giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Cách âm cửa sổ, quy hoạch và đo tiếng ồn

Chương 8 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 19 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi các can thiệp ở mức ngôi nhà và đô thị làm giảm tiếng ồn trong phòng ngủ được bao nhiêu, và giấc ngủ có thay đổi theo không. Số đo thực địa cho thấy trạng thái cửa sổ tạo khác biệt lớn: chênh lệch giữa mặt tiền và trong phòng vào khoảng 10 dB(A) khi mở, 16 dB(A) khi hé và 28 dB(A) khi đóng. Bằng chứng nối các can thiệp này với giấc ngủ lại mỏng. Tổng quan làm nền cho hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) chỉ tìm được 2 nghiên cứu cách âm có kết cục giấc ngủ, đều tự báo cáo. Phần cuối chương trình bày cách đo theo quy chuẩn Việt Nam và giới hạn của ứng dụng điện thoại ở mức ồn thấp của phòng ngủ. Chương kết bằng những gì một phép đo phòng ngủ cần ghi lại để so được với các con số trong tập này.

Chương không tư vấn mua cửa, kính hay thiết bị đo; nguồn từ nhà sản xuất chỉ được dùng cho định nghĩa. Các chỉ số ban đêm được giải thích ở trang Lnight ngoài nhà và ồn trong phòng ban đêm.

Cửa sổ và mặt tiền#

Cửa sổ mở, hé và đóng#

Locher và cộng sự đo đồng thời ngoài mặt tiền và trong phòng ở 157 phòng thuộc 102 toà nhà tại Thuỵ Sĩ, nơi tiếp xúc ồn giao thông đường bộ (Locher và cs., 2018). Mỗi kịch bản cửa sổ được đo 3 phút. Số phép đo hợp lệ là 115 khi mở, 116 khi hé và 76 khi đóng. Trung vị chênh lệch ngoài–trong là 10,0 ± 2,9 dB(A) khi mở cửa sổ, 15,8 ± 2,7 dB(A) khi hé và 27,8 ± 4,4 dB(A) khi đóng. Nghiên cứu do Văn phòng Môi trường Liên bang Thuỵ Sĩ (FOEN) tài trợ.

Hình 1. Cửa sổ mở, hé, đóng: tường và kính chặn được bao nhiêu tiếng ồn giao thông

  1. Đo đồng thời trong và ngoài nhà ở 102 toà nhà Thuỵ Sĩ: chênh lệch trung vị 10,0 dB(A) khi mở, 15,8 khi hé và 27,8 khi đóng cửa sổ (Locher và cs.).
  2. Hướng dẫn thiết kế AVO của Anh giả định cửa sổ mở một phần tạo chênh lệch 13 dB ở bước đánh giá sơ bộ.

Biểu đồ số liệu; ô không tô là giá trị giả định trong hướng dẫn, không phải số đo.

"Hé" ở đây là kiểu cửa sổ châu Âu lật nghiêng quanh bản lề dưới, khác cửa trượt phổ biến ở nhà phố Việt Nam. Nghiên cứu chỉ đo ồn đường bộ. Theo suy luận của chúng tôi SL, mức chênh khi đóng phụ thuộc nhiều vào loại cửa và độ kín khe, nên con số 27,8 dB(A) không chuyển thẳng sang một cửa nhôm kính trượt.

Hướng dẫn thiết kế nhà ở Âm học, Thông gió và Quá nhiệt (Acoustics, Ventilation and Overheating, AVO) của hai hiệp hội nghề nghiệp Anh dùng một giả định khác (ANC và IOA, 2020). Ở bước đánh giá sơ bộ, hướng dẫn giả định cửa sổ mở một phần, với lỗ mở khoảng 2% diện tích sàn, tạo chênh lệch ngoài–trong 13 dB. Hướng dẫn cũng cảnh báo không áp dụng máy móc con số này cho mọi trường hợp.

Như vậy, 13 dB của hướng dẫn nằm giữa 10 dB(A) khi mở và 16 dB(A) khi hé trong số đo Thuỵ Sĩ. Nguyên nhân khả dĩ của độ lệch là định nghĩa "mở một phần" khác nhau, kiểu cửa, diện tích lỗ mở và mức hấp thụ âm của phòng. Hai con số không mâu thuẫn về hướng, nhưng cho thấy một giá trị thiết kế chỉ là điểm xuất phát.

Một phát hiện ngược trực giác đến từ khảo sát SiRENE ở Thuỵ Sĩ trên 5.592 người (Brink và cs., 2019). Trong khảo sát này, vị trí cửa sổ phòng ngủ khi ngủ, mở hay đóng, không làm thay đổi đường liên quan giữa Lnight và tỉ lệ rối loạn giấc ngủ nặng tự báo cáo (%HSD). Lnight ở đây được tính tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất, không phải trong phòng. Theo chúng tôi SL, điều này có thể do người ở nhà ồn hơn đã đóng cửa sẵn, hoặc do sai số khi gán mức ngoài nhà cho phòng ngủ.

Rw, C và Ctr trên tài liệu kính#

Cửa và kính thường được công bố bằng chỉ số cách âm có trọng số Rw theo ISO 717-1. Kèm theo là hai số hạng hiệu chỉnh phổ: C cho tiếng ồn hồng và Ctr cho tiếng ồn giao thông (Saint-Gobain Building Glass UK, 2018). Ctr dùng cho ồn đường đô thị, đầu máy tốc độ thấp và ồn tần số thấp đến trung. Vì ồn giao thông giàu tần số thấp, Rw + Ctr thường thấp hơn Rw vài dB.

Tài liệu nêu ví dụ một bộ kính hộp 4–20–6 có Rw 35 dB, C −1 dB và Ctr −5 dB, nên Rw + Ctr = 30 dB. Nguồn này là nhà sản xuất kính, có lợi ích thương mại; chúng tôi chỉ dùng nó cho định nghĩa, không để so sản phẩm. Theo chúng tôi SL, với ồn xe cộ, Rw + Ctr phản ánh mức cách âm sát thực tế hơn Rw đơn thuần. Mức cách âm khi lắp đặt còn phụ thuộc khung, khe hở và lỗ thông gió, vốn không nằm trong Rw của tấm kính. Ồn tần số thấp được bàn thêm ở trang ồn tần số thấp.

Đánh đổi giữa nóng và ồn#

Hướng dẫn AVO đặt mục tiêu cho phòng ngủ ban đêm theo hai chỉ số cùng lúc (ANC và IOA, 2020). Mức nền là LAeq,8h 30 dB. Sự kiện đơn lẻ thường không vượt LAF,max 45 dB quá 10 lần mỗi đêm. Cách đặt mục tiêu theo cả mức tương đương và số sự kiện đỉnh hữu ích để tham khảo, dù các mức này áp dụng cho Anh.

Cùng hướng dẫn thừa nhận rằng khi phải mở cửa sổ, người ở phải chọn giữa tiện nghi âm học và chất lượng không khí hay tiện nghi nhiệt. Họ không có cả hai cùng lúc. Hướng dẫn ghi chưa có nghiên cứu riêng về phơi nhiễm đồng thời nóng và ồn. Theo chúng tôi SL, đánh đổi này còn rõ hơn ở khí hậu nóng ẩm Việt Nam, nơi đóng cửa sổ ban đêm thường đi kèm điều hoà. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu đo đồng thời ồn, nhiệt và giấc ngủ ở Việt Nam.

Khi cửa đóng và thiết bị trong nhà chạy, chính thiết bị cũng tạo nền âm. Ở Philadelphia, LAeq trong phòng ngủ trong thời gian ngủ có trung vị 43,2 dBA ở nhà gần sân bay và 31,8 dBA ở vùng chứng (Basner và cs., 2019). Ở 46% số nhà gần sân bay, có những khoảng âm máy bay bị che bởi tiếng nền cao của máy sưởi, máy điều hoà hay quạt. Điều này làm phép đo phơi nhiễm trong phòng khó tách nguồn. Cơ chế che âm được bàn ở chương về nút tai và âm nền.

Bố trí nhà và can thiệp đô thị#

Phòng ngủ quay về phía yên tĩnh#

Van Renterghem và Botteldooren khảo sát 100 người ở Ghent (Bỉ), sống trong nhà có mặt tiền ồn Lden (mức ngày–tối–đêm có trọng số) 65–75 dBA (Van Renterghem và Botteldooren, 2012). "Phía yên tĩnh" được định nghĩa là mặt nhà thấp hơn mặt tiền trước ít nhất 20 dBA. Khoảng 20% người trả lời có phòng ngủ ở phía yên tĩnh. Phơi nhiễm lấy từ bản đồ tiếng ồn giao thông của vùng Flanders, tức là mô hình, không phải đo. Giấc ngủ là tự báo cáo qua phỏng vấn trực tiếp. Nghiên cứu do chương trình LIFE+ của Liên minh châu Âu tài trợ.

Phòng ngủ phía yên tĩnh đi kèm xác suất dự đoán khó vào giấc giảm từ 23% xuống 5%. Nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (OR 5,5; KTC 95% 0,7–44,1; p = 0,07 theo χ² và 0,11 theo mô hình). Tỉ lệ tự báo cáo thức giấc ít nhất thỉnh thoảng là 38% ở người ngủ phía ồn và 25% ở phía yên tĩnh (OR 1,8; KTC 95% 0,6–5,5; p = 0,29). Riêng khó chịu vì ồn thì giảm rõ, từ 45% xuống 10% (OR hiệu chỉnh 10,6; KTC 95% 2,0–56,0). Mô hình khó vào giấc không hiệu chỉnh biến nào, kể cả ô nhiễm không khí hay thu nhập.

Tổng quan làm nền cho hướng dẫn WHO 2018 lại mô tả khác biệt về khó vào giấc này là có ý nghĩa thống kê, dù khoảng tin cậy chứa 1 (Brown và Van Kamp, 2017). Nguyên nhân khả dĩ là tổng quan dùng kiểm định khác hoặc diễn giải sai. Với mẫu khoảng 100 người, chúng tôi đọc kết quả gốc là chưa kết luận được về giấc ngủ, và rõ ràng về khó chịu. Đây cũng là ví dụ về việc khó chịu và rối loạn giấc ngủ tự báo cáo là hai kết cục khác nhau.

Khảo sát SiRENE cho tín hiệu cùng hướng ở quy mô lớn hơn (Brink và cs., 2019). Phòng ngủ quay khỏi con đường gần nhất đi kèm mức rối loạn tự báo cáo thấp tương đương giảm gần 20 dB. Chênh lệch với mặt yên tĩnh đi kèm mức rối loạn ít hơn tương đương 10–15 dB. Đây vẫn là quan sát cắt ngang với giấc ngủ tự báo cáo.

Tường chắn âm#

Ở một tuyến đường thu phí tại Nara (Nhật Bản), Lnight giảm 5–10 dB sau khi lắp tường chắn âm (Tagusari và cs., 2016). Mức ồn được đo từ 01:00 đến 04:00, trước (11/2007) và sau (2/2008) khi lắp. Số thức giấc mỗi năm, ước tính bằng mô hình tiềm năng thức giấc, gần như bằng 0 ở mọi điểm đo sau khi lắp. Đây là ước tính mô hình từ 3 giờ đo mỗi giai đoạn, không phải số đo giấc ngủ.

Cấm bay đêm ở Frankfurt#

Sân bay Frankfurt áp dụng lệnh cấm bay đêm 23:00–05:00 (Müller và cs., 2016). Nghiên cứu NORAH đo đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) tại nhà trước và sau lệnh cấm, ở 49 người năm 2011 và 83 người năm 2012, mỗi người 3 đêm liên tiếp. PSG ghi điện não, cử động mắt và trương lực cơ, nên thấy được thức giấc mà người ngủ không nhớ. Kết luận là số lần thức giấc do máy bay giảm, và người đi ngủ sớm hưởng lợi nhiều nhất.

Bản kỷ yếu chúng tôi đọc không nêu con số thức giấc trước và sau. Lệnh cấm vẫn để chuyến bay ở các khung 22–23 giờ và 5–6 giờ. NORAH do Gemeinnützige Umwelthaus GmbH/Forum Flughafen & Region tài trợ. Trung tâm Hàng không Vũ trụ Đức (DLR) có thoả thuận hợp tác với Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA), và hai đồng tác giả được chương trình ASCENT của FAA tài trợ.

Một so sánh với sân bay Cologne/Bonn, nơi không cấm bay đêm, cho kết quả hai mặt (Müller và cs., 2017). Ở Cologne/Bonn, xác suất thức giấc do máy bay cao hơn 3,8–7,5% ở LAmax trong nhà 30–70 dB(A). Nhưng khó chịu vì ồn máy bay ban đêm ở Frankfurt lại tăng đáng kể sau lệnh cấm. Nguyên nhân khả dĩ là đường băng mới và ồn ở các khung giờ sát lệnh cấm; chúng tôi chưa thấy số liệu kiểm định giả thuyết này. Khó chịu và thức giấc trên PSG một lần nữa đi theo hai hướng khác nhau.

Sau khi đánh giá NORAH, Cơ quan Môi trường Liên bang Đức (UBA) khuyến nghị ngừng bay thường lệ ở mọi sân bay từ 22:00 đến 06:00 (Umweltbundesamt, 2016). UBA cũng đề nghị bổ sung tiêu chí mức đỉnh. Cơ quan này ghi nhận rằng ở cùng mức trung bình, khó chịu vì ồn máy bay đã tăng liên tục trong mười năm. Đây là thuật lại khuyến nghị của một cơ quan nhà nước Đức, đúng như văn bản.

Tổng quan WHO về can thiệp giảm ồn giao thông#

Brown và Van Kamp tìm được 43 nghiên cứu can thiệp tiếng ồn giao thông: 33 về đường bộ, 7 về hàng không, 3 về đường sắt (Brown và Van Kamp, 2017). Can thiệp được chia thành năm nhóm, từ giảm tại nguồn, cách âm nhà hay tường chắn, đến phía yên tĩnh và giáo dục. Khác biệt giữa các nghiên cứu quá lớn nên không gộp được. Đa số nghiên cứu đơn lẻ có nguy cơ sai lệch cao. Tổng quan do Văn phòng WHO khu vực châu Âu tài trợ, có hỗ trợ của FOEN Thuỵ Sĩ.

Chỉ 2 nghiên cứu can thiệp trên đường truyền, như cách âm nhà, có kết cục giấc ngủ. Cả hai ghi tỉ lệ người tự báo cáo ngủ bị xáo trộn thấp hơn sau can thiệp; một nghiên cứu có kiểm định thống kê, một không. Ở một nghiên cứu, thay đổi giữ nguyên sau 2 năm. Không nghiên cứu nào có số liệu giấc ngủ đo khách quan, và tổng quan không tách riêng can thiệp cửa sổ.

Tổng quan cũng ghi rằng các nghiên cứu theo dõi dài hơn không cho thấy bằng chứng thích nghi trong ít nhất vài năm: thay đổi kết cục không mất đi. Với khó chịu do ồn đường bộ, đa số nghiên cứu thấy thay đổi lớn hơn mức dự báo chỉ từ thay đổi mức ồn. Phần "không thích nghi" chủ yếu là kết cục khó chịu, không phải giấc ngủ đo khách quan, và chúng tôi chưa đối chiếu nguyên văn đoạn này.

Can thiệpNghiên cứuChỉ số âm, vị tríGiấc ngủ đo bằngKết quả về giấc ngủTài trợ
Cửa sổ mở/hé/đóngLocher và cs., 2018dB(A), ngoài mặt tiền và trong phòng, đo thậtKhông đoKhông áp dụng; chênh 10,0 / 15,8 / 27,8 dB(A)FOEN
Phòng ngủ phía yên tĩnhVan Renterghem và Botteldooren, 2012Lden 65–75 dBA, bản đồ mô hìnhTự báo cáoKhó vào giấc 23% → 5%, không có ý nghĩaLIFE+ (EU)
Tường chắn âmTagusari và cs., 2016Lnight, đo 3 giờKhông đo; ước tính mô hìnhLnight giảm 5–10 dBKhông ghi trong dữ kiện
Cấm bay đêm 23:00–05:00Müller và cs., 2016LAmax trong nhàPSG tại nhà, 3 đêmThức giấc do máy bay giảm (định tính)Umwelthaus/Forum Flughafen & Region
Cách âm nhàBrown và Van Kamp, 2017Nhiều chỉ sốTự báo cáo, 2 nghiên cứuXáo trộn tự báo cáo giảmVăn phòng WHO châu Âu

Đo tiếng ồn: quy chuẩn, máy đo và điện thoại#

QCVN 26:2025 quy định đo thế nào#

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn hiện hành là QCVN 26:2025/BNNMT, ban hành kèm Thông tư 01/2025/TT-BNNMT ngày 15/5/2025 và thay QCVN 26:2010/BTNMT (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025). Quy chuẩn có hiệu lực từ 14/11/2025. Phép đo theo TCVN 7878-1:2018 (ISO 1996-1:2016) và TCVN 7878-2:2018 (ISO 1996-2:2017). Đo kiểm tuân thủ phải dùng máy đo lớp 1 theo TCVN 12527-1:2018.

Khi đo trong nhà, vị trí đo cách tối thiểu 1 m tới các bề mặt có thể phản xạ; ngoài trời là 3,5 m. Micro đặt cao 1,2–1,5 m. Mỗi lần đo liên tục ít nhất 15 phút. Không đo khi mưa hay gió từ cấp 4 (≥ 5,5 m/s). Ban đêm được tính từ 22:00 đến trước 06:00. Một trang tóm tắt luật ghi ban đêm là 21:00–06:00, khác văn bản gốc; chúng tôi theo văn bản gốc.

Ba điểm quan trọng cho phòng ngủ nằm ở chỗ quy chuẩn không nói. Văn bản không quy định cửa đóng hay mở khi đo trong nhà. Quy chuẩn không có giới hạn tiếng ồn trong phòng ngủ hay trong nhà ban đêm, và không có giới hạn LAmax. Bảng 3 chỉ đặt giới hạn cho tiếng ồn phát từ trong công trình ra ngoài, ví dụ 45 dBA ban đêm cho các khu A, B, C.

Như vậy, một phép đo trong phòng ngủ hiện không có giới hạn quy chuẩn nào để đối chiếu. Quy định xử phạt và cách thực thi được trình bày ở chương về tiếng ồn ở Việt Nam và châu Á.

Máy đo lớp 1 và lớp 2#

Lớp chính xác của máy đo mức âm do tiêu chuẩn IEC 61672-1 quy định. Theo bản IEC 61672-1:2002 do một hãng bán máy đo thuật lại, dung sai ở 1 kHz là ±1,1 dB với máy lớp 1 và ±1,4 dB với lớp 2 (Tolliday, không ghi năm). Ở 20 Hz, giới hạn là ±2,5 dB và ±3,5 dB. Nguồn này là trang của một hãng bán máy đo, tác giả làm marketing, và trang gọi bản 2002 là hiện hành dù bản hiện hành là 2013. Chúng tôi chưa kiểm được giới hạn tương ứng trong bản 2013.

Ứng dụng đo ồn trên điện thoại#

Phòng ngủ yên tĩnh có mức nền thấp: hướng dẫn AVO đặt mục tiêu LAeq,8h 30 dB, và mức 30 dB(A) LAeq trong phòng ngủ thường được dẫn là mức của WHO, dù tập này chưa đối chiếu văn bản WHO tương ứng. Câu hỏi là điện thoại có đo được ở dải này không. Bằng chứng hiện có trả lời là không chắc, và phần lớn phép thử không thử ở dải này.

Nhóm của Viện Quốc gia về An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp Mỹ (NIOSH) khảo sát 192 ứng dụng iOS và Android năm 2014 (Kardous và Shaw, 2016). Theo bài năm 2016 thuật lại, không ứng dụng Android nào đạt tiêu chí thử ban đầu, và 4 ứng dụng iOS nằm trong ±2 dB. Với micro trong của điện thoại, độ lệch trung bình là 1,6 ± 3,8 dB, phạm vi −14 đến 11,3 dB. Năm 2016, 4 ứng dụng iOS dùng micro ngoài đã hiệu chuẩn đo trong khoảng ±1 dB ở dải 65–95 dB, lệch trung bình −0,02 ± 0,53 dB.

Tác giả là nhân viên NIOSH, cơ quan cũng phát triển một ứng dụng đo âm. Bài tự nêu không kiểm tuyến tính, tính định hướng, trọng số tần số hay điều kiện môi trường như IEC 61672 yêu cầu, nên ±1 dB không tương đương chứng nhận lớp 1 hay lớp 2. Mức thấp nhất được thử là 65 dB.

Một bài khác của nhóm NIOSH đánh giá ứng dụng do chính nhóm phát triển, dùng với micro ngoài đã hiệu chuẩn (Celestina và cs., 2018). Ứng dụng đáp ứng phần lớn, nhưng không phải toàn bộ, yêu cầu lớp 2 của IEC 61672 và ANSI S1.4-2014. Không điện thoại nào dùng micro trong được chứng nhận lớp 1 hay lớp 2.

Hai nghiên cứu của Serpanos và cộng sự thử trực tiếp ở mức thấp, mỗi nghiên cứu trên một điện thoại iOS. Năm 2018, ba ứng dụng đều ước lượng thừa tiếng ồn nền phòng dưới 50 dB, dù hiệu chuẩn hay không (Serpanos và cs., 2018). Năm 2021, hai ứng dụng khác đo cao hơn thực tế khi mức âm dưới 40 dB(A), cũng dù hiệu chuẩn hay không (Serpanos và cs., 2021). Ở mức từ 40 dB(A) trở lên, bản đã hiệu chuẩn chính xác hơn rõ.

Murphy và King thử 100 điện thoại trong phòng vang, tổng cộng 1.472 lần đo (Murphy và King, 2016). Ứng dụng trên iOS tốt hơn Android, và máy càng cũ đo càng kém. Một ứng dụng nằm trong ±1 dB ở cả bốn điều kiện, kể cả điều kiện nền, nhưng tóm tắt không báo mức nền và sai số riêng cho điều kiện này.

Khan và cộng sự thử 10 ứng dụng Android với âm đơn ở 25, 40 và 85 dB, và thấy R² so với một máy đo môi trường không rõ cấp chính xác IEC từ 0,85 đến 0,98 (Khan và cs., 2025). Nhưng R² đo mức tương quan, không đo độ lệch tuyệt đối: một ứng dụng lệch đều +8 dB vẫn có R² cao. Tác giả nêu việc thiếu trọng số A là rào cản cho mục đích pháp lý.

Nghiên cứuThiết bị thửDải mức thửKết quả ở mức thấpLưu ý
Kardous và Shaw, 2016 (khảo sát 2014)192 ứng dụng, micro trongKhông ghi trong dữ kiệnKhông báo riêng0 ứng dụng Android đạt; 4 ứng dụng iOS trong ±2 dB
Kardous và Shaw, 20164 ứng dụng iOS, micro ngoài65–95 dBKhông thử±1 dB; tác giả thuộc NIOSH
Celestina và cs., 20181 ứng dụng, micro ngoàiPhép thử IEC 61672Không báo riêngPhần lớn yêu cầu lớp 2; nhóm tự đánh giá ứng dụng của mình
Serpanos và cs., 20183 ứng dụng iOS, 1 điện thoại20–100 dBƯớc lượng thừa dưới 50 dBTiêu chí đạt ±2 dB
Serpanos và cs., 20212 ứng dụng iOS, 1 điện thoại20–100 dB SPLƯớc lượng thừa dưới 40 dB(A)Có và không hiệu chuẩn đều thừa
Murphy và King, 2016100 điện thoạiNền; 50, 70, 90 dB(A)Không báo riêngMáy cũ đo kém hơn
Khan và cs., 202510 ứng dụng Android, 1 điện thoại25–85 dBR² 0,85–0,98R² không phải sai số dB

Các phép thử khác nhau ở tín hiệu, dải mức và chỉ số đánh giá, nên không gộp được. Nguyên nhân khả dĩ của kết quả kém ở mức thấp là sàn nhiễu của micro điện thoại. Theo chúng tôi SL, ở mức 30 dB(A) của phòng ngủ yên tĩnh, số đọc từ ứng dụng điện thoại có thể cao hơn thực tế và không dùng được để so với ngưỡng. Sai số của máy đo giá rẻ được bàn thêm ở trang sai số máy đo rẻ.

Một phép đo phòng ngủ ở Việt Nam cần ghi lại gì#

Các số đo tiếng ồn ban đêm ở Việt Nam mà chúng tôi tìm được đều là số đo ven đường. Theo một bài báo năm 2018, khảo sát của Viện Sức khoẻ Nghề nghiệp và Môi trường ở 12 tuyến đường chính tại Hà Nội ghi mức ồn đêm 65,3–75,7 dBA (Viet Nam News, 2018). Bài không nêu phương pháp và năm đo. Ở thị trấn Tân Túc (TP.HCM), một nghiên cứu đo 24 điểm trên 5 tuyến đường, máy đặt cao 1,2 m, cách mép đường 1 m (Vũ Khắc Minh Đăng và cs., 2022). Mỗi điểm đo các mẫu 15 phút, bằng máy cấp thấp, không tách ngày và đêm.

Những con số này cho biết mức ồn ở lề đường, không cho biết mức trong phòng ngủ. Mẫu 15 phút bằng máy cấp thấp cũng không tương đương LAeq đêm theo quy chuẩn. Dựa trên các nguồn trong chương, chúng tôi SL cho rằng một phép đo phòng ngủ muốn so được với các con số của tập này cần ghi đủ các mục sau.

  • Chỉ số. Ghi LAeq cho cả khung đêm, LAmax của từng sự kiện và số sự kiện vượt một mức đỉnh, như cách hướng dẫn AVO đặt mục tiêu. Một con số dB không kèm chỉ số không so được với con số khác.
  • Vị trí. Ghi rõ đo trong phòng cạnh giường hay ngoài mặt tiền. Nếu đo trong phòng, ghi khoảng cách tới tường và độ cao micro, đối chiếu với mức 1 m và 1,2–1,5 m của QCVN 26:2025.
  • Trạng thái cửa. Ghi cửa sổ mở, hé hay đóng, và kiểu cửa (trượt, mở quay, lật). Trong số đo Thuỵ Sĩ, trung vị chênh lệch ngoài–trong đi từ 10,0 dB(A) khi mở lên 27,8 dB(A) khi đóng.
  • Nguồn nền trong phòng. Ghi quạt, điều hoà, tủ lạnh có chạy hay không. Ở Philadelphia, các nguồn này che âm máy bay ở 46% số nhà gần sân bay.
  • Khung giờ và thời lượng. Ghi giờ bắt đầu và kết thúc. QCVN 26:2025 tính đêm từ 22:00 đến trước 06:00 và yêu cầu đo liên tục ít nhất 15 phút; LAeq cả đêm cần thời lượng dài hơn nhiều.
  • Thiết bị và hiệu chuẩn. Ghi máy đo lớp 1, lớp 2 hay ứng dụng điện thoại, và đã hiệu chuẩn chưa. Ở dưới 40–50 dB, các ứng dụng trong hai phép thử của Serpanos và cộng sự, mỗi phép thử trên một iPhone, đo cao hơn thực tế.
  • Thời tiết. Ghi mưa và gió, vì quy chuẩn không cho đo khi mưa hay gió từ cấp 4.

Danh sách này là tổng hợp của chúng tôi từ các nguồn đã dẫn, không phải một quy trình chính thức. Nó cũng không đo giấc ngủ. Muốn biết tiếng ồn có làm thức giấc hay không, cần đo giấc ngủ đồng thời với âm, như trình bày ở trang đo giấc ngủ.

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm cách âm cửa sổ hay mặt tiền có đo giấc ngủ bằng PSG hoặc actigraphy. Tổng quan WHO chỉ có 2 nghiên cứu, với giấc ngủ tự báo cáo.
  • Chúng tôi chưa tìm được số đo Rw hay Ctr thực tế của cửa nhôm kính, cửa trượt phổ biến ở nhà phố Việt Nam. Chênh lệch giữa Rw trong phòng thí nghiệm và cách âm khi lắp đặt cũng chưa rõ.
  • Chúng tôi chưa đọc được văn bản gốc ISO 1996-2:2017 về vị trí micro trong phòng. QCVN 26:2025 không quy định cửa đóng hay mở khi đo trong nhà, và cũng không đặt giới hạn tiếng ồn trong phòng ngủ.
  • Chúng tôi chưa kiểm được giới hạn dung sai lớp 1 và lớp 2 trong bản IEC 61672-1:2013 hiện hành.
  • Chưa có phép thử ứng dụng điện thoại nào báo sai số dB riêng cho dải 30–45 dB(A) của phòng ngủ trong các nguồn chúng tôi đọc được.
  • Chúng tôi không mở được toàn văn NORAH để lấy con số thức giấc trước và sau lệnh cấm bay đêm Frankfurt.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu ở Việt Nam về cách âm cửa sổ hay ứng dụng đo ồn liên quan giấc ngủ. Chúng tôi cũng chưa tìm được số liệu quan trắc ồn đêm chính thức có phương pháp rõ ràng, hay bản đồ tiếng ồn đô thị đã công bố.

Viết tắt trong trang

KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Cách âm cửa sổ, quy hoạch và đo tiếng ồn. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/cach-am-cua-so-va-do-tieng-on/