Phụ lục này liệt kê toàn bộ 87 dữ kiện của nhánh Phản ứng sinh lý và đường liều–đáp ứng đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, loài, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b1-004) dùng để đối chiếu khi cần sửa.
Một tiếng ồn làm thức giấc thế nào#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-004 | Phân tích gộp các nghiên cứu đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) thực địa: mỗi 10 dB(A) LAS,max trong phòng tăng thêm đi kèm OR xác suất thức giấc khoảng 1,35 — gần như như nhau giữa máy bay, đường bộ, đường sắt. | OR/10 dBA LAS,max trong phòng (chưa hiệu chỉnh): máy bay 1,35 (1,22–1,50); đường bộ 1,36 (1,19–1,55); đường sắt 1,35 (1,21–1,52) | Tổng quan | Phân tích gộp dữ liệu PSG thực địa tại nhà; thức giấc = chuyển sang thức hoặc giai đoạn 1 trong 90 giây sau khi sự kiện bắt đầu; LAS,max (trọng số A, đáp ứng chậm) ghi trong phòng ngủ · STRAIN (máy bay, 64 người tuyển, 61 phân tích); DEUFRAKO (đường sắt, 33 người); đường bộ gộp 94 người | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-005 | Trong các nghiên cứu PSG thực địa được gộp, tỉ lệ thức giấc tự phát (không do tiếng ồn) trong cùng khung 90 giây là 6–8%; xác suất thức giấc do ồn chỉ bắt đầu lớn hơn 0 ở khoảng 33–38 dB(A) LAS,max trong phòng. | Thức tự phát: đường sắt 6,1%, máy bay 7,7%, đường bộ 8,2%; ngưỡng ~33–38 dBA | Tổng quan | Phân tích gộp PSG thực địa; LAS,max trong phòng ngủ · Như trên (61 + 33 + 94 người) | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-014 | Gộp ba nghiên cứu phòng lab của Đức: ở cùng LAS,max, xác suất thức giấc tăng theo thứ tự máy bay < đường bộ < đường sắt; đường bộ và đường sắt không khác nhau có ý nghĩa; ở 70 dB thức giấc do máy bay ít hơn đường sắt hơn 7%. | Máy bay < đường bộ ≈ đường sắt (p = 0,988 giữa đường bộ và đường sắt); tổng 109.836 sự kiện ồn | Người | Gộp 3 thực nghiệm PSG trong phòng lab (STRAIN, AIRORA, IfADo); thức giấc = chuyển sang thức hoặc S1. Mức LAS,max phát lại: STRAIN máy bay 45–80 dB (bước 5 dB), 4–128 sự kiện/đêm; AIRORA máy bay, đường bộ, đường sắt 45–65 dB, 0/40/80/120 sự kiện/đêm; IfADo E1 máy bay 46–77, đường bộ 46–74, đường sắt 45–74 dB (E3 56–68 dB). Phân tích bằng hồi quy logistic hiệu ứng hỗn hợp. · n = 237 người lớn khoẻ (STRAIN 112, 19–65 tuổi; AIRORA 72, 18–71 tuổi; IfADo 53, 20–29 tuổi) | Elmenhorst và cs., 2019 |
| b1-015 | Trong dữ liệu gộp phòng lab, xác suất thức giấc tăng theo thời gian đã ngủ (càng về sáng càng dễ thức), giảm theo thời gian đã ở trong cùng giai đoạn; thức từ ngủ sâu (S3/S4) và REM ít khả năng hơn từ S2; tốc độ tăng mức âm (rise time) là biến dự báo có ý nghĩa cao. | Giả định mô hình: rise time trung vị 5,8 dB/s; thời lượng sự kiện trung vị 20 s | Người | Phòng lab, PSG, hồi quy logistic theo sự kiện · n = 237 | Elmenhorst và cs., 2019 |
| b1-022 | Ba hàm thức giấc phổ biến có ngưỡng mức trong nhà khác nhau khi xấp xỉ: Passchier-Vermeer 43 dB, ANSI 39 dB, Basner 32 dB; hàm Basner đo thức giấc trên EEG, xảy ra thường hơn nhiều so với thức giấc hành vi (bấm nút), nên các ước tính không so trực tiếp được. | Ngưỡng xấp xỉ: 43 / 39 / 32 dB | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Xấp xỉ hàm p = a(L − b)^c cho từng đường liều–đáp ứng · Không áp dụng | Tagusari và cs., 2016 |
| b1-030 | Tổng quan trên Lancet nêu mức áp suất âm tối đa thấp tới LAmax 33 dB đã có thể gây phản ứng sinh lý khi ngủ (thức giấc vỏ não, vận động, thực vật như tăng nhịp tim); phản ứng thực vật quen dần ít hơn nhiều so với các loại khác. | LAmax 33 dB | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Basner và cs., 2014 |
| b1-031 | Tổng quan Lancet 2014 nhận định các thay đổi cấu trúc giấc ngủ do ồn (vào giấc chậm, thức sớm, ít ngủ sâu và REM, nhiều thức và ngủ nông) không đặc hiệu cho tiếng ồn và nhìn chung nhẹ hơn các rối loạn giấc ngủ lâm sàng như ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Basner và cs., 2014 |
| b1-034 | Thực nghiệm phòng lab: khác biệt giữa các cá nhân giải thích 40,5% tổng phương sai xác suất thức giấc và 52,0% xác suất arousal EEG do ồn giao thông; với 64 chuyến bay ở LAmax 65 dB(A), người nhạy nhất thức ở 88% sự kiện, người bền nhất chỉ 3,3%. | Phương sai: 40,5% (thức giấc), 52,0% (arousal); khoảng 39,1–48,4% và 50,3–65,3% theo mô hình; 88% so với 3,3% sự kiện | Người | Thực nghiệm phòng lab ngẫu nhiên, cân bằng, mù đôi, đo lặp; PSG; 1 đêm làm quen, 9 đêm phơi nhiễm (40/80/120 sự kiện đường bộ, đường sắt, máy bay), 1 đêm hồi phục; mô hình hiệu ứng hỗn hợp hiệu chỉnh tuổi, giới, số sự kiện, đêm · n = 69 người lớn khoẻ, 18–68 tuổi | McGuire và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-035 | Thực nghiệm phòng lab ở người trẻ và người lớn tuổi: tiếng ồn giao thông ban đêm (trung bình 45 dB, đỉnh 50–62 dB) làm tăng chỉ số arousal EEG; tần suất thoi ngủ (sleep spindle) giảm theo tuổi kèm nhiều thay đổi giấc ngủ do ồn hơn, nhưng tần suất thoi ngủ không dự báo xác suất thức giấc từ từng sự kiện tàu. | LAeq trung bình 45 dB; LAmax 50–62 dB; 4 đêm phơi nhiễm | Người | Thực nghiệm phòng lab 6 ngày, PSG; 1 đêm nền và 1 đêm hồi phục yên tĩnh, 4 đêm ồn đường bộ hoặc đường sắt liên tục hoặc gián đoạn · 26 người trẻ (19–33 tuổi) và 18 người lớn tuổi (52–70 tuổi), khoẻ | Rudzik và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b1-039 | Thực nghiệm phòng lab 11 đêm: tác động lên cấu trúc và tính liên tục của giấc ngủ là tinh tế ngay cả trong đêm phơi nhiễm kết hợp, có thể do quen dần; nhưng arousal tim không quen dần qua các đêm; ồn đường bộ gây thay đổi cấu trúc ngủ lớn nhất, máy bay gây arousal vỏ não và phản ứng tim ít hơn đường bộ và đường sắt. | 40/80/120 sự kiện mỗi đêm; thời gian phản ứng PVT tăng 4 ms | Người | Thực nghiệm phòng lab đo lặp, PSG + ECG; 11 đêm liên tiếp gồm 8 đêm ồn và 1 đêm chứng không ồn; ồn đường sắt, đường bộ và/hoặc máy bay · n = 72 người lớn khoẻ, 18–71 tuổi | Basner và cs., 2011 (tóm tắt) |
| b1-042 | Thông cáo của DLR về nghiên cứu 72 người, 11 đêm nêu rằng một người khoẻ thức dậy khoảng 20 lần mỗi đêm (phần lớn không nhớ); tốc độ tăng mức âm ảnh hưởng đáng kể đến mức độ xáo trộn giấc ngủ, và người tham gia đánh giá ồn máy bay là phiền nhất dù đo được ít xáo trộn hơn. | ~20 lần thức/đêm; mức tối đa phát lại 45–65 dB | Báo chí, thông cáo | Thông cáo báo chí về thực nghiệm phòng lab PSG · n = 72, 18–71 tuổi, 11 đêm | Deutsches Zentrum für Luft-, 2011 |
| b1-044 | Nghiên cứu thí điểm thực địa quanh sân bay Philadelphia dùng thiết bị ECG + actigraphy đeo ngực (thức giấc ≥15 giây dựa trên nhịp tim và cử động) tìm thấy đường liều–đáp ứng có ý nghĩa giữa LAS,max trong phòng và xác suất thức giấc. | Hệ số LAS,max 0,0274/dB (SE 0,0092; p = 0,0056), hiệu chỉnh 0,0262 (SE 0,0098); quy đổi ≈ OR 1,3 mỗi 10 dB (nhánh này tự tính); LAS,max trong phòng trung vị 45,5 dBA; 2.010 sự kiện máy bay phân tích | Người | Thực địa, 3 đêm không giám sát; ECG 2 điện cực + actigraphy (kappa so với PSG 0,87); máy đo âm đặt ~30 cm trên đệm gần đầu giường, LAeq 1 giây + dải 1/3 octave; hiệu chỉnh tuổi, giới, BMI, thời gian từ khi ngủ · n = 79 hoàn thành (gần sân bay và vùng chứng) | Basner và cs., 2019 |
| b1-045 | Ở Philadelphia, LAeq trong phòng trong thời gian ngủ có trung vị 43,2 dBA ở nhà gần sân bay và 31,8 dBA ở vùng chứng; ở 46% số nhà gần sân bay có những khoảng âm máy bay bị che bởi tiếng nền cao (máy sưởi, máy điều hoà, quạt); tuyển người khó (3.700 tờ rơi cho 80 người). | 43,2 so với 31,8 dBA; 46% số nhà gần sân bay có khoảng bị che; 3.700 tờ rơi → 80 người | Người | Đo âm trong phòng ngủ cạnh giường · n = 79 | Basner và cs., 2019 |
| b1-053 | Thực nghiệm phòng lab: tiếng ồn điện gió hoặc giao thông 20 giây gây K-complex trong giấc N2 ở mức thấp tới 33 dBA, trong khi arousal EEG và thức giấc chỉ liên quan với ồn trên 39 dBA; K-complex xuất hiện nhiều gấp khoảng 2 lần arousal; loại ồn (gió hay đường bộ) không tạo khác biệt phát hiện được. | OR K-complex 33 so với 23 dBA: 1,75 (1,16–2,66); ngưỡng arousal/thức giấc >39 dBA | Người | Thực nghiệm phòng lab, PSG; ồn 20 giây ở 6 mức 33–48 dBA phát trong N2 hoặc sâu hơn, nền 23 dBA · n = 25 | Lechat và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-055 | Hướng dẫn tiếng ồn ban đêm châu Âu của WHO 2009 liệt kê ngưỡng LAmax trong phòng cho các tác động có bằng chứng đủ: bắt đầu cử động 32 dB, thức giấc trên EEG 35 dB, thay đổi cấu trúc/giai đoạn ngủ 35 dB, thức dậy trong đêm hoặc dậy quá sớm 42 dB; thay đổi hoạt động tim mạch được xếp có bằng chứng đủ nhưng không xác định được ngưỡng. | LAmax,inside: 32 (cử động) / 35 (thức EEG; cấu trúc ngủ) / 42 (thức dậy hành vi) dB; Lnight,outside: 42 dB (rối loạn tự báo cáo, tăng cử động trung bình, "mất ngủ do môi trường"), 40 dB (tỉ lệ dùng thuốc hỗ trợ ngủ — 'somnifacient drugs and sedatives') | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn WHO dựa trên tổng hợp bằng chứng; chỉ số LAmax đo trong phòng, Lnight ngoài nhà · Không áp dụng | WHO Regional Office for Europe, 2009 |
| b1-057 | WHO 2009 ước tính với một tuyến đường đô thị điển hình, số lần thức giấc tối đa ở Lnight,outside 60–65 dB vào khoảng 300 lần mỗi năm; máy bay gây ít lần thức hơn đường bộ nhưng tác động sức khoẻ tương tự hoặc lớn hơn. | ~300 lần/năm ở Lnight 60–65 dB (đường bộ) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Ước tính mô hình trong hướng dẫn WHO · Không áp dụng | WHO Regional Office for Europe, 2009 |
| b1-058 | Tổng quan của Hume, Brink và Basner nhận định sự kiện ồn gây arousal ở mức phơi nhiễm tương đối thấp và độc lập với loại nguồn, và tiếng ồn ban đêm có thể liên quan đến bệnh tim mạch nhiều hơn tiếng ồn ban ngày. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Hume và cs., 2012 (tóm tắt) |
| b1-059 | Nghiên cứu thí điểm thứ hai do FAA tài trợ quanh sân bay Atlanta: thức giấc tự báo cáo và thức giấc sinh lý (ECG + actigraphy, ≥15 giây) tăng theo mức LAS,max của máy bay, nhưng với thức giấc sinh lý chỉ ở mức ý nghĩa biên; dữ liệu đầy đủ ở 87,6% số đêm. | 34 người hoàn thành 5 đêm trên 407 người trả lời (4.080 hộ được gửi thư, Lnight ≥35 dB); 87,6% đêm đủ dữ liệu | Người | Thực địa tại nhà, 5 đêm không giám sát; ECG + actigraphy (Faros 90); ghi âm trong phòng, chấm LAS,max; cửa sổ phân tích −5 đến +45 giây quanh sự kiện · n = 34 người lớn quanh sân bay Hartsfield-Jackson (Atlanta) | Basner và cs., 2020 |
| b1-065 | Thực nghiệm PSG với 14 loại âm bệnh viện phát tăng dần 40–70 dBA: âm điện tử (chuông điện thoại, báo động truyền dịch) gây arousal nhiều hơn các âm khác ở cùng mức, kể cả giọng người; âm phát trong N3 ít gây arousal hơn trong N2. | 40 → 70 dBA, bước 5 dBA | Người | Thực nghiệm phòng lab cách âm, PSG 3 ngày (1 đêm giả + 2 đêm can thiệp); 14 loại âm (giọng nói, báo động truyền dịch, điện thoại, máy làm đá, giao thông, trực thăng…) phát trong REM, N2, N3; arousal chấm theo tiêu chí AASM · n = 12 người khoẻ | Buxton và cs., 2012 (tóm tắt) |
| b1-066 | Trong cùng thực nghiệm, khi âm phát trong giấc REM, xác suất arousal ít khác nhau giữa các loại âm hơn so với NREM nhưng gây tăng nhịp tim lớn hơn và kéo dài hơn. | Định tính | Người | Như trên · n = 12 | Buxton và cs., 2012 (tóm tắt) |
| b1-067 | Chương trình STRAIN của DLR: trong phòng lab (128 người, 13 đêm, 4–128 sự kiện máy bay 45–80 dB(A)), ồn máy bay làm tăng giai đoạn 1 và thức giấc, giảm ngủ sóng chậm; ở thực địa (64 cư dân quanh sân bay Cologne, 9 đêm), ồn máy bay hầu như không đổi cấu trúc giấc ngủ, xác suất thức giấc ở cùng LAS,max thấp hơn nhiều nhưng quen dần không hoàn toàn. | Phòng lab 128 người × 13 đêm; thực địa 64 người × 9 đêm | Người | Thực nghiệm phòng lab PSG + nghiên cứu thực địa PSG tại nhà · 128 người (phòng lab, gồm 16 chứng) + 64 cư dân (thực địa) | Samel và Basner, 2006 (tóm tắt) |
| b1-068 | Ở nghiên cứu thực địa STRAIN, ngưỡng thức giấc do máy bay là 33 dB(A) LAS,max trong phòng, chỉ cao hơn mức nền đo được (27 dB(A)) 6 dB(A); trong phòng lab không tìm thấy ngưỡng trong khoảng 45–80 dB(A); ví dụ 0,2% người thức giấc với sự kiện đỉnh 34 dB(A). | Ngưỡng 33 dB(A); nền 27 dB(A); 0,2% ở 34 dB(A); >33.000 sự kiện phát lại trong lab, >15.000 sự kiện ghi ở thực địa | Người | Nghiên cứu thực địa PSG + phòng lab; LAS,max trong phòng ngủ · 64 cư dân (thực địa); 128 người (lab) | Samel và cs., 2007 |
| b1-069 | DLR dùng kết quả STRAIN để đề xuất tiêu chí bảo vệ cho sân bay Leipzig/Halle: trung bình, tiếng ồn máy bay không được gây thêm quá một lần thức giấc mỗi đêm. | < 1 lần thức giấc thêm/đêm (trung bình) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tiêu chí quy hoạch dựa trên đường liều–đáp ứng thực địa · Không áp dụng | Samel và cs., 2007 |
| b1-071 | Tổng quan về tác động tiếng ồn hàng không: đường liều–đáp ứng rút ra từ thực địa thoải hơn nhiều so với từ phòng lab xa lạ do người ở nhà quen dần; tuy mức tương đương (Leq) tương quan với rối loạn giấc ngủ, số lượng và đặc tính âm học của sự kiện phản ánh tốt hơn mức độ rối loạn. | Ngưỡng phản ứng sinh lý 33 dB(A) (không phải giá trị giới hạn) | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Basner và cs., 2017 |
| b1-074 | Giao thức nghiên cứu giấc ngủ quốc gia của FAA dự kiến tuyển 400 người quanh 77 sân bay Mỹ ở 39 bang, chia 4 tầng Lnight (40–45, 45–50, 50–55, ≥55 dB), đo 5 đêm liên tiếp bằng ECG + cử động và ghi âm cạnh giường; lý do: dữ liệu giấc ngủ của Mỹ đã cũ (nghiên cứu gần nhất năm 1996). | 400 người; 77 sân bay; 5 đêm; 4 tầng Lnight | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Giao thức nghiên cứu thực địa (chưa có kết quả trong bài); kết cục chính: xác suất thức giấc theo LAS,max trong phòng ngủ · Dự kiến n = 400 | Basner và cs., 2023 |
| b1-076 | Thử nghiệm ngẫu nhiên trong phòng lab: ở cùng mức âm, khởi phát ồn điện gió 20 giây gây arousal EEG ít hơn một chút so với ồn giao thông đường bộ; xác suất arousal nhìn chung thấp, nhất là trong ngủ sâu. | 40 dBA: điện gió 2,1% (KTC 95% 1,5–2,9) so với đường bộ 3,2% (2,4–4,2), p = 0,016; 50 dBA: 5,0% (4,0–6,2) so với 8,6% (6,9–10,6), p < 0,001; thức giấc <4% ở 50 dBA | Người | RCT phòng lab 1 đêm, PSG; ồn điện gió và đường bộ 20 giây ở 30/40/50 dBA thứ tự ngẫu nhiên; arousal = chuyển EEG nhanh >3 giây, thức giấc >15 giây; hồi quy logistic hiệu ứng hỗn hợp · 68 người lớn tuyển, 62 phân tích (35 nữ, tuổi 49 ± 20) | Lechat và cs., 2026 (tóm tắt) |
| b1-077 | Cùng thử nghiệm cho thấy xác suất arousal do một sự kiện ồn 20 giây tăng theo mức: với ồn đường bộ từ khoảng 3% ở 40 dBA lên khoảng 9% ở 50 dBA — tức phần lớn sự kiện ồn ở các mức này không gây arousal trên EEG. | Đường bộ 3,2% (40 dBA) → 8,6% (50 dBA) | Người | Như trên · n = 62 | Lechat và cs., 2026 (tóm tắt) |
| b1-081 | Thực nghiệm PSG phát âm thanh ICU ở cùng LAeq 47 dB: hạ mức tối đa từ 64 xuống 56 dBA không cải thiện chất lượng giấc ngủ ở người khoẻ; cả hai đêm phơi nhiễm đều ít ngủ sóng chậm và nhiều thời gian thức hơn đêm chứng; arousal không liên quan với mức tối đa. | LAeq 47 dB; LAFmax 64 so với 56 dB | Người | Thực nghiệm phòng lab, PSG 4 đêm (1 làm quen, 1 chứng, 2 phơi nhiễm); cortisol nước bọt buổi sáng; bảng hỏi · n = 15 người khoẻ | Persson Waye và cs., 2012 (tóm tắt) |
| b1-083 | Thực nghiệm PSG ngẫu nhiên chéo trong phòng lab: so với đêm không ồn, đêm phát ồn môi trường gián đoạn (93 sự kiện có đỉnh 45, 55, 65 dB LAS,max; mức trung bình 43,2 dBA) làm giảm ngủ sâu N3 khoảng 23 phút và tăng N2 khoảng 21 phút; thời gian thức sau khi ngủ, REM và hiệu suất ngủ thay đổi ít, không có ý nghĩa thống kê. | N3 101,0 → 77,6 phút; REM 118,1 → 111,0 phút; WASO 17,7 → 23,7 phút; hiệu suất 96,4% → 94,9%; N2 196,1 → 216,9 phút | Người | RCT chéo trong phòng lab, PSG; 1 đêm làm quen + 6 đêm điều kiện; ồn máy bay/giao thông phát lại ở LAS,max 45/55/65 dB, 93 sự kiện/đêm ồn; mức trung bình 43,2 dBA so với đêm chứng 23,7 dBA · 27 người tuyển, 25 phân tích (tuổi trung bình 28,5; 7 nam) | Basner và cs., 2026 |
| b1-084 | Tổng hợp trong bài gộp ba nghiên cứu phòng lab: chất lượng giấc ngủ đo khách quan và mức khó chịu vì ồn không liên quan với nhau, trong khi chất lượng ngủ chủ quan chịu trung gian bởi sự khó chịu. | Định tính | Người | Thuật lại trong phần bàn luận của bài gộp (dẫn Frei, Mohler, Röösli 2014 — nghiên cứu ồn đường bộ, khó chịu và chất lượng giấc ngủ khách quan/chủ quan); không phải phân tích trên dữ liệu gộp phòng lab · Không áp dụng (nguồn thứ cấp; cỡ mẫu của Frei 2014 chưa kiểm) | Elmenhorst và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b1-085 | Trong thực nghiệm 72 người, 11 đêm, đánh giá chủ quan về chất lượng ngủ và hồi phục xấu nhất sau đêm ồn máy bay và đường sắt, trong khi đo khách quan thì đường bộ gây thay đổi cấu trúc ngủ lớn nhất và máy bay gây arousal ít nhất. | Định tính; hiệu suất thực hiện khách quan hầu như không đổi (PVT +4 ms) | Người | Thực nghiệm phòng lab PSG 11 đêm; bảng hỏi buổi sáng; PVT · n = 72, 18–71 tuổi | Basner và cs., 2011 (tóm tắt) |
Tim mạch khi ngủ trong tiếng ồn và sự quen dần#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-009 | Tổng quan WHO 2018 nhận định người ngủ thường quen dần với tiếng ồn nhưng không hoàn toàn, và phản ứng của hệ thần kinh thực vật (nhịp tim) quen dần ít hơn nhiều so với thức giấc vỏ não. | Định tính | Tổng quan | Tổng quan tường thuật (phần phản ứng tim mạch) · Không áp dụng | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-019 | Thực nghiệm phòng lab: mỗi chuyến tàu hàng mô phỏng làm nhịp tim tăng trung bình ít nhất 3 nhịp/phút ở 79% người tham gia đêm rung cao 36 chuyến, so với 17–38% khi là sự kiện giả; phản ứng nhịp tim lớn nhất trong giấc REM. | ≥3 bpm/chuyến: 79% (High36), 74% (High20), 54% (Low36), 52% (Low20); sự kiện giả 17–38% | Người | Thực nghiệm phòng lab, PSG + ECG, 6 đêm liên tiếp (1 làm quen, 1 chứng, 4 phơi nhiễm 20 hoặc 36 chuyến, rung thấp/cao 10 Hz); nền 25 dBA tại gối; loại các sự kiện kèm thức giấc khỏi phân tích nhịp tim · n = 24 người trẻ khoẻ, 19–28 tuổi | Croy và cs., 2013 |
| b1-020 | Thực nghiệm phòng lab mô phỏng tàu hàng: rung càng lớn thì độ trễ phản ứng nhịp tim càng ngắn và chất lượng ngủ tự báo cáo càng giảm; xáo trộn tự đánh giá do rung tăng theo biên độ còn do tiếng ồn thì không đổi. | Độ trễ nhịp tim giảm theo biên độ rung (p = 0,043); chất lượng ngủ tự báo cáo giảm (p = 0,033); xáo trộn do rung tăng (p = 0,002); rung cao đỉnh 0,0204 m/s² | Người | Phòng lab, 6 đêm (1 làm quen, 1 chứng, 4 phơi nhiễm), 36 chuyến/đêm; rung ngang 10 Hz; loa trần tái tạo âm tần thấp; ECG + EEG · n = 12 người trẻ khoẻ, 20–29 tuổi | Smith và cs., 2013 |
| b1-032 | Hai thực nghiệm phòng lab của Cơ quan Môi trường Liên bang Đức: ồn máy bơm nhiệt nguồn khí phát lại ở mức tại tai trung bình LAeq,1h 30,4 dB(A) (mô phỏng cửa sổ mở hé, đỉnh 41 dB(A)) không làm thay đổi hiệu suất ngủ, tổng thời gian ngủ hay tỉ lệ ngủ sâu N3 so với đêm yên tĩnh. | Hiệu suất ngủ 83,1% / 81,5% / 83,1% (yên tĩnh / mở hé / đóng; p = 0,33); N3 18,0% / 17,9% / 17,5%; tổng ngủ 398,8 / 390,9 / 398,7 phút | Người | Thực nghiệm phòng lab, PSG 8 giờ, 3 đêm cách nhau 1 tuần (yên tĩnh; bơm nhiệt cửa mở hé; bơm nhiệt cửa đóng ~21 dB(A), đỉnh 30 dB(A)); không có đêm làm quen · n = 40 người lớn khoẻ, 18–65 tuổi (trung bình 37,5) | Benz và cs., 2024 |
| b1-033 | Cùng nghiên cứu: số arousal liên quan đến ồn cao hơn có ý nghĩa ở điều kiện cửa mở hé so với cửa đóng (chỉ có ý nghĩa ở nữ); khi thức, ồn bơm nhiệt làm tăng khó chịu, khó tập trung đọc và tâm trạng xấu hơn; tác giả nói hiệu ứng khi ngủ nhỏ và không nhất thiết là bệnh lý. | Chỉ số arousal 6,7 / 7,5 / 6,8 lần/giờ (yên tĩnh / mở hé / đóng); số lần chuyển sang thức do ồn 3,9 ± 2,2 so với 3,7 ± 2,5 | Người | Như trên; arousal EEG trên PSG · n = 40 | Benz và cs., 2024 |
| b1-036 | Thực nghiệm phòng lab: ồn đường bộ gián đoạn cao ở LAeq 45 dB làm tăng tổng thời gian arousal thực vật (tự chủ) mà không làm thay đổi cấu trúc giấc ngủ trên PSG; cortisol buổi tối tăng sau đêm ồn đường bộ gián đoạn cao. | LAeq 45 dB (8 giờ); tương quan arousal thực vật – cortisol hôm sau r = 0,64 (p = 0,006); cortisol tối p = 0,002 | Người | Thực nghiệm phòng lab 5 ngày liên tục; 4 kịch bản ồn đường bộ/đường sắt gián đoạn thấp, vừa, cao cùng LAeq 45 dB; PSG + ECG; huyết áp, catecholamine, cytokine · n = 26 người trẻ khoẻ (12 nữ, trung bình 24,6 tuổi) | Thiesse và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-037 | Thực nghiệm phòng lab: khi sự kiện ồn giao thông gây thức giấc, nhịp tim tăng một pha kéo dài hơn 1 phút với mức tăng tối đa trung bình 30 nhịp/phút; khi không thức giấc, nhịp tim vẫn tăng tối đa khoảng 9 nhịp/phút rồi giảm xuống dưới nền. | +30 bpm (có thức giấc); +9 bpm rồi giảm dưới nền (không thức giấc) | Người | Thực nghiệm phòng lab, PSG + ECG; 4 đêm liên tiếp/tuần × 3 tuần (1 đêm yên tĩnh 32 dBA + 3 đêm ồn mỗi tuần); ồn máy bay, đường sắt, đường bộ LAmax 45–77 dBA · n = 24 (12 nữ, 12 nam), 19–28 tuổi | Griefahn và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b1-038 | Phản ứng nhịp tim với ồn giao thông không giảm dần (không quen dần) trong cùng một đêm. | Định tính | Người | Như trên (phòng lab, PSG + ECG) · n = 24, 19–28 tuổi | Griefahn và cs., 2008 (tóm tắt) |
| b1-040 | Nghiên cứu thực địa có làm mù: đêm phát 60 sự kiện máy bay tại nhà (đỉnh trung bình ~60 dB(A), Leq 46,3 dB) đi kèm giảm giãn mạch qua trung gian dòng chảy (flow-mediated dilation, FMD) và tăng adrenaline buổi sáng so với đêm chứng, có xu hướng theo liều. | FMD 10,4% (chứng) / 9,7% (30 sự kiện) / 9,5% (60 sự kiện); Noise60 so với chứng p = 0,016; xu hướng liều p = 0,020; adrenaline 28,3 / 33,2 / 34,1 ng/L (p = 0,0099) | Người | Thực nghiệm thực địa tại nhà, 3 đêm thứ tự ngẫu nhiên (chứng, 30 hoặc 60 sự kiện máy bay phát lại); FMD đo sáng hôm sau; chất lượng ngủ tự báo cáo · n = 75 người lớn khoẻ phân tích (88 tuyển), tuổi trung bình ~26 | Schmidt và cs., 2013 |
| b1-041 | Trong cùng nghiên cứu, đêm 60 sự kiện máy bay đi kèm thời gian truyền mạch (pulse transit time — chỉ dấu độ cứng động mạch) ngắn hơn, còn chất lượng ngủ tự báo cáo buổi sáng giảm theo số sự kiện. | Pulse transit time 271,8 → 264,9 ms (p = 0,003); chất lượng ngủ tự báo cáo p < 0,001 | Người | Như trên · n = 75 | Schmidt và cs., 2013 |
| b1-052 | Thực nghiệm phòng lab: xác suất xuất hiện giảm biên độ sóng mạch ngón tay (finger pulse wave amplitude, FPWA — dấu hiệu co mạch do hoạt hoá thực vật) tăng có ý nghĩa sau khi bắt đầu tiếng ồn môi trường ở mức thấp tới 33 dB(A); độ lớn phản ứng nhỏ và tương tự phản ứng tự phát. | Ngưỡng 33 dB(A); mức phát tối đa 48 dB(A) | Người | Thực nghiệm phòng lab trong cùng đối tượng, PSG + đo sóng mạch ngón tay; 2 đêm phơi nhiễm cách nhau 1 tuần · n = 23 người khoẻ | Zajamsek và cs., 2019 (tóm tắt) |
| b1-063 | Thực nghiệm phòng lab: sau đêm ồn tần số thấp (40 dB LAeq), đáp ứng cortisol khi thức dậy bị giảm ở thời điểm 30 phút sau khi thức, và người tham gia vào giấc lâu hơn khi phơi nhiễm ồn tần số thấp; đêm ồn giao thông (35 dB LAeq, LAmax 50 dB) gây khó chịu nhiều hơn. | LFN 40 dB LAeq; giao thông 35 dB LAeq / 50 dB LAmax | Người | Thực nghiệm phòng lab, 5 đêm liên tiếp (1 làm quen, đêm tham chiếu, đêm ồn giao thông và đêm ồn tần số thấp xen kẽ); cortisol nước bọt; chất lượng ngủ tự báo cáo · n = 12 nam | Persson Waye và cs., 2003 (tóm tắt) |
| b1-070 | Dự án CargoVibes (EU): qua ba thực nghiệm phòng lab, rung ban đêm từ tàu hàng ảnh hưởng xấu đến giấc ngủ và tác động tăng theo mức rung; ồn đơn thuần hoặc ồn kèm rung thấp ít tác động; tác động của rung và ồn cộng gộp trực tiếp lên xác suất chuyển giai đoạn ngủ và arousal vỏ não. | Rung 10 Hz, biên độ trọng số Wd 0,0058–0,0204 m/s²; 20 hoặc 36 chuyến/đêm | Người | Ba thực nghiệm phòng lab PSG + ECG; cân bằng giới và độ nhạy cảm với ồn · n = 59 người trẻ khoẻ (tổng 3 nghiên cứu) | CargoVibes consortium, 2014 |
| b1-072 | Nghiên cứu thực địa HYENA quanh 4 sân bay châu Âu: trong các khoảng 15 phút có sự kiện máy bay, huyết áp tâm thu đo lưu động tăng 6,2 mmHg và tâm trương 7,4 mmHg; mỗi 5 dB LAeq 15 phút tăng thêm đi kèm +0,74 mmHg tâm thu. | Tâm thu +6,2 mmHg (KTC 95% 0,63–12); tâm trương +7,4 mmHg (3,1–12); mỗi 5 dB: +0,74 (0,40–1,08) / +0,63 (0,34–0,91) mmHg; nhịp tim +5,4 bpm (không ý nghĩa) | Người | Thực địa 1 đêm; huyết áp lưu động mỗi 15 phút; máy đo âm trong phòng ngủ (LAeq 1 và 15 phút, LAmax; sự kiện khi LAmax >35 dB), xác định nguồn qua ghi âm; giấc ngủ theo nhật ký; mô hình hỗn hợp, mỗi người là chứng của chính mình, hiệu chỉnh trình tự đo và L90 · n = 140 người 45–70 tuổi quanh Athens, Malpensa, Arlanda, Heathrow | Haralabidis và cs., 2008 |
| b1-073 | Trong HYENA, khi dùng LAmax thực của sự kiện, mức tăng huyết áp không khác hệ thống giữa máy bay, đường bộ và âm trong nhà (gồm cả tiếng ngáy); tác giả cho rằng độ lớn tác động phụ thuộc mức âm chứ không phải nguồn. | Định tính | Người | Như trên · n = 140 | Haralabidis và cs., 2008 |
| b1-079 | Thực nghiệm PSG: rung tàu hàng mạnh hơn đi kèm xác suất arousal/thức giấc và chuyển giai đoạn ngủ cao hơn; đêm rung cao 36 chuyến làm đoạn N3 liền mạch dài nhất ngắn hơn 5,6 phút và lần thức đầu tiên sớm hơn 25,3 phút so với đêm chứng. | Xác suất arousal/thức thêm ~15% (rung vừa) và ~30% (rung cao); N3 liền mạch −5,6 phút; WASO +7,2 phút khi tăng số chuyến ở đêm rung cao; rung 0,7 và 1,4 mm/s (0,0102 và 0,0204 m/s²) | Người | Thực nghiệm phòng lab giai thừa 2×2 (rung vừa/cao × 20/36 chuyến), Latin square, 1 đêm làm quen + 1 đêm chứng + 4 đêm phơi nhiễm, 23:00–07:00; PSG · n = 24 người trẻ khoẻ, 19–28 tuổi | Smith và cs., 2016 |
| b1-080 | Trong cùng thực nghiệm, số chuyến tàu (20 so với 36) nhìn chung không ảnh hưởng xác suất phản ứng EEG mỗi sự kiện, trong khi biên độ rung thì có — mức của từng sự kiện quan trọng hơn số sự kiện với phản ứng EEG. | Định tính | Người | Như trên · n = 24 | Smith và cs., 2016 |
Khảo sát giấc ngủ, chỉ số âm và ngưỡng đêm của WHO#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-001 | Tổng quan hệ thống làm nền cho Hướng dẫn tiếng ồn môi trường WHO 2018 (Environmental Noise Guidelines) gồm 74 nghiên cứu ngoài phòng lab, phần lớn thực hiện 2000–2015, với mức ồn đo hoặc ước tính; chất lượng bằng chứng chấm theo GRADE. | 74 nghiên cứu; tìm kiếm năm 2014, bổ sung 30/7/2015 và 1/12/2015 | Tổng quan | Tổng quan hệ thống + phân tích gộp (khảo sát tự báo cáo; PSG gộp; tổng quan tường thuật cho cử động, tim mạch, trẻ em, điện gió, bệnh viện) · 74 nghiên cứu; phân tích gộp tự báo cáo dùng dữ liệu 30 khảo sát | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-002 | Khi câu hỏi nhắc tới tiếng ồn, mỗi 10 dB Lnight (ngoài nhà, mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất) tăng thêm đi kèm OR của tỉ lệ bị rối loạn giấc ngủ nặng tự báo cáo (highly sleep disturbed, %HSD) là 1,94 với máy bay, 2,13 với đường bộ, 3,06 với đường sắt. | OR/10 dB Lnight: máy bay 1,94 (KTC 95% 1,61–2,3); đường bộ 2,13 (1,82–2,48); đường sắt 3,06 (2,38–3,93) | Tổng quan | Phân tích gộp các khảo sát cắt ngang; giấc ngủ = thang tự báo cáo (%HSD); phơi nhiễm Lnight ngoài nhà ước tính/đo tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất, không phải phòng ngủ · Dữ liệu 30 khảo sát (5 khảo sát khác không lấy được dữ liệu) | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-003 | Khi câu hỏi về giấc ngủ không nhắc tới tiếng ồn, liên quan giữa Lnight và %HSD không còn có ý nghĩa thống kê với cả ba nguồn giao thông. | OR/10 dB: máy bay 1,17 (0,54–2,53); đường bộ 1,09 (0,94–1,27); đường sắt 1,27 (0,89–1,81) | Tổng quan | Phân tích gộp khảo sát cắt ngang; thang tự báo cáo không gắn với tiếng ồn; Lnight ngoài nhà tại mặt tiền · Tập con các khảo sát trong 30 khảo sát của phân tích gộp | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-006 | Tổng quan WHO 2018 đưa ra đường bậc hai %HSD theo Lnight ngoài nhà (40–65 dB) cho từng nguồn. Theo văn bản của bài, ở Lnight 40 dB khoảng 2% dân số bị rối loạn giấc ngủ nặng tự báo cáo với đường bộ và đường sắt, và 10% với máy bay. | Máy bay %HSD = 16,7885 − 0,9293·Lnight + 0,0198·Lnight²; đường bộ = 19,4312 − 0,9336·Lnight + 0,0126·Lnight²; đường sắt = 67,5406 − 3,1852·Lnight + 0,0391·Lnight² (khoảng hợp lệ 40–65 dB). Tại Lnight 40 dB, theo văn bản: đường bộ và đường sắt khoảng 2%, máy bay 10%. | Tổng quan | Phân tích gộp khảo sát (câu hỏi có nhắc tiếng ồn); Lnight ngoài nhà, giá trị gán bằng điểm giữa các khoảng 5 dB · Dữ liệu gộp từ các khảo sát của tổng quan | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-007 | Theo GRADE, chất lượng bằng chứng ở mức trung bình cho thức giấc vỏ não và cho rối loạn giấc ngủ tự báo cáo do giao thông (câu hỏi có nhắc tiếng ồn), thấp cho đo cử động (motility), và rất thấp cho mọi nguồn ồn và kết cục khác. | Trung bình / thấp / rất thấp | Tổng quan | Đánh giá GRADE trong tổng quan hệ thống · 74 nghiên cứu | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-008 | Phân tích gộp WHO 2018 về tiếng ồn tuabin gió và rối loạn giấc ngủ tự báo cáo cho OR gộp 1,60 nhưng không có ý nghĩa thống kê; dị biệt rất cao. | OR gộp 1,60 (KTC 95% 0,86–2,94), không có ý nghĩa; I² = 86%; gộp 5 trong 6 nghiên cứu | Tổng quan | Phân tích gộp nghiên cứu cắt ngang tự báo cáo; mức ồn tuabin ước tính ngoài nhà · 6 nghiên cứu tự báo cáo, 5 được đưa vào phân tích gộp | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-010 | Tổng quan WHO 2018 coi người cao tuổi, trẻ em, người làm ca và người có rối loạn (giấc ngủ) sẵn có là nhóm nguy cơ; dữ liệu trẻ em chủ yếu là nghiên cứu bệnh viện nhỏ. | Trẻ sơ sinh: tương quan ồn – trạng thái ngủ r = −0,20 (Corser 1996); trẻ sinh non giảm nhịp thở 10 lần/phút khi ồn vượt nền 10 dBA (Kuhn) | Tổng quan | Tổng quan tường thuật · Không áp dụng | Basner và McGuire, 2018 |
| b1-011 | Bản cập nhật 2022 thêm 11 nghiên cứu mới vào 25 nghiên cứu cũ (36 nghiên cứu); OR %HSD mỗi 10 dB Lnight với câu hỏi nhắc tiếng ồn là 2,18 (máy bay), 2,52 (đường bộ), 2,97 (đường sắt). | Máy bay 2,18 (2,01–2,36); đường bộ 2,52 (2,28–2,79); đường sắt 2,97 (2,57–3,43) | Tổng quan | Tổng quan hệ thống + phân tích gộp khảo sát tự báo cáo; Lnight ngoài nhà (một số chỉ số được quy đổi sang Lnight bằng công thức giả định); GRADE · 36 nghiên cứu; khoảng 109.070 câu trả lời (nghiên cứu mới) và 64.090 (nghiên cứu gốc) | Smith và cs., 2022 |
| b1-012 | Với câu hỏi không nhắc tiếng ồn, bản cập nhật 2022 cho OR nhỏ hơn nhiều; chất lượng bằng chứng thấp đến rất thấp. | Máy bay 1,52 (1,20–1,93); đường bộ 1,14 (1,08–1,21); đường sắt 1,17 (0,91–1,49) | Tổng quan | Phân tích gộp khảo sát tự báo cáo · 36 nghiên cứu (tập con) | Smith và cs., 2022 |
| b1-013 | Ở mức Lnight thấp, đường liều–đáp ứng 2022 khớp với 2018; ở mức cao, máy bay cho rối loạn nhiều hơn ước tính trước, nhưng tác giả cho rằng khuyến nghị WHO không cần xem lại; không khác biệt giữa nghiên cứu châu Âu và ngoài châu Âu. | Định tính | Tổng quan | So sánh đường liều–đáp ứng 2022 với 2018 · 36 nghiên cứu | Smith và cs., 2022 |
| b1-016 | Khảo sát SiRENE ở Thuỵ Sĩ: ở cùng Lnight, máy bay đi kèm tỉ lệ rối loạn giấc ngủ nặng tự báo cáo cao nhất, rồi đến đường sắt, thấp nhất là đường bộ. | 5.592 bảng hỏi trả về trên 18.000 gửi (tỉ lệ phản hồi 31%) | Người | Khảo sát cắt ngang; HSD = 2 mức cao nhất trên thang 5 điểm kiểu ICBEN; Lnight mô hình hoá tại điểm mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất; hiệu chỉnh giới, tuổi, hình thức trả lời, ngôn ngữ · n = 5.592 người lớn Thuỵ Sĩ | Brink và cs., 2019 |
| b1-017 | Trong SiRENE, chỉ số gián đoạn (intermittency ratio, IR — phần năng lượng âm do các sự kiện đơn lẻ đóng góp) điều chỉnh rõ nhất với ồn đường bộ trên khoảng 60 dB(A); với máy bay, tình huống IR thấp ít gây rối loạn hơn ở Lnight thấp; với đường sắt, hiệu ứng IR cao không có ý nghĩa. | Ngưỡng ~60 dB(A) (đường bộ) | Người | Khảo sát cắt ngang, %HSD tự báo cáo; IR tính từ mô hình theo giờ tại mặt tiền · n = 5.592 | Brink và cs., 2019 |
| b1-018 | Trong SiRENE, phòng ngủ quay khỏi con đường gần nhất đi kèm mức rối loạn tự báo cáo thấp tương đương giảm gần 20 dB; chênh lệch với mặt yên tĩnh đi kèm rối loạn ít hơn tương đương 10–15 dB; vị trí cửa sổ phòng ngủ (mở/đóng) không làm thay đổi đường Lnight–%HSD. | Hướng phòng ngủ ≈ 20 dB tương đương; mặt yên tĩnh ≈ 10–15 dB; dùng thuốc (chỉ đường bộ) ≈ 8 dB | Người | Khảo sát cắt ngang, phân tích yếu tố điều chỉnh tác động · n = 5.592 | Brink và cs., 2019 |
| b1-021 | Lnight chỉ tăng 3 dB khi số sự kiện ồn tăng gấp đôi; mô phỏng với 1–50 sự kiện/đêm cho thấy số lần thức giấc dự báo khác nhau nhiều ở cùng một Lnight, nên Lnight đơn lẻ không mô tả đủ nguy cơ thức giấc. | Gấp đôi số sự kiện → Lnight +3 dB | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Mô hình tích phân "tiềm năng thức giấc" của từng sự kiện, dùng ba hàm liều–đáp ứng có sẵn (Passchier-Vermeer theo SEL, ANSI S12.9-2008/Part 6 theo SEL, Basner 2006 theo LAmax, thức giấc EEG); giả định trong nhà thấp hơn ngoài nhà 15 dB · Mô phỏng + đo ngắn hạn đường bộ ở Kyoto và Nara (Nhật) | Tagusari và cs., 2016 |
| b1-023 | Ở 4 điểm đo đường bộ ngoại ô Kyoto, số thức giấc/năm ước tính đảo thứ tự tuỳ hàm: điểm B (Lnight ngoài 55,7 dB) có nguy cơ gấp 4–8 lần điểm C (51,7 dB) theo hàm Passchier-Vermeer/ANSI, nhưng theo hàm Basner thì điểm C (829) cao hơn B (734). | Basner: A 76,8; B 733,6; C 829,1; D 44,0 lần thức/năm | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Đo ồn 24 giờ ngoài nhà, giả định trong nhà thấp hơn 15 dB, áp ba hàm thức giấc · 4 điểm đo, Kyoto | Tagusari và cs., 2016 |
| b1-024 | Nghiên cứu Tiếng ồn tuabin gió và Sức khoẻ của Health Canada: mức ồn tuabin tính toán ngoài nhà không đi kèm hiệu suất ngủ, thời gian vào giấc, số lần thức hay tổng thời gian ngủ đo bằng actigraphy; điểm PSQI và chất lượng ngủ tự báo cáo cũng không đi kèm. | Hiệu suất ngủ trung bình 85%; mức ồn ngoài nhà cao nhất tại nhà dân 46 dBA (gió 8 m/s, sai số ±5 dB) | Người | Cắt ngang; phỏng vấn + actigraphy cổ tay + PSQI; mức ồn tuabin tính toán (mô hình) ngoài nhà, nhóm từ <25 đến ≥40 dBA · 1.238 hộ (tỉ lệ tham gia 78,9%) ở 18 khu điện gió Ontario và Đảo Hoàng tử Edward; phân nhánh actigraphy 654 người (theo tổng quan WHO 2018) | Health Canada, 2014 |
| b1-025 | Trong cùng nghiên cứu Health Canada, tỉ lệ rất khó chịu (highly annoyed) tăng có ý nghĩa khi ồn tuabin vượt 35 dBA và ở mức ≥40 dBA là 16,5% (Ontario) và 6,3% (Đảo Hoàng tử Edward), trong khi giấc ngủ đo khách quan không đi kèm mức ồn. | Rất khó chịu ở ≥40 dBA: 16,5% (Ontario) / 6,3% (Đảo Hoàng tử Edward); tỉ lệ hiện mắc khó chịu ở Ontario cao gấp 3,29 lần (KTC 95% 1,47–8,68) | Người | Cắt ngang; khó chịu tự báo cáo; mức ồn tính toán ngoài nhà · 1.238 hộ | Health Canada, 2014 |
| b1-026 | Health Canada đo mức dB(C) ngoài nhà 24–63 dBC (khoảng 3% nhà vượt 60 dBC), tương quan rất cao với dBA (r = 0,94); cửa sổ đóng chặn trung bình 14 dB ồn tuabin ở dải 16–100 Hz (khoảng 10 dB khi mở hé); hạ âm (infrasound) đo được tới 10 km nhưng thường dưới nền, sát chân tuabin chỉ quanh ngưỡng nghe của ~1% người nhạy nhất. | 24–63 dBC; r(dBA,dBC) = 0,94; giảm trong nhà 14 dB (đóng) / ~10 dB (mở hé); hạ âm giảm 3 dB mỗi lần gấp đôi khoảng cách ngoài 1 km | Người | Đo đạc âm học thực địa ngoài và trong nhà · Các nhà đại diện trong mẫu Health Canada | Health Canada, 2014 |
| b1-027 | Thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi chéo 3 nhánh: 72 giờ hạ âm mô phỏng tuabin gió (~90 dB pk) không làm tăng thời gian thức sau khi đã ngủ (WASO) đo bằng PSG so với giả (−1,36 phút), trong khi nhánh chứng dương ồn giao thông làm WASO tăng 6,07 phút. | Hạ âm so với giả: −1,36 phút (KTC 95% −6,60 đến 3,88; p = 0,60). Giao thông so với giả: +6,07 phút (0,75 đến 11,39; p = 0,02) | Người | RCT chéo mù đôi 3 nhánh (hạ âm / giả / ồn giao thông mở nhãn), mỗi lần 72 giờ gồm 3 đêm, washout >10 ngày; PSG; hạ âm 1,6–20 Hz (không tạo được 0,8 Hz), nền phòng lab 80–85 dB pk; giao thông 40–50 dB LAeq,night, đỉnh 70 dB LAFmax · n = 37 người lớn nhạy cảm với tiếng ồn (thang Weinstein >58), 18–72 tuổi; dừng sớm do lệnh y tế COVID | Marshall và cs., 2023 |
| b1-028 | Gộp 22 bộ dữ liệu khảo sát xã hội–âm học Nhật Bản (2000–2023) ở nhà riêng: phản ứng với ồn đường sắt (nhất là vùng phơi nhiễm cao) thấp hơn đường cong WHO 2018 và Hàn Quốc; với đường bộ, Nhật hơi cao hơn WHO ở mức thấp (khoảng 5% so với 2% ở Lnight 40 dB). | Đường sắt thường ở Lnight 60 dB: ~8% (Nhật) so với ~17% (WHO); đường bộ 40 dB: ~5% so với 2% | Người | Phân tích gộp dữ liệu cá nhân từ khảo sát cắt ngang; %HSD tự báo cáo chuẩn hoá điểm cắt ~72%; Lnight ngoài nhà (22:00–07:00) ước tính từ đo gần nguồn + suy giảm theo khoảng cách hoặc bản đồ ồn ASJ RTN-Model 2013 · Đường bộ 3.033; đường sắt thường 4.106; tàu cao tốc 3.644 người ở nhà riêng (phơi nhiễm ≥30 dB) | Morinaga và cs., 2025 |
| b1-029 | Trong dữ liệu Nhật, phản ứng với ồn đường bộ cao hơn có ý nghĩa ở các khảo sát sau năm 2010, còn phản ứng với Shinkansen thấp hơn; giới và tuổi nhìn chung không có ý nghĩa. | Định tính (hồi quy logistic, so trước/sau 2010) | Người | Như trên; hồi quy logistic có biến giới, 3 nhóm tuổi, giai đoạn khảo sát · Như trên | Morinaga và cs., 2025 |
| b1-043 | Nghiên cứu PSG phòng lab Thuỵ Điển: một đêm ồn tuabin gió điều biến biên độ ở 32 dB LAeq làm REM đến muộn hơn 16,8 phút và giảm REM 11,1 phút (−2,2%), nhưng hiệu suất ngủ, thời gian thức sau khi ngủ và số lần thức không khác có ý nghĩa; giấc ngủ tự báo cáo xấu hơn sau đêm ồn. | Hiệu suất ngủ 86,6% (chứng) so với 84,2%; WASO 45,2 so với 52,3 phút; số lần thức 11,4 so với 11,5 (đều không ý nghĩa) | Người | Thực nghiệm phòng lab, PSG + ECG + cortisol nước bọt; 3 đêm (1 làm quen, đêm chứng yên tĩnh và đêm ồn thứ tự ngẫu nhiên); ồn tuabin tổng hợp 32 dB LAeq, mô phỏng cửa sổ đóng và mở hé, điều biến biên độ thấp và cao · n = 50 (24 người sống gần tuabin, 26 người nhóm tham chiếu) | Smith và cs., 2020 (tóm tắt) |
| b1-046 | Phân tích lại dữ liệu Health Canada: tỉ lệ rối loạn giấc ngủ nặng tự báo cáo trung bình 13,3% và không liên quan Lnight tuabin; tỉ lệ HSD do riêng tuabin tăng từ 0% dưới 20,5 dB(A) lên 3,8% ở 35,5–41,5 dB(A); mốc 3% HSD đạt ở Lnight 33,5 dB(A). | HSD chung 13,3%; HSD do tuabin 0% → 3,8%; 3% HSD tại Lnight 33,5 dB(A) | Người | Phân tích lại khảo sát cắt ngang; HSD tự báo cáo; Lnight tuabin tính toán ngoài nhà; 5 nhóm mức · Mẫu Nghiên cứu Tiếng ồn tuabin gió và Sức khoẻ của Health Canada | Michaud và cs., 2025 |
| b1-047 | Hướng dẫn WHO 2018 đặt giá trị Lnight sao cho nguy cơ tuyệt đối rối loạn giấc ngủ nặng (%HSD) không vượt 3% (áp dụng được cho đường bộ, đường sắt); với tuabin gió, WHO không đưa ra khuyến nghị Lnight vì chất lượng bằng chứng về phơi nhiễm ban đêm quá thấp, chỉ có khuyến nghị có điều kiện Lden dưới 45 dB. | Mốc ≤3% HSD; tuabin gió: Lden < 45 dB (có điều kiện), không có Lnight | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Thuật lại hướng dẫn WHO 2018 (văn bản gốc, tóm tắt điều hành và mục 2.4.3) · Không áp dụng | WHO Regional Office for Europe, 2018 |
| b1-048 | Hướng dẫn WHO 2018 khuyến nghị mạnh Lnight ngoài nhà dưới 45 dB với đường bộ, dưới 44 dB với đường sắt và dưới 40 dB với máy bay. Mốc ≤3% HSD tương ứng với mức đường bộ và đường sắt; ở 40 dB, đường cong máy bay vẫn cho khoảng 10% HSD. | Đường bộ <45 dB; đường sắt <44 dB; máy bay <40 dB Lnight (ngoài nhà); mốc ≤3% HSD (đường bộ, đường sắt) | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Thuật lại hướng dẫn WHO 2018 (văn bản gốc, tóm tắt điều hành) · Không áp dụng | WHO Regional Office for Europe, 2018 |
| b1-049 | Thuần tập LIFE-Adult ở Leipzig: với ồn máy bay, tỉ lệ HSD ước tính tăng từ 1% ở Lnight 35 dB lên 32% ở 45 dB và 36% ở 55 dB, cao hơn nhiều so với đường WHO (15% ở 45 dB, 26% ở 55 dB); OR mỗi 10 dB là 19,66. | OR 19,66 (KTC 95% 11,47–33,71)/10 dB Lnight (máy bay) | Người | Phân tích cắt ngang trong thuần tập; câu hỏi riêng cho từng nguồn theo ISO/TS 15666 (5 mức, điểm ≥4 = HSD); Lnight mô hình hoá tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất cao 4 m, năm tham chiếu 2012; hiệu chỉnh tuổi, giới, chỉ số kinh tế–xã hội · n = 5.670 người lớn ở Leipzig (Đức) | Schubert và cs., 2023 |
| b1-050 | Trong LIFE-Adult, mốc 3% HSD với đường sắt đạt ở 53,1 dB Lnight (khoảng 51 dB với đường bộ và đường sắt), cao hơn mức 44–45 dB của WHO — tức phản ứng với đường sắt thấp hơn đường WHO. | 3% HSD: 53,1 dB (chỉ đường sắt); 51 dB (đường bộ + đường sắt) so với 45 dB (WHO) | Người | Như trên · n = 5.670 | Schubert và cs., 2023 |
| b1-051 | Hồng Kông: Lden tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất có trung vị 59 dB, cao hơn trung vị châu Âu (55 dB) khoảng 4 dB, với nhiều căn hộ ở dải 60–64 dB và ít căn hộ yên tĩnh dưới 55 dB; đường %HSD theo Lnight song song nhưng hơi thấp hơn đường Miedema–Vos của châu Âu. | %HSD = 22,64 − 1,1245·Lnight + 0,0148·Lnight² (42–69 dB, R² = 0,629); HSD ước tính 3,7–4,5% người lớn | Người | Khảo sát cắt ngang (tỉ lệ phản hồi 76%) + bản đồ ồn 3D (ISO 9613-2) tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất của 10.077 căn hộ; giấc ngủ tự báo cáo · 10.077 căn hộ (bản đồ); mẫu khảo sát người lớn Hồng Kông | Brown và cs., 2015 |
| b1-054 | Intermittency ratio (IR) là tỉ lệ năng lượng âm do các sự kiện vượt một ngưỡng đóng góp vào tổng liều, nhận giá trị 0–100%; giao thông liên tục từ đường cao tốc xa cho IR nhỏ, gần đường ray IR có thể gần 100%. | 0–100%; với đường bộ, IR cao dịch đường khó chịu tới ~6 dB | Người | Khảo sát SiRENE phần 2, phân tích khó chịu theo IR (không phải giấc ngủ) · Mẫu khảo sát SiRENE | Wunderli và Brink, 2019 |
| b1-056 | WHO 2009 cho rằng nhóm dễ tổn thương (trẻ em, người bệnh mạn tính, người cao tuổi) nhạy hơn với tác động ở khoảng 30–40 dB; trẻ em có ngưỡng thức giấc cao hơn người lớn nhưng phản ứng ngang hoặc hơn với các tác động khác; mức tạm thời 55 dB Lnight không bảo vệ được nhóm dễ tổn thương. | 30–40 dB Lnight,outside; mục tiêu tạm thời 55 dB; giá trị hướng dẫn 40 dB | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Hướng dẫn WHO · Không áp dụng | WHO Regional Office for Europe, 2009 |
| b1-062 | Tổng quan hệ thống và phân tích gộp (9 nghiên cứu, 5 được gộp): tiếng ồn tuabin gió không ảnh hưởng có ý nghĩa đến thời gian vào giấc, tổng thời gian ngủ, hiệu suất ngủ hay thời gian thức sau khi ngủ đo khách quan. | Hedges' g: vào giấc 0,03 (−0,34 đến 0,41); tổng ngủ −0,05 (−0,77 đến 0,67); hiệu suất −0,25 (−0,71 đến 0,22); WASO 1,25 (−2,00 đến 4,50); đều p > 0,05 | Tổng quan | Tổng quan hệ thống + phân tích gộp, chỉ nghiên cứu dùng công cụ đo giấc ngủ đã kiểm định (PSG, actigraphy); giấc ngủ chủ quan không gộp được · 9 nghiên cứu (5 gộp) | Liebich và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-064 | Ước tính cho thành phố Gwangju (Hàn Quốc): khoảng 5% tổng dân số bị rối loạn giấc ngủ nặng và 10% rất khó chịu do ồn đường bộ; mức ồn rất cao dọc các trục đường chính cả ngày lẫn đêm, chênh lệch ngày–đêm nhỏ. | ~5% HSD; ~10% rất khó chịu; dân số 1.471.944 | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Bản đồ ồn đô thị + đường liều–đáp ứng để ước tính gánh nặng (không đo giấc ngủ trực tiếp) · Toàn dân số thành phố (1.471.944) | Park và cs., 2018 (tóm tắt) |
| b1-075 | Hướng dẫn enHealth của Úc (2018) nêu giới hạn dựa trên bằng chứng là 55 dB(A) Leq,night tại mặt tiền — cao hơn nhiều so với 40 dB Lnight của WHO 2009 và 40–45 dB của WHO 2018. | 55 dB(A) Leq,night tại mặt tiền | Hướng dẫn, tiêu chuẩn | Tài liệu hướng dẫn y tế công cộng · Không áp dụng | enHealth, 2018 |
| b1-078 | Khảo sát hộ gia đình ngẫu nhiên ở Hồng Kông có đo ồn ban đêm bằng liều kế và actigraphy 1 tuần: độ nhạy cảm với tiếng ồn (thang Weinstein) đi kèm giấc ngủ không phục hồi (nonrestorative sleep) nhiều hơn; tiếng ồn ban đêm đo được đi kèm thời gian nằm trên giường ngắn hơn. | Mỗi đơn vị nhạy cảm: +0,08 điểm ngủ không phục hồi (KTC 95% 0,01–0,15; p = 0,023); ồn đêm và thời gian trên giường b = −1,65 (−2,77 đến −0,52; p = 0,004) | Người | Cắt ngang; liều kế âm ban đêm 1 tuần (đo thực tế), actigraphy, thang Nonrestorative Sleep Scale; hồi quy đa biến (thu nhập hộ, mùa, tập luyện, hỗ trợ xã hội, triệu chứng cơ thể, stress, trầm cảm) · n = 500 người lớn (66,4% nữ, tuổi trung bình 39), Hồng Kông | Li và cs., 2021 (tóm tắt) |
| b1-082 | Bài bình duyệt của Health Canada: cả giấc ngủ tự báo cáo (PSQI) lẫn actigraphy (707 người, 4.371 đêm) đều không có quan hệ có ý nghĩa với mức ồn tuabin ngoài nhà tới 46 dB(A); giấc ngủ liên quan với dùng thuốc ngủ, bệnh lý khác và sự khó chịu với đèn nhấp nháy của tuabin. | Mức ồn tuabin trung bình 35,6 dB(A) (SD 7,4), tối đa 46 dB(A); actigraphy 707 người, 4.371 đêm | Người | Cắt ngang; phỏng vấn + Actiwatch2 7 ngày; PSQI; mức ồn tính toán ngoài nhà (trung bình dài hạn cao nhất, không phải mức trong lúc ngủ) · n = 1.238 phỏng vấn (78,9%), 18–79 tuổi, sống cách tuabin 0,25–11,22 km | Michaud và cs., 2016 (tóm tắt) |
| b1-087 | Trong SiRENE, hiệu ứng tổng thể của mức đô thị hoá không có ý nghĩa, nhưng các so sánh từng cặp với máy bay cho thấy cư dân nông thôn có HSD cao hơn thị trấn/ngoại ô và thành phố ở cùng Lnight; với đường bộ, người dùng thuốc có HSD cao hơn tương đương khoảng 8 dB; giờ ngủ, thời lượng ngủ, mùa khảo sát và nhiệt độ đêm không điều chỉnh có ý nghĩa. | Dùng thuốc ≈ 8 dB tương đương (chỉ đường bộ) | Người | Khảo sát cắt ngang; phân tích yếu tố điều chỉnh · n = 5.592 | Brink và cs., 2019 |
Tiếng ồn đêm và sức khoẻ: vai trò của giấc ngủ#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-060 | Hai thuần tập châu Âu: ở trẻ ~12 tuổi, mỗi 10 dB Lden đường bộ tăng thêm đi kèm tổng thời gian ngủ đo bằng actigraphy ngắn hơn 3,62 phút và thời gian thức sau khi ngủ dài hơn 6,88 phút, nhưng không đi kèm rối loạn giấc ngủ do mẹ báo cáo. | TST −3,62 phút (KTC 95% −6,87 đến −0,37); WASO +6,88 phút (1,15 đến 12,61) mỗi 10 dB | Người | Cắt ngang trong hai thuần tập sinh (Generation R – Hà Lan; INMA-Sabadell – Tây Ban Nha); actigraphy cổ tay GeneActiv 7 ngày + thang Sleep Disturbance Scale for Children do mẹ trả lời; Lden mô hình từ bản đồ ồn năm trước; hồi quy tuyến tính và Poisson hiệu chỉnh nhiều biến gây nhiễu · n = 1.245 (Generation R) + 232 (INMA-Sabadell), tuổi trung bình 12,3 | Pérez-Crespo và cs., 2023 (tóm tắt) |
| b1-061 | Thuần tập MoBa ở Oslo: ồn đường bộ ban đêm (mô hình ngoài nhà) đi kèm thời lượng ngủ ngắn hơn (do cha mẹ báo cáo) ở bé gái nhưng không ở bé trai; với toàn mẫu và với vấn đề giấc ngủ, liên quan không có ý nghĩa. | Bé gái OR 1,21 (1,04–1,41)/10 dB; toàn mẫu OR 1,05 (0,94–1,17); vấn đề giấc ngủ OR 1,09 (0,80–1,50) | Người | Cắt ngang trong thuần tập; thời lượng ngủ và vấn đề giấc ngủ do cha mẹ báo cáo; mức ồn đường bộ tối/đêm mô hình hoá tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất; hiệu chỉnh thu nhập hộ, mùa, mức đô thị, học vấn mẹ, dân tộc, loại nhà · n = 2.665 trẻ 7 tuổi, Oslo | Weyde và cs., 2017 |
Cách âm cửa sổ, quy hoạch và đo tiếng ồn#
| Mã | Dữ kiện | Giá trị | Loại | Phương pháp, cỡ mẫu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| b1-086 | Tại một tuyến đường thu phí ở Nara (Nhật), Lnight giảm 5–10 dB sau khi lắp tường chắn âm, và số thức giấc/năm ước tính bằng mô hình tiềm năng thức giấc gần như bằng 0 ở mọi điểm đo. | Lnight −5 đến −10 dB | Đo đạc, thử thiết bị, mô hình | Đo ồn 01:00–04:00 trước (11/2007) và sau (2/2008) khi lắp tường chắn; áp mô hình tiềm năng thức giấc · Các điểm đo dọc Daini Hanna Toll Road | Tagusari và cs., 2016 |
Viết tắt trong trang
- AASM
- Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
- BMI
- chỉ số khối cơ thể (body mass index)
- ECG
- điện tâm đồ (electrocardiography)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- NREM
- giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- PVT
- bài kiểm tra cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- TST
- tổng thời gian ngủ (total sleep time)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục A. Dữ kiện: phản ứng sinh lý. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/phu-luc-a-du-kien-b1/