hạt bụi. Cơ quan này dẫn thử nghiệm cho thấy ozone không làm giảm nồng độ formaldehyde. Trong một thí nghiệm với thảm, ozone làm giảm nhiều chất, nhưng tổng nồng độ hoá chất hữu cơ trong không khí lại tăng, kèm nhiều aldehyde mới sinh ra. Như vậy lời quảng cáo máy ozone "khử formaldehyde" hay "khử mùi sơn mới" không khớp với số liệu EPA thuật lại.

Máy ion và máy ozone hoá trong phòng thật#

Nhóm của Britigan tại Đại học California Irvine đo ozone khi chạy máy lọc ion hoá và máy ozone hoá trong văn phòng, phòng tắm, phòng ngủ và ô tô. Độ ẩm tương đối khi đo là 40–50% (Britigan và cs., 2006). Chúng tôi chỉ đọc được số liệu qua thông cáo của trường và một bài báo tường thuật; tóm tắt gốc không có số ppb. Theo các nguồn thứ cấp đó, ozone trong nhiều trường hợp vượt 90 ppb, và có trường hợp mức ổn định trên 350 ppb.

Chuẩn ngoài trời của California được dẫn để so là 90 ppb cho trung bình 1 giờ và 70 ppb cho trung bình 8 giờ. Mức cao nhất gắn với máy ozone hoá. Theo tác giả, mọi máy "ion" đều phát ra một ít ozone. Mức tăng lớn nhất xảy ra ở phòng nhỏ, thông gió kém, có bề mặt ít phản ứng với ozone như gạch men bóng hay nhựa polyvinyl clorua (PVC).

Một thực nghiệm khác diễn ra trong một phòng ở thật có thể tích 27 m³ tại Texas (Waring và Siegel, 2011). Khi tắt hệ thống điều hoà trung tâm, số lần trao đổi khí mỗi giờ (air changes per hour, ACH) khoảng 0,5. Chạy máy tạo ion làm ozone tăng, dù có hay không có sản phẩm thơm phòng cắm điện. Khi chạy cùng sản phẩm thơm chứa terpene, hạt siêu mịn dưới 0,1 µm tăng ròng. Formaldehyde và nonanal cũng tăng, có trường hợp chỉ trong phạm vi sai số đo. Tóm tắt chúng tôi đọc được không có con số ozone cụ thể.

Ozone gặp terpene#

Terpene là nhóm hợp chất tạo mùi có trong tinh dầu, chất tẩy rửa và sản phẩm thơm phòng. Theo phần diễn giải tờ thông tin của CARB (chưa đối chiếu được nguyên văn), ozone có thể phản ứng với hoá chất hương liệu như terpene, tạo sản phẩm phụ độc hại, gồm formaldehyde. Một thí nghiệm buồng phản ứng 198 L trộn khí phát thải của ba sản phẩm gia dụng chứa terpene với ozone (Destaillats và cs., 2005). Với cả ba sản phẩm, formaldehyde là sản phẩm oxy hoá chính. Hạt siêu mịn tạo mầm và lớn lên ngay khi trộn, và phản ứng tạo gốc hydroxyl.

Đây là báo cáo hội nghị, trong buồng kín, với sản phẩm tẩy rửa và thơm phòng chứ không phải tinh dầu khuếch tán. Đo thực địa ở mức ozone trong nhà thông thường cho bức tranh nhỏ hơn về formaldehyde; phần đó được trình bày trong chương về formaldehyde, VOC và nệm. Theo suy luận của chúng tôi SL, máy ion và sản phẩm thơm đặt cùng một phòng ngủ kín là đúng tổ hợp đã tạo thêm hạt siêu mịn trong thực nghiệm phòng ở của Waring và Siegel. Điều này cũng phù hợp với kết quả buồng phản ứng của Destaillats và cs.

Ngưỡng ozone: thiết bị, nghề nghiệp và không khí xung quanh#

Từ năm 2010, mọi máy làm sạch không khí trong nhà bán hoặc chuyển tới California phải có nồng độ ozone phát thải dưới 0,050 ppm, tức 50 ppb (CARB). Quy định áp dụng cho mọi máy dùng trong không gian kín có người, gồm máy ion hoá, máy lọc tĩnh điện và máy tạo ozone phóng điện corona. Loại lắp trong đường ống gió và một số loại công nghiệp được loại trừ. CARB viết một số thiết bị tạo ozone "gián tiếp với lượng thấp" nhưng không nêu loại nào.

EPA tóm lược thêm ba giá trị của các cơ quan Hoa Kỳ khác. Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration, FDA) yêu cầu thiết bị y tế dùng trong nhà phát ozone không quá 0,05 ppm. Cơ quan An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp (Occupational Safety and Health Administration, OSHA) giới hạn 0,10 ppm trung bình 8 giờ cho người lao động. Viện Quốc gia về An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp (National Institute for Occupational Safety and Health, NIOSH) khuyến nghị trần 0,10 ppm, không được vượt bất cứ lúc nào.

Với không khí xung quanh, hướng dẫn chất lượng không khí WHO 2021 đặt ozone 100 µg/m³ cho trung bình 8 giờ và 60 µg/m³ cho mùa cao điểm (WHO, 2021). Quy chuẩn QCVN 05:2023/BTNMT của Việt Nam đặt ozone 200 µg/m³ cho trung bình 1 giờ và 120 µg/m³ cho trung bình 8 giờ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2023). Hai văn bản này dùng đơn vị khối lượng, còn các giá trị thiết bị dùng ppm. Chúng tôi không quy đổi ở đây vì các nguồn không kèm phép quy đổi.

Giá trịCơ quan, văn bảnÁp dụng choLoại ngưỡng
< 0,050 ppm (50 ppb)CARB, từ 2010Phát thải của máy làm sạch không khí trong nhà bán tại CaliforniaNgưỡng phát thải thiết bị TC
≤ 0,05 ppmFDA, qua EPAThiết bị y tế dùng trong nhàNgưỡng phát thải thiết bị TC
0,10 ppm, trung bình 8 giờOSHA, qua EPANgười lao độngNgưỡng nghề nghiệp TC
0,10 ppm, trầnNIOSH, qua EPANgười lao độngKhuyến nghị nghề nghiệp TC
90 ppb (1 giờ); 70 ppb (8 giờ)Chuẩn ngoài trời California, qua thông cáo của Britigan và cs.Không khí xung quanhNgưỡng chất lượng không khí TC
100 µg/m³ (8 giờ); 60 µg/m³ (mùa cao điểm)WHO 2021Không khí xung quanhNgưỡng sức khoẻ TC
200 µg/m³ (1 giờ); 120 µg/m³ (8 giờ)QCVN 05:2023/BTNMTKhông khí xung quanhQuy chuẩn quốc gia TC
0,50–0,80 ppmEPA dẫn thử nghiệm máy tạo ozonePhòng 350 ft²Số đo ĐO

Bảng cho thấy ngưỡng ozone khác nhau vì chúng trả lời những câu hỏi khác nhau. Ngưỡng CARB và FDA giới hạn một thiết bị được phép phát ra bao nhiêu. Ngưỡng OSHA và NIOSH dành cho người lao động khoẻ trong ca làm việc. Ngưỡng WHO và QCVN dành cho không khí xung quanh của cả dân số. Không giá trị nào trong bảng được xây dựng riêng cho một người ngủ 7–9 giờ trong phòng kín.

Cây xanh và niềm tin "lọc không khí"#

Niềm tin rằng cây trong chậu làm sạch không khí thường được truy về một báo cáo của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (National Aeronautics and Space Administration, NASA) năm 1989 (Wolverton và cs., 1989). Nhóm tác giả đặt cây trong buồng Plexiglas kín, kích thước 0,76 × 0,76 × 0,76 m hoặc 0,76 × 0,76 × 1,53 m. Formaldehyde ban đầu là 8–20 ppm. Sau 24 giờ, năm cây ở bảng 4 loại bỏ 47–70%, cao nhất là cây phát tài (mass cane) với 70%. Buồng đối chứng không có cây giảm 2,8%.

Điều kiện thí nghiệm khác xa một phòng ngủ: buồng nhỏ, không thông gió, nồng độ rất cao. Văn bản ghi mức phơi nhiễm "15 tới 20" phần triệu, trong khi bảng 4 có cây ở 8 ppm. Báo cáo không đưa ra khuyến nghị số cây trên mỗi diện tích. Kinh phí đến từ Văn phòng Chương trình Thương mại của NASA và Hiệp hội Nhà thầu Cảnh quan Hoa Kỳ (Associated Landscape Contractors of America), một hiệp hội ngành có lợi ích thương mại.

Năm 2020, Cummings và Waring tổng quan 12 nghiên cứu buồng thí nghiệm với 196 kết quả, rồi quy đổi tất cả về CADR, cùng thước đo dùng cho máy lọc (Cummings và Waring, 2020). Trung vị mỗi cây chỉ là 0,023 m³ khí sạch mỗi giờ. Để đạt mức loại bỏ VOC bằng trao đổi khí ngoài trời–trong nhà sẵn có, khoảng 1 lần mỗi giờ, cần 10–1.000 cây trên mỗi m² sàn.

Hai nguồn này không mâu thuẫn về số đo. Cây trong buồng NASA thật sự làm giảm formaldehyde trong buồng. Điểm khác là cách ngoại suy: trong buồng kín không có trao đổi khí, một tác động rất nhỏ tích luỹ qua 24 giờ thành phần trăm lớn. Trong một căn phòng có trao đổi khí, chính luồng khí ra vào đã loại bỏ nhiều hơn hẳn phần cây loại được.

Theo suy luận của chúng tôi SL, nồng độ 8–20 ppm trong buồng NASA cũng cao hơn nhiều bậc so với formaldehyde đo trong phòng ngủ ở các khảo sát quốc gia. Health Canada ghi 123 µg/m³ tương ứng 100 ppb (Health Canada), nên vài ppm đã tương ứng vài mg/m³. Các khảo sát phòng ngủ được trình bày trong chương về formaldehyde, VOC và nệm. Kết quả buồng kín ở nồng độ đó không chuyển được sang phòng ngủ có trao đổi khí.

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm máy lọc HEPA thật/giả nào đo giấc ngủ bằng PSG. Thử nghiệm duy nhất đọc được dùng actigraphy, do Dyson tài trợ, ở Anh với PM2.5 nền thấp.
  • Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm máy lọc có đo giấc ngủ ở Trung Quốc, Đan Mạch hay Đông Nam Á. Các thử nghiệm Đan Mạch và Bỉ của Đại học Kỹ thuật Đan Mạch là về thông gió, không về lọc.
  • Chúng tôi chưa tìm được số đo ozone (ppb) cụ thể trong phòng ngủ khi chạy máy lọc ion thương mại. Bài của Britigan và cs. và của Waring và Siegel chỉ đọc được qua tóm tắt hoặc thông cáo.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào về máy tạo ozone "khử độc" bán tại Việt Nam và mức ozone trong nhà khi dùng chúng.
  • Nguồn tài trợ của thử nghiệm Thượng Hải chưa được xác minh độc lập.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào đo giấc ngủ khi dùng máy ion, máy tạo ozone hay cây xanh trong phòng ngủ.

Viết tắt trong trang

FDA
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
TST
tổng thời gian ngủ (total sleep time)
VOC
hợp chất hữu cơ bay hơi (volatile organic compounds)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Máy lọc khí, ozone và cây xanh trong phòng ngủ. Trong: Tập 10 — Không khí phòng ngủ: CO₂ và thông gió, bụi mịn, hoá chất trong nhà và cách đo. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/khong-khi-phong-ngu/may-loc-khi-ozone-va-cay-xanh/